Kylie Minogue

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kylie Minogue
OBE OAL
Kylie Minogue Cropped Sliver Spoon Awards 2012.jpg
Minogue tại Silver Clef Awards 2012
Sinh Kylie Ann Minogue
28 tháng 5, 1968 (47 tuổi)
Melbourne, Victoria, Úc
Nơi cư trú Chelsea, Luân Đôn, Liên hiệp Anh
South Coogee, Sydney, Úc[1]
Quốc tịch Úc, Anh
Học vị Camberwell High School
Công việc
  • Ca sĩ
  • người viết bài hát
  • diễn viên
  • nhà sản xuất âm nhạc và phim ảnh
  • tác giả
  • doanh nhân
  • nhà thiết kế thời trang
  • người theo chủ nghĩa bác ái
Năm hoạt động 1979–nay
Chương trình TV Neighbours, The Henderson Kids, Doctor Who, The Kylie Show
Người thân Dannii Minogue (em gái)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ Hát chính
Năm hoạt động 1979–nay
Hãng đĩa
Website Trang mạng chính thức

Kylie Ann Minogue, OBE (phát /ˈkl mɪˈnɡ/; sinh ngày 28 tháng 5 năm 1968) hay còn được biết đến với nghệ danh Kylie, là một nữ nghệ sĩ thu âm, người sáng tác nhạc kiêm diễn viên người Úc. Tham gia ngành công nghiệp truyền hình từ thuở nhỏ, cô nhận được sự chú ý khi thủ vai Charlene Robinson trong chương trình truyền hình dài tập của Úc Neighbours. Sau khi tham gia một tập phim năm 1987 thu về gần 20 triệu người theo dõi tại Anh Quốc, cô rời chương trình vào năm kế tiếp và ký hợp đồng cùng hãng thu âm PWL. Album phòng thu đầu tay Kylie (1988) chạm mốc 7 triệu bản trên toàn cầu và cho ra đĩa đơn quán quân UK Singles Chart "I Should Be So Lucky". Album phòng thu thứ 2 Enjoy Yourself (1989) được 4 lần chứng nhận Bạch kim bởi British Phonographic Industry và có toàn bộ đĩa đơn phát hành lọt vào top 5 UK Singles Chart.

Cô tiếp tục phát hành Rhythm of Love (1990) và Let's Get to It (1991) với sự thay đổi về phong cách âm nhạc và hình tượng gợi cảm, trước khi chấm dứt hợp đồng cùng PWL và chuyển sang Deconstruction Records vào năm 1992. Cô tiếp tục xuất bản album phòng thu cùng tên (1994) và Impossible Princess (1998) với các ảnh hưởng mang đậm tính thể nghiệm trong khi nhận được những phản hồi ảm đạm về mặt thương mại. Sự nghiệp của Minogue thăng hoa trở lại từ khi hợp tác cùng hãng Parlophone và quay lại với dòng nhạc nhảy thịnh hành trong Light Years (2001) và Fever (2001), với các bài nhạc ăn khách "Spinning Around", "Can't Get You Out of My Head" và "Come into My World".

Sau khi xuất bản Body Language (2003) và album tuyển tập Ultimate Kylie (2004), cô được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú trong lúc thực hiện Showgirl: The Greatest Hits Tour vào năm 2005. Sau thời gian chữa trị, cô trở lại với chuyến lưu diễn dưới cái tên Showgirl: The Homecoming Tour, ra mắt X (2007) và album đạt ngôi quán quân tại Anh Quốc Aphrodite (2010). Cô còn quay lại nghiệp diễn xuất trong Jack & Diane và bộ phim tranh giải Cành cọ vàng Holy Motors (2012). Sau khi ký kết hợp đồng cùng Roc Nation cũng như xuất hiện trong mùa thứ 3 của cuộc thi The Voice Anh QuốcThe Voice Úc, cô phát hành album Kiss Me Once (2014) được chứng nhận Bạc tại Anh Quốc.

