Thái Y Lâm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thái Y Lâm
蔡依林
Jolin Tsai MAA.jpg
Sinh Thái Y Linh[1]
15 tháng 9, 1980 (36 tuổi)
Tân Trang, Tân Bắc, Đài Loan
Tên khác Jolin Tsai
Dân tộc Hán (1/4 Papora)
Học vị Cử nhân
Học vấn Đại học Công giáo Phụ Nhân
Nghề nghiệp Ca sĩ, Thiết Kế Thời Trang
Đại lý

Eternal Music Production Co., Ltd Đài Loan

BAIYU MEDIA CORPORATIONCờ Trung Quốc Trung Quốc
Tài sản tăngUS$7.65 miillion (2015)[2]
Chiều cao 156 cm (5 ft 1 in)
Cân nặng 41 kg (90 lb)
Người tình

(Người Yêu Cũ) Châu Kiệt Luân

(Bạn Trai Cũ ) Cẩm Vinh
Gia đình

Em gái: Thái Mân Văn

Mẹ: Hoàng Xuân Mĩ

Cha: Thái Trụ Trần
Website warnermusic.com.tw/jolin-tsai
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại Pop, Nhạc điện tử
Năm hoạt động 1999 - nay
Hãng đĩa Warner

Thái Y Lâm (sinh ngày 15 tháng 9 năm 1980) là nữ ca sĩ, vũ công nổi tiếng người Đài Loan[3][4]. Thái Y Lâm từng đạt giải thưởng Nữ ca sĩ hát nhạc Hoa xuất sắc nhất tại lễ trao giả Golden Melody Awards lần thứ 18 và giải Ca khúc xuất sắc nhất của năm tại Lễ trao giải Golden Melody Awards lần thứ 24.[5]

Thái Y Lâm
Tiếng Trung Cai Yilin
Phồn thể 蔡依林
Giản thể 蔡依林

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Y Lâm từ nhỏ đã sống nội tâm và có phần nhút nhát, cô đã học chuyên sâu về tiếng Anh trong suốt thời niên thiếu và cuối cùng theo học chuyên ngành Văn học Anh tại trường Đại học Công giáo Phụ Nhân. Từ nhỏ, cô đã có sở thích ca hát và đã thử nghiệm nhiều kỹ thuật thanh nhạc khác nhau sau khi nghe những ca khúc nổi tiếng của các danh ca nữ như Đặng Lệ QuânVương Phi.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng đĩa[sửa | sửa mã nguồn]

1998-2001: Universal[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Y Lâm bắt đầu tham gia một cuộc thi được tổ chức trên MTV vào lúc 18 tuổi. Cô giành giải nhất[6] và ngay sau đó được Universal Music kí kết hợp đồng.[7]

Thàng 7, năm 1999 cô phát hành single đầu tiên của mình mang tên "Living With the World". Single đã được đông đảo mọi người đón nhận. Dẫn đến việc Thái Y Lâm phát hành album đầu tiên của mình là "Jolin 1019" vào năm 1999[8]. Album đầu tay của cô đã bán ra được hơn 400,000 bản.[9]

Sau thành công của album đầu, tháng 4/2000, Thái Y Lâm phát hành album vol.2 "Don't Stop"[10] và thu được thành công vang dội. Cô cũng phát hành photobook đầu tiên của cô với hình ảnh chủ yếu lấy ở Hawaii. Album đầu tay của cô đã bán ra được hơn 450,000 bản.[11]

Y Lâm đã có sự thay đổi về phong cách của mình trong album thứ 3 "Show Your Love"[12]. Ở độ tuổi ngoài 20 cô hướng đến hình ảnh một người phụ nữ trưởng thành, chín chắn. Tuy nhiên, album không thành công như mong đợi, chỉ bán được 260,000 bản.[13]

Album thứ tư của cô mang đến một số thử nghiệm về âm nhạc và cách biếu diễn vẫn không đem lại doanh số khả quan như 2 album đầu, không có khả năng giúp cô trở nên nổi tiếng như xưa. Suốt một thời gian dài, do mâu thuẫn với công ty quản lý Y Lâm đã không ra mắt bất kì album nào. Trong năm đó, cô chỉ phát hành cuốn sách ảnh thứ hai, với các bức ảnh chụp tại Thái Lan và tham gia bộ phim truyền hình "Hi! Working girls" đóng cặp với La Chí Tường. Tuy nhiên thời điểm đó, 2 người vẫn chưa tạo dựng được tên tuổi nên bộ phim không được chú ý. Vào cuối năm 2001, Hợp đồng của Thái Y Lâm với Universal Music kết thúc.

