Thái Y Lâm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thái Y Lâm
蔡依林
Sinh Thái Y Linh[1]
15 tháng 9, 1980 (37 tuổi)
Tân Trang, Tân Bắc, Đài Loan
Tên khác Jolin Tsai
Dân tộc Hán (1/4 Papora)
Học vị Cử nhân
Học vấn Đại học Công giáo Phụ Nhân
Nghề nghiệp Ca sĩ, Thiết Kế Thời Trang
Đại lý

Eternal Music Production Co., Ltd  Đài Loan

BAIYU MEDIA CORPORATION Cờ Trung Quốc Trung Quốc
Tài sản tăngUS$7.65 miillion (2015)[2]
Chiều cao 156 cm (5 ft 1 in)
Cân nặng 41 kg (90 lb)
Người tình

(Người Yêu Cũ) Châu Kiệt Luân

(Bạn Trai Cũ) Cẩm Vinh
Gia đình

Em gái: Thái Mân Văn

Mẹ: Hoàng Xuân Mĩ

Cha: Thái Trụ Trần
Website warnermusic.com.tw/jolin-tsai
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại Pop, Nhạc điện tử
Năm hoạt động 1999 - nay
Hãng đĩa Warner

Thái Y Lâm (sinh ngày 15 tháng 9 năm 1980) là nữ ca sĩ, vũ công nổi tiếng người Đài Loan[3][4]. Thái Y Lâm từng đạt giải thưởng Nữ ca sĩ hát nhạc Hoa xuất sắc nhất tại lễ trao giả Golden Melody Awards lần thứ 18 và giải Ca khúc xuất sắc nhất của năm tại Lễ trao giải Golden Melody Awards lần thứ 24[5].

Thái Y Lâm
Tiếng Trung Cai Yilin
Phồn thể 蔡依林
Giản thể 蔡依林

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Y Lâm từ nhỏ đã sống nội tâm và có phần nhút nhát, cô đã học chuyên sâu về tiếng Anh trong suốt thời niên thiếu và cuối cùng theo học chuyên ngành Văn học Anh tại trường Đại học công giáo Phụ Nhân. Từ nhỏ, cô đã có sở thích ca hát và đã thử nghiệm nhiều kỹ thuật thanh nhạc khác nhau sau khi nghe những ca khúc nổi tiếng của các danh ca nữ như Đặng Lệ QuânVương Phi.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng đĩa[sửa | sửa mã nguồn]

1998-2001: Universal[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Y Lâm bắt đầu tham gia một cuộc thi được tổ chức trên MTV vào lúc 18 tuổi. Cô giành giải nhất[6] và ngay sau đó được Universal Music ký kết hợp đồng[7].

Thàng 7, năm 1999 cô phát hành single đầu tiên của mình mang tên "Living with the world". Single đã được đông đảo mọi người đón nhận. Dẫn đến việc Thái Y Lâm phát hành album đầu tiên của mình là "Jolin 1019" vào năm 1999[8]. Album đầu tay của cô đã bán ra được hơn 400,000 bản[9].

Sau thành công của album đầu, tháng 4/2000, Thái Y Lâm phát hành album vol.2 "Don't Stop"[10] và thu được thành công vang dội. Cô cũng phát hành photobook đầu tiên của cô với hình ảnh chủ yếu lấy ở Hawaii. Album đầu tay của cô đã bán ra được hơn 450,000 bản[11].

Y Lâm đã có sự thay đổi về phong cách của mình trong album thứ 3 "Show your love"[12]. Ở độ tuổi ngoài 20 cô hướng đến hình ảnh một người phụ nữ trưởng thành, chín chắn. Tuy nhiên, album không thành công như mong đợi, chỉ bán được 260,000 bản[13].

Album thứ tư của cô mang đến một số thử nghiệm về âm nhạc và cách biếu diễn vẫn không đem lại doanh số khả quan như 2 album đầu, không có khả năng giúp cô trở nên nổi tiếng như xưa. Suốt một thời gian dài, do mâu thuẫn với công ty quản lý Y Lâm đã không ra mắt bất kì album nào. Trong năm đó, cô chỉ phát hành cuốn sách ảnh thứ hai, với các bức ảnh chụp tại Thái Lan và tham gia bộ phim truyền hình "Hi! Working girls" đóng cặp với La Chí Tường. Tuy nhiên thời điểm đó, 2 người vẫn chưa tạo dựng được tên tuổi nên bộ phim không được chú ý. Vào cuối năm 2001, Hợp đồng của Thái Y Lâm với Universal Music kết thúc.