Được nhìn nhận là một trong những nữ nghệ sĩ xuất sắc nhất, Minogue đã bán ra hơn 70 triệu đĩa nhạc toàn thế giới và là chủ nhân của 16 giải ARIA, 3 giải Brit và 1 giải Grammy. Cô từng được Chính phủ Pháp trao tặng giải Ordre des Arts et des Lettres cho những đóng góp về văn hóa Pháp và được Đại học Anglia Ruskin vinh danh là Tiến sĩ Khoa học Y tế (D.H.Sc.) tại Anh Quốc bởi những đóng góp trong việc nâng cao nhận thức về căn bệnh ung thư vú. Tại lễ kỷ niệm lần thứ 25 của Giải thưởng âm nhạc ARIA vào tháng 11 năm 2011, Kylie Minogue được hiệp hội Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc bổ nhiệm vào Đại sảnh Danh vọng ARIA.

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1968–86: Thời niên thiếu và thuở đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Kylie Ann Minogue sinh ngày 28 tháng 5 năm 1968 tại Melbourne, Úc. Cô là con cả trong gia đình của Ronald Charles Minogue, một nhân viên kế toán mang gốc gác Ireland;[4] và Carol Ann (họ gốc là Jones), một cựu vũ công người xứ Wales. Jones từng ngụ tại Maesteg, Wales cho đến lúc lên 10, khi cha mẹ bà, Denis và Millie Jones, quyết định dời đến Úc để sinh sống.[5] Trong gia đình bên ngoại, Kylie còn có một người bà mang dòng máu Anh.[6] Cô có hai người em, Brendan (cùng sinh năm 1968) là một chuyên viên thu hình tin tức tại Úc; và Dannii Minogue (sinh năm 1971) cũng là một ca sĩ nhạc pop và là người chủ trì chương trình truyền hình.[7] Gia đình Minogue phải thường xuyên rong ruổi tại nhiều vùng ngoại ô tại Melbourne để duy trì chi phí sinh hoạt, điều luôn khiến Kylie cảm thấy bất an khi còn nhỏ.[8] Trong hoàn cảnh túng thiếu, Ron phải làm việc như một nhân viên kế toán ở hãng xe của gia đình, trong khi Carol là người pha trà tại bệnh viện địa phương.[8] Những đứa con nhà Minogue được nuôi nấng tại Surrey Hills, Melbourne và theo học tại trường Trung học Camberwell.[9]

Chị em nhà Minogue bắt đầu sự nghiệp trên sóng truyền hình Úc từ khi còn nhỏ.[4] Lúc mới 11 tuổi, Kylie đã tham gia nhiều loạt chương trình truyền hình như The SullivansSkyways trong những vai nhỏ lẻ, trước khi được nhận vai chính trong chương trình The Henderson Kids vào năm 1985.[10] Cảm thấy hứng thú trong việc theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, cô từng thực hiện một đoạn băng thu thử cho các nhà sản xuất của chương trình âm nhạc hàng tuần Young Talent Time,[11] nơi Dannii thường xuyên góp mặt.[12] Sau đó, Kylie được tham gia chương trình và được trình diễn lần đầu trước sóng truyền hình vào năm 1985, cho dù cô không được mời gia nhập vào đoàn. Thành công của Dannii phần nào lấn lướt hơn sự nghiệp diễn xuất của Kylie,[4] cho đến khi Kylie được tuyển vai trong loạt chương trình truyền hình dài tập Neighbours vào năm 1986.[9] Cô vào vai Charlene Mitchell, một nữ sinh có tương lai trở thành thợ cơ khí. Trong một tập phim vào năm 1987, khi lấy việc Mitchell thành hôn cùng nhân vật Scott Robinson (do Jason Donovan thủ vai) làm bối cảnh chính, đã có gần 20 triệu khán giả tại Anh Quốc theo dõi, trở thành một trong những tập chương trình truyền hình Úc được theo dõi nhiều nhất trên toàn cầu [13]

Sự nổi danh của cô tại Úc được đánh dấu trong một sự kiện của Giải Logie, khi cô trở thành người đầu tiên chiến thắng 4 hạng mục trong một mùa giải, và là người trẻ tuổi nhất nhận giải "Gold Logie" cho "Cá nhân được yêu thích trên truyền hình Úc Châu", với kết quả được dựa trên phiếu bầu của công chúng.[14]

1987-92: Kylie, Enjoy Yourself, Rhythm of LoveLet's Get to It[sửa | sửa mã nguồn]