2002-2005: Sony[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một thời gian hoạt động không hiệu quả ở Universal Music. Thái Y Lâm đầu quân cho Sony BMG. Đây có vẻ là quyết định đúng đắn khi album tiếp theo của cô "Magic" thu được thành công lớn. Single "Spirit Of The Knight" ra mắt thuận lợi mở đường cho album "Magic". Album này đoạt vị trí quán quân trên Bảng xếp hạng các album bán chạy nhất Đài Loan trong 3 tháng liền với hơn 300,000 bản bán ra ở Đài Loan và 1 triệu bản trên toàn châu Á. Album cũng đánh dấu sự hợp tác của cô với Châu Kiệt Luân. Châu sáng tác một số bài hát và góp lời trong ca khúc "Prague Square". Các bài hát thành hit trong album gồm: "Magic", "Say Love You", "Prague Square".

Album thứ sáu của Y Lâm "Castle" phát hành năm 2004 thu được kết quả khả quan tương tự album trước với những ca khúc giành được vị trí cao trên các bảng xếp hạng châu Á như: "It's Love", "Rewind", "Pirates". Trong năm này cô cũng ra mắt album "J9" gồm các bản nhạc dance sôi động và 2 bài hát mới.

Năm 2005 cô chuyển sang hình tượng gợi cảm với album "J-game" và nhận được nhiều sự chú ý. Trong khoảng thời gian thực hiện album rộ lên tin đồn cô chia tay với Châu Kiệt Luân có lẽ vì thế nên nhiều ca khúc trong album được viết bởi các nhạc sĩ mà trước đây cô chưa hợp tác. Trong vòng một tháng album đã tiêu thụ được 1 triệu bản trên toàn châu Á. Album có nhiều bài hit như: "Exclusive Myth", "J-game", "Sky". Đây cũng là album phòng thu cuối cùng của nữ ca sĩ tại Sony BMG.

2006-2008: Capitol[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2/2006 Y Lâm gia nhập EMI Capitol với mục tiêu tấn công thị trường quốc tế. Tháng 5/2006 cô phát hành album "Dancing Diva" và gây tiếng vang lớn tại thị trường nhạc Hoa ngữ với 2 triệu bản bán ra trên toàn châu Á. Thành công rực rỡ của album đã giúp cô khẳng định vị thế thiên hậu Đài Loan ở độ tuổi 26. Cô cũng tham gia vào công việc sáng tác trong album này. Ca khúc "The Prologue" với phần lời được cho là nói về Châu Kiệt Luân. Album nhận được nhiều đánh giá tích cực. Các hit như: "Dancing Diva," "Pretence," và "A Wonder in Madrid" giúp cô chiến thắng tại các giải thưởng âm nhạc năm 2006 và 2007. Y Lâm giành được 2 giải Most Favorite Female Artist và the Best Mandarin Female Singer Award tại Golden Melody Awards - giải thưởng được xem là Grammy của giới âm nhạc Hoa ngữ. Trong năm này, chuyến lưu diễn thứ hai mang tên "Dancing Forever" thu về thành công lớn. Đây là một trong những chuyến lưu diễn thành công nhất từ trước đến nay của làng nhạc Hoa ngữ.

Album "Agent J" ra mắt tháng 9/2007 được sự đầu tư mạnh tay của hãng đĩa với phần hình ảnh được quay tại 3 quốc gia Anh, Pháp và Thái Lan. Đây tiếp tục là một album thành công của Y Lâm với doanh số tốt. Cô cũng có cơ hội được hợp tác với diva Úc Kylie Minogue trong ca khúc "In My Arms" trích từ album "X" của diva này.

Album tiếng Anh của cô mang tên "Love Exercise" sau nhiều lần trì hoãn cuối cùng được phát hành ngày 30/10/2008. Do là album cuối cùng của cô khi hết hạn hợp đồng với EMI nên "Love Exercise" không được quảng bá nhiều. Dù vậy, lượng tiêu thụ cũng đạt được con số khá lý tưởng

2009-nay: Warner[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2009, cô đã phát hành album "Butterfly", tạm dịch là Hoa hồ điệp. Album đã tạo nên một thành công không thể ngờ. Các ca khúc như "Butterfly", "Real Man", "Compromise" xuất hiện dày đặc trên các kênh MTV, V Channel. Album đã đem lại lợi nhuận không thể ngờ cho công ty cũng như chính bản thân cô ca sĩ 28 tuổi này.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát Hành Hãng Doanh Thu(Đĩa)
And The World Do Neighbors 1999
1019 September 10, 1999 Universal Đài Loan: 400,000[14]
Don't Stop April 26, 2000 Universal Đài Loan: 450,000[15]
Show Your Love December 22, 2000 Universal Đài Loan: 260,000[16]
Lucky Number July 7, 2001 Universal Đài Loan:150,000[17]
Magic March 7, 2003 Sony Châu Á: 1,500,000[18]