2002-2005: Sony[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một thời gian hoạt động không hiệu quả ở Universal Music. Thái Y Lâm đầu quân cho Sony BMG. Đây có vẻ là quyết định đúng đắn khi album tiếp theo của cô "Magic" thu được thành công lớn. Single "Spirit Of The Knight" ra mắt thuận lợi mở đường cho album "Magic". Album này đoạt vị trí quán quân trên Bảng xếp hạng các album bán chạy nhất Đài Loan trong 3 tháng liền với hơn 300,000 bản bán ra ở Đài Loan và 1 triệu bản trên toàn châu Á. Album cũng đánh dấu sự hợp tác của cô với Châu Kiệt Luân. Châu sáng tác một số bài hát và góp lời trong ca khúc "Prague Square". Các bài hát thành hit trong album gồm: "Magic", "Say love you", "Prague Square".

Album thứ sáu của Y Lâm "Castle" phát hành năm 2004 thu được kết quả khả quan tương tự album trước với những ca khúc giành được vị trí cao trên các bảng xếp hạng châu Á như: "It's Love", "Rewind", "Pirates". Trong năm này cô cũng ra mắt album "J9" gồm các bản nhạc dance sôi động và 2 bài hát mới.

Năm 2005 cô chuyển sang hình tượng gợi cảm với album "J-game" và nhận được nhiều sự chú ý. Trong khoảng thời gian thực hiện album rộ lên tin đồn cô chia tay với Châu Kiệt Luân có lẽ vì thế nên nhiều ca khúc trong album được viết bởi các nhạc sĩ mà trước đây cô chưa hợp tác. Trong vòng một tháng album đã tiêu thụ được 1 triệu bản trên toàn châu Á. Album có nhiều bài hit như: "Exclusive Myth", "J-game", "Sky". Đây cũng là album phòng thu cuối cùng của nữ ca sĩ tại Sony BMG.

2006-2008: Capitol[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2/2006 Y Lâm gia nhập EMI Capitol với mục tiêu tấn công thị trường quốc tế. Tháng 5/2006 cô phát hành album "Dancing Diva" và gây tiếng vang lớn tại thị trường nhạc Hoa ngữ với 2 triệu bản bán ra trên toàn châu Á. Thành công rực rỡ của album đã giúp cô khẳng định vị thế thiên hậu Đài Loan ở độ tuổi 26. Cô cũng tham gia vào công việc sáng tác trong album này. Ca khúc "The Prologue" với phần lời được cho là nói về Châu Kiệt Luân. Album nhận được nhiều đánh giá tích cực. Các hit như: "Dancing Diva," "Pretence," và "A Wonder in Madrid" giúp cô chiến thắng tại các giải thưởng âm nhạc năm 2006 và 2007. Y Lâm giành được 2 giải Most Favorite Female Artist và the Best Mandarin Female Singer Award tại Golden Melody Awards - giải thưởng được xem là Grammy của giới âm nhạc Hoa ngữ. Trong năm này, chuyến lưu diễn thứ hai mang tên "Dancing Forever" thu về thành công lớn. Đây là một trong những chuyến lưu diễn thành công nhất từ trước đến nay của làng nhạc Hoa ngữ.

Album "Agent J" ra mắt tháng 9/2007 được sự đầu tư mạnh tay của hãng đĩa với phần hình ảnh được quay tại 3 quốc gia Anh, Pháp và Thái Lan. Đây tiếp tục là một album thành công của Y Lâm với doanh số tốt. Cô cũng có cơ hội được hợp tác với diva Úc Kylie Minogue trong ca khúc "In My Arms" trích từ album "X" của diva này.