Trong đêm nhạc từ thiện Fitzroy Football Club cùng dàn diễn viên Neighbours, Minogue có song ca cùng diễn viên John Waters trong bài hát "I Got You Babe" và "The Loco-Motion", rồi sau đó ký kết hợp đồng cùng Mushroom Records vào năm 1987.[15] Đĩa đơn đầu tay của cô, "The Loco-Motion" có 7 tuần giữ ngôi quán quân trên bảng xếp hạng Australian Singles Charts và trở thành đĩa đơn bán chạy nhất tại Úc trong thập niên 1980,[16] đồng thời giúp cô nhận giải ARIA Award cho đĩa đơn bán chạy nhất của năm.[17] Thành công của bài hát đưa Minogue đến Anh Quốc cùng Gary Ashley, nhà đại diện của Mushroom Records, để hợp tác cùng những nhà sản xuất Stock, Aitken & Waterman. Họ biết chút ít về Minogue và quên hẳn việc cô tìm đến chỗ của họ; mà kết quả là bài hát "I Should Be So Lucky" được sáng tác ngay khi cô đợi bên ngoài phòng thu.[18] Bài hát vươn lên ngôi đầu bảng tại Anh Quốc, Úc, Đức, Phần Lan, Thụy Sĩ, Israel và Hồng Kông.[19] Minogue thắng giải ARIA Award lần thứ hai liên tiếp cho đĩa đơn bán chạy nhất năm, đồng thời mang về giải "Special Achievement Award".[20]

Album đầu tay của Minogue, Kylie được phát hành vào tháng 7 năm 1988. Album là tập hợp của những bài hát dance-pop và trụ vững hơn 1 năm tại UK Albums Chart, có bao gồm nhiều tuần lễ đứng tại ngôi quán quân.[21] Album được chứng nhận Vàng tại Hoa Kỳ, trong khi đĩa đơn "The Loco-Motion" đạt đến vị trí thứ 3 trên Billboard Hot 100[22] và vị trí số 1 trên Canadian Singles Chart. Các đĩa đơn tiếp sau cũng được đón nhận nồng nhiệt, có bao gồm "Got to Be Certain", nhà quán quân thứ 3 liên tiếp của cô trên Australian Singles Chart.[23] Cuối năm 1988, cô rời khỏi chương trình Neighbours để tập trung cho sự nghiệp ca hát. Minogue cũng hợp tác cùng Jason Donovan trong bài hát "Especially for You" đạt ngôi đầu bảng tại Anh Quốc và vượt mốc 1 triệu bản tại đó vào tháng 12 năm 2014.[24][25]

Album phòng thu thứ hai của Minogue Enjoy Yourself được phát hành vào tháng 10 năm 1989. Album đạt thành công xuyên khắp tại Anh Quốc, khu vực Châu Âu, New Zealand, Châu Á và Châu Úc. Album còn cho ra các đĩa đơn đạt ngôi quán quân "Hand on Your Heart" và "Tears on My Pillow".[21] Dù vậy, album thất bại trong việc chinh phục khu vực Bắc Mỹ, khiến Minogue bị chấm dứt hợp đồng cùng hãng thu âm tại Hoa Kỳ của cô, Geffen Records. Cô sau đó mở màn cho chuyến lưu diễn đầu tiên của mình, the Enjoy Yourself Tour, tại Anh Quốc, Châu Âu, Châu Á và Châu Úc vào tháng 2 năm 1990. Cô còn tham gia góp giọng trong phiên bản thể hiện lại của "Do They Know It's Christmas?".[26] Bộ phim đầu tay của cô, The Delinquents được phát hành vào tháng 12 năm 1989. Phim nhận được những phản hồi gay gắt bởi các nhà phê bình, nhưng lại là một sản phẩm thành công về thương mại. Doanh thu phim đã vượt 200.000 bảng Anh,[27] trong khi tại Úc, đây là phim địa phương có doanh thu cao thứ tư trong năm 1989 và là phim địa phương có doanh thu cao nhất trong năm 1990.[28]