Đài Loan: 360,000[19]

Castle February 27, 2004 Sony Châu Á: 2,000,000[18]

Đài Loan: 300,000[20]

J-game April 25, 2005 Sony BMG Châu Á: 2,000,000[21]

Đài Loan: 260,000[22]

Dancing Diva May 12, 2006 Capitol Châu Á: 2,500,000[23]

Đài Loan: 260,000[24]

Agent J September 27, 2007 Capitol Châu Á: 2,500,000[18]

Đài Loa: 200,000[25]

Butterfly March 27, 2009 Warner Asia: 1,000,000[26]

Đài Loan: 190,000[27]

Myself August 13, 2010 Warner Đài Loan: 65,000[28]
Muse September 14, 2012 Warner Đài Loan: 100,000[29]
Play November 15, 2014 Warner Đài Loan: 85,000[30]

Cover albums[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát Hành Hãng Doanh Thu(Đĩa)
Love Exercise October 31, 2008 Gold Typhoon Đài Loan: 30,000[31]

Album Tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát Hành Hãng
Together November 1, 2001 Universal
The Age of Innocence March 27, 2003 Universal
Born to Be a Star November 12, 2004 Universal
J-top May 5, 2006 Sony BMG
Final Wonderland September 19, 2007 Sony BMG
Jeneration February 27, 2009 Gold Typhoon
Ultimate September 7, 2012 Sony

Remix albums[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát Hành Hãng
Dance Collection April 2, 2002 Universal
J9 November 12, 2004 Sony
Dancing Forever September 29, 2006 Capitol
Favorite November 3, 2006 Sony BMG

Album trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát Hành Hãng
1019 I Can Concert March 16, 2000 Universal
Show Your Love Concert May 10, 2001 Universal
J1 Live Concert September 23, 2005 Sony BMG
If You Think You Can, You Can June 8, 2007 Capitol
Love:Life October 9, 2009 Warner
Myself World Tour (Live) October 19, 2013 Warner