Album tiếng Anh của cô mang tên "Love Exercise" sau nhiều lần trì hoãn cuối cùng được phát hành ngày 30/10/2008. Do là album cuối cùng của cô khi hết hạn hợp đồng với EMI nên "Love Exercise" không được quảng bá nhiều. Dù vậy, lượng tiêu thụ cũng đạt được con số khá lý tưởng

2009-nay: Warner[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2009, cô đã phát hành album "Butterfly", tạm dịch là Hoa hồ điệp. Album đã tạo nên một thành công không thể ngờ. Các ca khúc như "Butterfly", "Real Man", "Compromise" xuất hiện dày đặc trên các kênh MTV, V Channel. Album đã đem lại lợi nhuận không thể ngờ cho công ty cũng như chính bản thân cô ca sĩ 28 tuổi này.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát hành Hãng Doanh Thu(Đĩa)
And The World Do Neighbors 1999
1019 10 tháng 9 năm 1999 Universal Đài Loan: 400,000[14]
Don't Stop 26 tháng 4 năm 2000 Đài Loan: 450,000[15]
Show Your Love 22 tháng 12 năm 2000 Đài Loan: 260,000[16]
Lucky Number 7 tháng 7 năm 2001 Đài Loan:150,000[17]
Magic 7 tháng 3 năm 2003 Sony Châu Á: 1,500,000[18]

Đài Loan: 360,000[19]

Castle 27 tháng 2 năm 2004 Châu Á: 2,000,000[18]

Đài Loan: 300,000[20]

J-game 25 tháng 4 năm 2005 Sony BMG Châu Á: 2,000,000[18]

Đài Loan: 260,000[21]

Dancing Diva 12 tháng 5 năm 2006 Capitol Châu Á: 2,500,000[22]

Đài Loan: 260,000[23]

Agent J 27 tháng 9 năm 2007 Châu Á: 2,500,000[18]

Đài Loa: 200,000[24]

Butterfly 27 tháng 3 năm 2009 Warner Asia: 1,000,000[25]

Đài Loan: 190,000[26]

Myself 13 tháng 8 năm 2010 Đài Loan: 65,000[27]
Muse 14 tháng 9 năm 2012 Đài Loan: 100,000[28]
Play 15 tháng 11 năm 2014 Đài Loan: 85,000[29]

Cover albums[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát hành Hãng Doanh Thu(Đĩa)
Love Exercise 31 tháng 10 năm 2008 Gold Typhoon Đài Loan: 30,000[30]

Album Tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát hành Hãng
Together 1 tháng 11 năm 2001 Universal
The age of Innocence 27 tháng 3 năm 2003
Born to be a star 12 tháng 11 năm 2004
J-top 5 tháng 5 năm 2006 Sony BMG
Final Wonderland 19 tháng 11 năm 2007
Jeneration 27 tháng 2 năm 2009 Gold Typhoon
Ultimate 7 tháng 9 năm 2012 Sony

Remix albums[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát hành Hãng
Dance Collection 2 tháng 4 năm 2002 Universal
J9 12 tháng 11 năm 2004 Sony
Dancing Forever 29 tháng 9 năm 2006 Capitol
Favorite 3 tháng 9 năm 2006 Sony BMG

Album trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát hành Hãng
1019 I Can Concert 16 tháng 3 năm 2000 Universal
Show Your Love Concert 10 tháng 5 năm 2001
J1 Live Concert 23 tháng 9 năm 2005 Sony BMG
If You Think You Can, You Can 8 tháng 6 năm 2007 Capitol
Love:Life 9 tháng 10 năm 2009 Warner
Myself World Tour (Live) 19 tháng 10 năm 2013

Non-album[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát hành Ghi Chú
I Feel Good!

我覺得很好

Tháng 9, 2000 Album tổng hợp của hãng Sony Sony Shining Star:tài năng châu Á mới,, bài hát tin rằng được ghi trước khi ra mắt 1019 phiên bản Album phòng thu
Where the dream takes you 

情不自禁

Tháng 6, 2001 Xuất hiện trên ấn bản Đài Loan của album Nhạc nền của bộ phim năm 2001 Atlantis: The Lost Empire, bài hát là phiên bản tiếng Trung của ca khúc chủ đề của bộ phim, ban đầu được thu bởi ca sĩ người Mỹ Mýa.
Cherry Cherry Tháng 3, 2002 Được sản xuất bởi 8866 Records và biễu diễn chỉ một lần tại buổi hòa nhạc ca sĩ Đài Loan Kiki Ting vào tháng 3 năm 2002. Bài hát không bao giờ phát hành
Hand in hand 

手牽手

Tháng 5, 2003 Được sản xuất bởi ca sĩ Đài Loan Vương Lực Hoành và David Tao, bài hát bao gồm các nghệ sĩ nổi tiếng khác nhau từ Đài Loan và là một ca khúc kêu gọi từ thiện để chống lại dịch SARS năm 2003.
Warriors in Peace 