Album thứ 3 của Minogue, Rhythm of Love được phát hành vào tháng 11 năm 1990. Album cho thấy phong cách tinh vi và trưởng thành hơn ở dòng nhạc dance và đồng thời đánh dấu việc thoát ly khỏi đội ngũ sản xuất và hình ảnh thân thiện của cô trước đây.[29] Với mong muốn được nhìn nhận bởi tầng lớp khán giả trưởng thành hơn, Minogue bắt đầu thể hiện bản thân là một phụ nữ trưởng thành có nhận biết về tình dục trong những video âm nhạc của mình, mở đầu với "Better the Devil You Know".[30] Mối tình của cô cùng Michael Hutchence cũng được nhìn nhận như là một phần của việc lột bỏ tính cách trước đây.[31] Các đĩa đơn trích từ Rhythm of Love thể hiện tính thương mại mạnh mẽ tại khu vực châu Âu và châu Úc. Cô sau đó mở màn cho chuyến lưu diễn Rhythm of Love Tour vào tháng 2 năm 1991.

Album phòng thu thứ 4 của Minogue, Let's Get to It được phát hành vào tháng 10 năm 1991 và đạt đến vị trí thứ 15 trên UK Albums Chart, trở thành album đầu tiên của cô không thể vươn đến top 10.[21] Trong khi đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "Word Is Out" trở thành đĩa đơn đầu tiên của cô trượt khỏi top 10 tại UK Singles Chart,[21] thì các sản phẩm tiếp đó là "If You Were with Me Now" và "Give Me Just a Little More Time" vẫn lần lượt góp mặt trong top 5.[21] Để quảng bá cho album, cô mở màn cho Let's Get to It Tour vào tháng 10. Khi đã thỏa mãn các điều kiện trong hợp đồng, cô quyết định không tái ký hợp đồng thu âm nữa.[4] Cô sau đó bày tỏ ý kiến của mình khi bị kìm kẹp bởi Stock, Aitken và Waterman, đồng thời phát biểu, "Tôi giống như một con rối ngay từ lúc ban đầu. Tôi bị hãng thu âm của mình che mắt. Tôi đã không thể nhìn sang trái hoặc phải."[32] Album tổng hợp đầu tiên của Minogue, Greatest Hits được phát hành vào tháng 8 năm 1992. Album vươn đến ngôi đầu bảng tại Anh Quốc[21] và vị trí thứ 3 tại Úc.[33] Các đĩa đơn trích từ album, "What Kind of Fool" và phiên bản thể hiện lại "Celebration" của Kool & the Gang đều đạt đến top 20 tại UK Singles Chart.[21]

1993–98: Kylie MinogueImpossible Princess[sửa | sửa mã nguồn]

Việc ký kết hợp đồng cùng hãng Deconstruction Records của Minogue được dư luận quan tâm theo dõi, khi được xem là sự bắt đầu của một giai đoạn mới trong sự nghiệp của cô. Album phòng thu thứ năm, Kylie Minogue được phát hành vào tháng 9 năm 1994, mang về thành công thương mại tại Châu Âu và Úc. Album được thực hiện bởi bộ đôi nhà sản xuất dòng nhạc nhảy Brothers In Rhythm, bao gồm Dave SeamanSteve Anderson, những người từng sản xuất "Finer Feelings", đĩa đơn cuối cùng của cô cùng hãng PWL. Anderson đến nay vẫn còn là người chỉ đạo âm nhạc của Minogue. Đĩa đơn đầu tiên, "Confide in Me" có 4 tuần đứng ở ngôi cao nhất của Australian Singles Chart.[34] 2 đĩa đơn kế tiếp, "Put Yourself in My Place" và "Where Is the Feeling?" đều đạt đến top 20 của UK Singles Chart,[21] trong khi album này cũng đạt đến vị trí thứ 4 UK Albums Chart,[21] với lượng doanh số đạt 250.000 bản.[35]

Trong thời gian này, Minogue có xuất hiện trong một tập phim hài The Vicar of Dibley. Đạo diễn Steven E. de Souza tìm thấy hình ảnh của Minogue trên bìa tạp chí Who Magazine Úc trong sự kiện "30 Người đẹp nhất thế giới" và mời cô một vai cùng Jean-Claude Van Damme trong bộ phim Street Fighter.[36] Bộ phim đạt thành công vừa phải khi thu về doanh thu 70 triệu đô-la Mỹ,[36] nhưng lại vấp phải những phản hồi gay gắt bởi các nhà phê bình, với lời chỉ trích của tác giả Richard Harrington từ The Washington Post khi gọi Minogue là "nữ diễn viên tồi nhất trong thế giới tiếng Anh". Cô sau đó xuất hiện cùng Pauly ShoreStephen Baldwin trong bộ phim Bio-Dome vào năm 1996. Cô cũng góp mặt trong bộ phim ngắn năm 1995, Hayride to HellDiana & Me vào năm 1997.