Non-album[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày Phát Hành Ghi Chú
I Feel Good! (我覺得很好) September 2000 Album tổng hợp của hãng Sony Sony Shining Star:tài năng châu Á mới,, bài hát tin rằng được ghi trước khi ra mắt 1019 phiên bản Album phòng thu
Where the Dream Takes You (情不自禁) June 2001 Xuất hiện trên ấn bản Đài Loan của album Nhạc nền của bộ phim năm 2001 Atlantis: The Lost Empire, bài hát là phiên bản tiếng Trung của ca khúc chủ đề của bộ phim, ban đầu được thu bởi ca sĩ người Mỹ Mýa.
Cherry Cherry March 2002 Được sản xuất bởi 8866 Records và biễu diễn chỉ một lần tại buổi hòa nhạc ca sĩ Đài Loan Kiki Ting vào tháng ba năm 2002. Bài hát không bao giờ phát hành
Hand in Hand (手牽手) May 2003 Được sản xuất bởi ca sĩ Đài Loan Vương Lực Hoành và David Tao, bài hát bao gồm các nghệ sĩ nổi tiếng khác nhau từ Đài Loan và là một ca khúc kêu gọi từ thiện để chống lại dịch SARS năm 2003.
Warriors in Peace (海市蜃樓) October 2003 Được sản xuất bởi nhà sản xuất Ấn Độ A. R. Rahman. Xuất hiện trên album Nhạc nền Warriors of Heaven and Earth:The Original Motion Picture Soundtrack, bài hát là bài hát chủ đề phim Warriors of Heaven and Earth năm 2003
Dare for More November 2004 Đĩa đơn quảng cáo của Pepsi tại Đại Trung Hoa, bài hát bao gồm các nghệ sĩ nổi tiếng khác nhau từ Đại Trung Hoa
Under the Sea (海洋之心) August 2005 Xuất hiện trên album tổng hợp Disneyland Hồng Kông: The Grand Opening Celebration Album, ca khúc này là phiên bản tiếng Trung của một bài hát từ bộ phim năm 1989 The Little Mermaid.
Destined Guy (真命天子) October 2005 Một bản song ca của Lâm và ca sĩ Đài Loan La Chí Tường xuất hiện trên album phòng thu 2005 Hypnosis Show của Tường, Lâm thể hiện trên nàn nhạc Rap
Stand Up for Love (讓愛靠近) November 2005 Trình diễn tại buổi hòa nhạc của La Chí Tường vào tháng 11 năm 2005, ca khúc này là phiên bản tiếng Trung của World Children's Day Anthem, ban đầu được nhóm nhạc Mỹ  Destiny's Child đặt tên là "Stand Up for Love". Bài hát không bao giờ phát hành
In My Arms November 2007 Một bản song ca của Lâm và ca sĩ người Úc Kylie Minogue xuất hiện trên phiên bản đặc biệt tại khu vực châu Á của Kylie Minogue năm 2007 trong album X, Lâm biểu diễn phần điệp khúc
Bắc Kinh đón chào bạn July 2008 Trình diễn ca khúc đếm ngược 100 ngày đến Thế vận hội Mùa hè 2008 tổ chức tại Bắc Kinh, bài hát bao gồm một trăm nghệ sĩ nổi tiếng từ Đại Trung Hoa, Singapore và Hàn Quốc trình bày
Touch Your Heart January 2009 Đĩa đơn quảng cáo cho Cục Du lịch Đài Loan.
Change the Future (有隻老虎) June 2009 Bài hát chủ đề cho lễ trao giải Golden Melody Awards lần thứ 20, bài hát bao gồm các nghệ sĩ nổi tiếng khác nhau từ Đài Loan trình bày
There Is a Tiger (有隻老虎) February 2010 Trình diễn mừng năm mới 2010 (năm Dần), bài hát bao gồm các nghệ sĩ khác nhau từ Warner Music Taiwan trình bày
Heartbeat of Taiwan (台灣的心聲) May 2010 Bài hát chủ đề cho Taiwan Pavilion tại Expo 2010 được tổ chức tại Thượng Hải.
Little Child (小孩) August 2013 Được sản xuất bởi ca sĩ Đài Loan Ashin, biểu diễn tại Super Slipper Concert được tổ chức tại Đài Bắc. Bài hát không bao giờ phát hành. Ca khúc này sau đó được thu bởi ca sĩ Malaysia Lương Tịnh Như, như là bài hát chủ đề bộ phim Tình yêu cực quang (Endless Nights in Aurora) năm 2014
Now Is the Time June 2014 Xuất hiện trên album tổng hợp Pepsi Beats of the Beautiful Game cho 2014 FIFA World Cup, bài hát là bảng cover bài hát cùng tên.của Jasmine V
Shake Your Body June 2014 Đĩa đơn quảng cáo của Pepsi, bài hát cũng có ba ca sĩ nổi tiếng khác từ khu vực Trung Quốc trình bày
Kaleidoscope (萬花瞳) June 2014 Bài hát chủ đề của bộ phim năm 2014 Tiểu Thời Đại 3.
Be Wonderful Together (渴望就一塊) August 2014 Đĩa đơn quảng cáo của chiến dịch hợp tác tổ chức bởi Pepsi và Trung Quốc doanh nghiệp với khách hàng (B2C) bán lẻ trực tuyến Tmall, bài hát là cover Mandarin của Jasmine V ca khúc "Now Is the Time".
I Wanna Know September 2016 Được sản xuất bởi DJ Thụy Điển Alesso, bài hát là bảng cover bài hát cùng tên.của Nico & Vinz
Ego-holic (戀我癖) October 2016 Được sản xuất bởi nhà sản xuất Đài Loan Starr Chen. Xuất hiện trên 2016 album Welcome to the Next Level của Starr Chen

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

  • J1 World Tour (2004–06)
  • Dancing Forever World Tour (2006–09)
  • Myself World Tour (2010–13)
  • Play World Tour (2015–16)

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vai Trò Vai Đạo Diễn Ghi Chú
Six Friends 2001 Diễn viên Jolin Ma Kung-wei [32]
Hãy Về Với Anh 2002 Diễn viên Anna Gao Nữu Thừa Trạch [33]
Lén Lút Yêu Anh 2002 Diễn viên Thái Y Lâm Hu Hsiu-lan [34]
Hi! Working Girl 2003 Diễn viên Phó Nghi Linh Hoàng Khắc Nghĩa, Ngô Tư Đạt [35]

Feature films[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vai Trò Vai Đạo Diễn Ghi Chú
Agent J 2007 Diễn viên Thái Y Lâm Jeff Chang, Kuang Sheng, Lai Wei-kang [36]
Zootopia (Taiwan edition) 2016 Diễn viên Judy Hopps (Lồng tiếng) Byron Howard, Rich Moore, Jared Bush [37]