海市蜃樓

Tháng 10,

2003

Được sản xuất bởi nhà sản xuất Ấn Độ A. R. Rahman. Xuất hiện trên album Nhạc nền Warriors of Heaven and Earth:The Original Motion Picture Soundtrack, bài hát là bài hát chủ đề phim Warriors of Heaven and Earth năm 2003
Dare for more Tháng 11, 2004 Đĩa đơn quảng cáo của Pepsi tại Đại Trung Hoa, bài hát bao gồm các nghệ sĩ nổi tiếng khác nhau từ Đại Trung Hoa
Under the sea 海洋之心 Tháng 8, 2005 Xuất hiện trên album tổng hợp Disneyland Hồng Kông: The Grand Opening Celebration Album, ca khúc này là phiên bản tiếng Trung của một bài hát từ bộ phim năm 1989 The Little Mermaid.
Destined Guy (真命天子) Tháng 10,

2005

Một bản song ca của Lâm và ca sĩ Đài Loan La Chí Tường xuất hiện trên album phòng thu 2005 Hypnosis Show của Tường, Lâm thể hiện trên nàn nhạc Rap
Stand Up for Love (讓愛靠近) Tháng 11, 2005 Trình diễn tại buổi hòa nhạc của La Chí Tường vào tháng 11 năm 2005, ca khúc này là phiên bản tiếng Trung của World Children's Day Anthem, ban đầu được nhóm nhạc Mỹ  Destiny's Child đặt tên là "Stand up for love". Bài hát không bao giờ phát hành
In My Arms Tháng 11, 2007 Một bản song ca của Lâm và ca sĩ người Úc Kylie Minogue xuất hiện trên phiên bản đặc biệt tại khu vực châu Á của Kylie Minogue năm 2007 trong album X, Lâm biểu diễn phần điệp khúc
Bắc Kinh đón chào bạn Tháng 7, 2008 Trình diễn ca khúc đếm ngược 100 ngày đến Thế vận hội Mùa hè 2008 tổ chức tại Bắc Kinh, bài hát bao gồm một trăm nghệ sĩ nổi tiếng từ Đại Trung Hoa, Singapore và Hàn Quốc trình bày
Touch Your Heart Tháng 1, 2009 Đĩa đơn quảng cáo cho Cục du lịch Đài Loan.
Change the future

有隻老虎

Tháng 6, 2009 Bài hát chủ đề cho lễ trao giải Golden Melody Awards lần thứ 20, bài hát bao gồm các nghệ sĩ nổi tiếng khác nhau từ Đài Loan trình bày
There Is a Tiger 有隻老虎 Tháng 2, 2010 Trình diễn mừng năm mới 2010 (năm Dần), bài hát bao gồm các nghệ sĩ khác nhau từ Warner Music Taiwan trình bày
Heartbeat of Taiwan 

台灣的心聲

Tháng 5, 2010 Bài hát chủ đề cho Taiwan Pavilion tại Expo 2010 được tổ chức tại Thượng Hải.
Little Child

(小孩

Tháng 8, 2013 Được sản xuất bởi ca sĩ Đài Loan Ashin, biểu diễn tại Super Slipper Concert được tổ chức tại Đài Bắc. Bài hát không bao giờ phát hành. Ca khúc này sau đó được thu bởi ca sĩ Malaysia Lương Tịnh Như, như là bài hát chủ đề bộ phim Tình yêu cực quang (Endless nights in Aurora) năm 2014
Now Is the time Tháng 6, 2014 Xuất hiện trên album tổng hợp Pepsi Beats of the Beautiful Game cho 2014 FIFA World Cup, bài hát là bảng cover bài hát cùng tên.của Jasmine V
Shake Your Body Đĩa đơn quảng cáo của Pepsi, bài hát cũng có ba ca sĩ nổi tiếng khác từ khu vực Trung Quốc trình bày
Kaleidoscope 萬花瞳 Bài hát chủ đề của bộ phim năm 2014 Tiểu Thời Đại 3.
Be Wonderful Together 

渴望就一塊

Tháng 8, 2014 Đĩa đơn quảng cáo của chiến dịch hợp tác tổ chức bởi Pepsi và Trung Quốc doanh nghiệp với khách hàng (B2C) bán lẻ trực tuyến Tmall, bài hát là cover Mandarin của Jasmine V ca khúc "Now is the time".
I Wanna Know Tháng 9, 2016 Được sản xuất bởi DJ Thụy Điển Alesso, bài hát là bảng cover bài hát cùng tên.của Nico & Vinz
Ego-holic