Video âm nhạc của "Where the Wild Roses Grow" (1995) (trái) được lấy cảm hứng từ bức họa Ophelia của John Everett Millais (1851/52) (phải).

Trong năm 1995, Minogue kết hợp cùng nghệ sĩ người Úc Nick Cave trong bài hát "Where the Wild Roses Grow". Cave có hứng thú trong việc hợp tác cùng Minogue kể từ khi nghe bài hát "Better the Devil You Know", cho rằng bài hát có chứa "một trong những ca từ mãnh liệt và day dứt nhất của dòng nhạc pop".[37] Video âm nhạc được lấy cảm hứng từ bức họa Ophelia (1851–1852) của John Everett Millais, khi Minogue xuất hiện như một người phụ nữ bị sát hại, cơ thể cô nổi lên trên mặt hồ khi một con rắn bơi đến. Đĩa đơn nhận được sự chú ý đông đảo tại Châu Âu, nơi nó vươn lên top 10 tại nhiều quốc gia, và đạt đến ngôi Á quân tại Úc.[38] Bài hát thắng giải ARIA Awards cho "Bài hát của năm" và "Phát hành pop xuất sắc nhất".[39] Theo những lần xuất hiện tại đêm nhạc cùng Cave, cô phổ lại lời bài hát "I Should Be So Lucky" theo lối thơ tại Royal Albert Hall, Luân Đôn.[40]

Đến năm 1997, Minogue đang có mối tình cùng nhiếp ảnh gia người Pháp Stéphane Sednaoui, người ủng hộ cô phát triển óc sáng tạo của mình.[41] Cùng lấy cảm hứng từ nền văn hóa Nhật Bản, cả hai đã tạo nên hình tượng kết hợp giữa "nữ siêu anh hùng geishamanga" cho những tấm ảnh nằm trong album phòng thu thứ 6 của Minogue Impossible Princess và video cho "German Bold Italic", một sự kết hợp của Minogue cùng Towa Tei.[42] Cô bày tỏ niềm cảm hứng từ âm nhạc của những nghệ sĩ như Shirley MansonGarbage, Björk, TrickyU2, và các nhạc sĩ người Nhật Bản như Pizzicato Five và Towa Tei.[43] Album còn xuất hiện nhiều sự hợp tác cùng các nhạc sĩ như James Dean BradfieldSean Moore của Manic Street Preachers. Chủ yếu lấy nhạc nhảy làm bối cảnh chính, Minogue phản bác lại những ý kiến cho rằng cô đang cố trở thành một nghệ sĩ độc lập.[44] Thừa nhận việc có ý định thoát khỏi những nhận thức mà cô từng tạo dựng ở thưở đầu sự nghiệp, cô chia sẻ việc sẵn sàng "quên đi sự chỉ trích đau đớn" và "chấp nhận quá khứ, giữ lấy nó, sử dụng nó".[40] Video âm nhạc cho "Did It Again" có tưởng nhớ lại những hiện thân trước đây của cô.[45] Được đổi tên thành Kylie Minogue tại Anh Quốc sau cái chết của Công nương Diana, đây là album có lượng doanh số thấp nhất trong sự nghiệp của cô. Cuối năm đó, một chiến dịch của Virgin Radio khẳng định, "Chúng tôi đã làm một điều gì đó để cải thiện đĩa thu âm của Kylie: chúng tôi cấm chúng".[9] Tại Úc, album đạt thành công khi có 35 xuất hiện trên bảng xếp hạng.[46]

Chuyến lưu diễn Intimate and Live vào năm 1988 của cô được mở rộng theo yêu cầu.[47] Thống đốc bang Victoria, Jeff Kennett, chủ trì một buổi kết nạp công dân cho Minogue tại Melbourne,[48] và cô vẫn giữ được sự quan tâm tại Úc bởi những màn trình diễn trực tiếp, có bao gồm tại Sydney Gay and Lesbian Mardi Gras 1998,[47] tiết mục mở màn tại Crown Casino thuộc Melbourne,[49] và tại Fox Studios, Sydney vào năm 1999, nơi cô trình bày "Diamonds Are a Girl's Best Friend" của Marilyn Monroe[50] và đêm nhạc Giáng sinh tại Dili, Đông Timor, kết hợp cùng United Nations Peace-Keeping Forces.[50] Cũng trong thời gian này, cô tham gia một vai nhỏ trong bộ phim năm 2000 Cut.