Phim ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vai Trò Vai Đạo Diễn Ghi Chú
Take the Happy Home 2013 2013 Diễn viên Wu Jiayang [38]
Take the Happy Home 2014 2014 Diễn viên Cai Xiaoguo Wei Zheng [39]
Make a Wish 2014 Diễn viên Shih Hsiang-te [40]
Take the Happy Home 2015 2015 Diễn viên Li Weiran [41]
Take the Happy Home 2016 2016 Diễn viên Andrew Lok [42]

Game show[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Thời Gian Vai Trò Ghi Chú
Rising Star 10/2014 Dự Thính [43]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “肖像權官司 蔡依林羅志祥等4人各獲賠50萬”. 人民網. 27 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2016. 
  2. ^ http://jolinjeneration.canalblog.com/archives/2015/05/13/32048205.html] Forbes.com.Retrieved May 2015.
  3. ^ http://y.qq.com/m/yuetan/0_897.html
  4. ^ http://read.bbwc.cn/p0yaef.html
  5. ^ “Show Luo and Jolin Tsai Named the Master”. Asianpopcorn. Asianpopcorn. 
  6. ^ http://ent.ltn.com.tw/news/breakingnews/1444113
  7. ^ http://lizhi.shangc.net/a/25067_3.html
  8. ^ http://www.nownews.com/n/2014/07/04/1304854
  9. ^ http://www.smweekly.com/news/cover/201010/12806.aspx
  10. ^ https://www.kkbox.com/tw/tc/album/qbnsWkNwAUeQ9t6U0Fjb008X-index.html
  11. ^ http://ent.qq.com/a/20090320/000347_2.htm
  12. ^ https://www.kkbox.com/tw/tc/album/VwMQ2lsw-ba73gyA0F3N008X-index.html
  13. ^ http://ent.qq.com/a/20090320/000347_3.htm
  14. ^ “Jolin Tsai brings it on in Beijing”. 
  15. ^ “蔡依林十年音乐路①:环球时期“少男杀手””. 
  16. ^ “蔡依林十年音乐路①:环球时期“少男杀手””. 
  17. ^ http://www.askmen.com/celebs/women/singer_300/399_jolin_tsai.html
  18. ^ a ă â “Jolin Tsai Prefers The Mr Nice Guy Approach”. 
  19. ^ “蔡依林十年音乐路②:Sony时期“梦幻公主””. 
  20. ^ “蔡依林十年音乐路②:Sony时期“梦幻公主””. 
  21. ^ “Jolin Tsai Prefers The Mr Nice Guy Approach”. 
  22. ^ “蔡依林十年音乐路②:Sony时期“梦幻公主””. 
  23. ^ “Jolin Tsai”. 
  24. ^ “蔡依林十年音乐路③:EMI时期“流行教主””. 
  25. ^ “蔡依林十年音乐路③:EMI时期“流行教主””. 
  26. ^ “蔡依林北京庆功改版 数字花蝴蝶展翅高飞(组图)”. 
  27. ^ “蔡依林腰伤未愈唱慢歌 收按摩机和枕头当礼物”. 
  28. ^ “2010台湾专辑销售榜出炉 罗志祥压周杰伦夺魁”. 
  29. ^ “Jolin收入銷量戀情一路順 全方位贏周董”. 
  30. ^ “《偏執面》無緣專輯獎 妹迷嚷震蛋”. 
  31. ^ “蔡依林十年音乐路③:EMI时期“流行教主””. 
  32. ^ https://movie.douban.com/subject/2286847/
  33. ^ “首次客串电视演出 蔡依林紧张过度胃疾发作(图)”. 
  34. ^ https://movie.douban.com/subject/4223322/
  35. ^ “蔡依林爱上罗志祥?当灰姑娘遇见白马王子(图)”. 
  36. ^ “蔡依林新碟拍音乐电影 独家揭秘《特务J》剧情”. 
  37. ^ “Jolin Tsai makes dubbing debut with "Zootopia". 
  38. ^ “百事贺岁片蔡依林香港战高温 古天乐长白山抗严寒”. 
  39. ^ “《把乐带回家2014》首映蔡依林吴莫愁等众星来贺岁”. 
  40. ^ “蔡依林當媽了 兒子1歲大”. 
  41. ^ https://www.pepsico.com.cn/media/2015-01-30-1.php
  42. ^ https://www.pepsico.com.cn/media/2015-12-29.php
  43. ^ “《中国正在听》今晚来袭 蔡依林否认一集拿400万”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]