戀我癖

Tháng 10, 2016 Được sản xuất bởi nhà sản xuất Đài Loan Starr Chen. Xuất hiện trên 2016 album Welcome to the next level của Starr Chen

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

  • J1 World Tour (2004–06)
  • Dancing Forever World Tour (2006–09)
  • Myself World Tour (2010–13)
  • Play World Tour (2015–16)

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vai Trò Vai Đạo diễn Ghi Chú
Six Friends 2001 Diễn viên Jolin Ma Kung-wei [31]
Hãy Về Với Anh 2002 Anna Gao Nữu Thừa Trạch [32]
Lén Lút Yêu Anh Thái Y Lâm Hu Hsiu-lan [33]
Hi! Working Girl 2003 Phó Nghi Linh Hoàng Khắc Nghĩa, Ngô Tư Đạt [34]

Feature films[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vai Trò Vai Đạo diễn Ghi Chú
Agent J 2007 Diễn viên Thái Y Lâm Jeff Chang, Kuang Sheng, Lai Wei-kang [35]
Zootopia (bản Đài Loan) 2016 Judy Hopps (Lồng tiếng) Byron Howard, Rich Moore, Jared Bush [36]

Phim ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vai Trò Vai Đạo diễn Ghi Chú
Take the Happy Home 2013 2013 Diễn viên Wu Jiayang [37]
Take the Happy Home 2014 2014 Cai Xiaoguo Wei Zheng [38]
Make a Wish Shih Hsiang-te [39]
Take the Happy Home 2015 2015 Li Weiran [40]
Take the Happy Home 2016 2016 Andrew Lok [41]

Game show[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Thời Gian Vai Trò Ghi Chú
Rising Star 10/2014 Dự thính [42]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

CCTV-MTV[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải Hạng Mục/Tên Bài Hát Kết Quả Ghi Chú
2004 Nữ Ca Sĩ xuất sắc nhất (Khu vực Đài Loan) Đoạt Giải [43]
2005 [44]
2008 Nữ Ca Sĩ nổi tiếng nhất (Khu vực Đài Loan) [45]

Chinese Music Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải Hạng Mục/Tên Bài Hát Kết Quả Ghi Chú
1999 Nghệ sĩ nữ nổi tiếng nhất Đoạt Giải [46]
2000 Top 20 Bài Hát Của Năm Don't Stop [47]
2004 Nữ Ca Sĩ nổi tiếng nhất (Hong Kong/Đài Loan) [48]
Video Âm nhạc xuất sắc nhất (Hong Kong/Đài Loan) Pirates
2005 Nữ Ca Sĩ nổi tiếng nhất (Hong Kong/Đài Loan) [49]
Top 10 Bài Hát Của Năm Sky
2007 Bài Hát Của Năm (Hong Kong/Đài Loan) Dancing Diva [50]
2013 Ca Sĩ Có Tầm Ảnh Hưởng Nhất Châu Á [51]
Album Của Năm (Hong Kong/Đài Loan) Muse

100 nghệ sĩ có tầm ảnh hưởng nhất Trung Quốc (Forbes.com)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vị trí Thu Nhập Ghi Chú
2010 7 46,5 triệu NDT [52]
2011 15 53.95 triệu NDT [53]
2012 7 83.2 triệu NDT [54]
2013 9 100.2 triệu NDT [55]
2014 20 54.5 triệu NDT [56]
2015 16 52.8 triệu NDT [57]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “肖像權官司 蔡依林羅志祥等4人各獲賠50萬”. 人民網. 27 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2016. 
  2. ^ [1] Forbes.com.Retrieved May 2015.
  3. ^ http://y.qq.com/m/yuetan/0_897.html.QQ
  4. ^ http://read.bbwc.cn/p0yaef.html. bbwc
  5. ^ “Show Luo and Jolin Tsai Named the Master”. Asianpopcorn. 
  6. ^ http://ent.ltn.com.tw/news/breakingnews/1444113. ltn
  7. ^ http://lizhi.shangc.net/a/25067_3.html. shagcnet
  8. ^ http://www.nownews.com/n/2014/07/04/1304854. nownews
  9. ^ http://www.smweekly.com/news/cover/201010/12806.aspx. smweekly
  10. ^ https://www.kkbox.com/tw/tc/album/qbnsWkNwAUeQ9t6U0Fjb008X-index.html. kkbox
  11. ^ http://ent.qq.com/a/20090320/000347_2.htm. QQ
  12. ^ https://www.kkbox.com/tw/tc/album/VwMQ2lsw-ba73gyA0F3N008X-index.html. kkbox
  13. ^ http://ent.qq.com/a/20090320/000347_3.htm. QQ
  14. ^ “Jolin Tsai brings it on in Beijing”. 
  15. ^ “蔡依林十年音乐路①:环球时期“少男杀手””. 
  16. ^ “蔡依林十年音乐路①:环球时期“少男杀手””. 
  17. ^ http://www.askmen.com/celebs/women/singer_300/399_jolin_tsai.html
  18. ^ a ă â b “Jolin Tsai Prefers The Mr Nice Guy Approach”. 
  19. ^ “蔡依林十年音乐路②:Sony时期“梦幻公主””. 
  20. ^ “蔡依林十年音乐路②:Sony时期“梦幻公主””. 
  21. ^ “蔡依林十年音乐路②:Sony时期“梦幻公主””. 
  22. ^ “Jolin Tsai”. 
  23. ^ “蔡依林十年音乐路③:EMI时期“流行教主””. 
  24. ^ “蔡依林十年音乐路③:EMI时期“流行教主””. 
  25. ^ “蔡依林北京庆功改版 数字花蝴蝶展翅高飞(组图)”. 
  26. ^ “蔡依林腰伤未愈唱慢歌 收按摩机和枕头当礼物”. 
  27. ^ “2010台湾专辑销售榜出炉 罗志祥压周杰伦夺魁”. 
  28. ^ “Jolin收入銷量戀情一路順 全方位贏周董”. 
  29. ^ “《偏執面》無緣專輯獎 妹迷嚷震蛋”. 
  30. ^ “蔡依林十年音乐路③:EMI时期“流行教主””. 
  31. ^ https://movie.douban.com/subject/2286847/
  32. ^ “首次客串电视演出 蔡依林紧张过度胃疾发作(图)”. 
  33. ^ https://movie.douban.com/subject/4223322/
  34. ^ “蔡依林爱上罗志祥?当灰姑娘遇见白马王子(图)”. 
  35. ^ “蔡依林新碟拍音乐电影 独家揭秘《特务J》剧情”. 
  36. ^ “Jolin Tsai makes dubbing debut with "Zootopia". 
  37. ^ “百事贺岁片蔡依林香港战高温 古天乐长白山抗严寒”. 
  38. ^ “《把乐带回家2014》首映蔡依林吴莫愁等众星来贺岁”. 
  39. ^ “蔡依林當媽了 兒子1歲大”. 
  40. ^ https://www.pepsico.com.cn/media/2015-01-30-1.php
  41. ^ https://www.pepsico.com.cn/media/2015-12-29.php
  42. ^ “《中国正在听》今晚来袭 蔡依林否认一集拿400万”. 
  43. ^ “第六届CCTV-MTV音乐盛典完全获奖名单”. QQ. 
  44. ^ “蔡依林王力宏引爆CCTV-MTV音乐盛典”. Sohu. 
  45. ^ “CCTV-MTV音乐盛典颁奖 蔡依林、罗志祥搭档亮相”. ent.news.cn. 
  46. ^ “第六届华语榜中榜获奖名单(1999年)”. Sina. 
  47. ^ 2000年第七届华语榜中榜获奖名单. Sina
  48. ^ 2004年第十一届全球华语音乐榜中榜获奖完全名单. Sina
  49. ^ “2005年第十二届全球华语音乐榜中榜获奖完全名单”. Sina. 
  50. ^ “第十三届华语榜中榜颁奖礼获奖名单(即时刷新)”. Sohu. 
  51. ^ “17届全球华语榜中榜完整获奖名单”. Sina. 
  52. ^ “2010福布斯中国名人榜完全榜单”. Sina. 
  53. ^ “2011福布斯中国名人榜”. 163.com. 
  54. ^ 福布斯2012中国名人榜. 163.com
  55. ^ 2013福布斯中国名人榜前100名榜单. 163.com
  56. ^ 福布斯中文版发布2014年中国名人榜. Sina
  57. ^ 2015福布斯中国名人榜:9名“小鲜肉”首次上榜. Sohu

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]