1999–2004: Light Years, FeverBody Language[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Minogue rời Deconstruction Records, cô trình diễn song ca cùng Pet Shop Boys trong album phòng thu Nightlife của họ và tham gia trình diễn trong vở The Tempest của soạn giả Shakespeare tại Barbados trong nhiều tháng.[51] Sau đó, cô xuất hiện trong bộ phim Sample People và thu âm một phiên bản mới cho bài hát "The Real Thing" của Russell Morris trong phần nhạc phim.[51] Vào tháng 4 năm 1999, cô ký hợp đồng cùng hãng thu âm Parlophone.[52] Hãng mong muốn tái tạo lại hình ảnh nghệ sĩ nhạc pop nguyên bản của Minogue, điều mà cô đã phần nào thay đổi trong thời gian hợp tác cùng Deconstruction Records.[53]

Vào tháng 9 năm 2000, Minogue cho phát hành album phòng thu thứ 7, Light Years. Album là tập hợp của những bài hát nhạc nhảy, với những ảnh hưởng sâu sắc của dòng nhạc disco. Album nhận được phản hồi tích cực và đạt thành công rộng khắp Châu Âu, Úc, Châu Á và New Zealand.[54] Đĩa đơn đầu tiên, "Spinning Around" trở thành đĩa đơn đạt ngôi đầu bảng tại Anh Quốc trong suốt 10 năm. Ở video âm nhạc của bài hát, Minogue xuất hiện trong chiếc quần chẽn vàng, được xem là "thương hiệu" của cô sau này.[55][56] Đĩa đơn thứ hai, "On a Night Like This" đạt ngôi quán quân tại Úc[57] và ngôi Á quân tại Anh Quốc.[21] "Kids", một bản song ca cùng Robbie Williams, cũng đồng thời đạt đến vị trí thứ 2 tại Anh Quốc.[21] Tại lễ bế mạc kỳ Thế vận hội Sydney 2000, Minogue tham gia trình diễn "Dancing Queen" của ABBA và đĩa đơn "On a Night Like This".[58] Sau đó, cô thực hiện chuyến lưu diễn cháy vé On a Night Like This Tour tại Úc và Anh Quốc. Các đêm diễn mang phong cách của Sân khấu Broadway và được lấy ý tưởng từ những vở như 42nd Street, những bộ phim như Anchors Aweigh, South Pacific, các yếu tố nhạc kịch của Fred AstaireGinger Rogers hay những màn trình diễn trực tiếp của Bette Midler.[59] Cô được tán dương bởi phong cách mới mẻ và tái hiện lại được những thành công trước đây của mình trong chuyến lưu diễn. Cô giành được một giải Mo cho "Nghệ sĩ trình diễn của năm".[60] Cô cũng xuất hiện trong bộ phim Moulin Rouge! năm 2001 với vai "Cô tiên xanh".[61]

Minogue trình diễn tại đêm nhạc Money Can't Buy (2003).

Vào tháng 10 năm 2001, cô phát hành album phòng thu thứ 8 Fever, với những ảnh hưởng từ dòng nhạc disco kết hợp cùng các yếu tố của electropopsynthpop của thập niên 80. Album đạt ngôi quán quân tại Úc, Anh Quốc và rộng khắp Châu Âu, với lượng doanh số trên toàn cầu đạt 8 triệu bản.[62] Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "Can't Get You Out of My Head" là thành công lớn nhất trong sự nghiệp của cô, khi đạt vị trí đầu bảng tại hơn 40 quốc gia[63] và có doanh số vượt hơn 5 triệu bản.[64] Cô đem về 4 giải ARIA, trong đó có giải "Thành tựu nổi bật nhất"[65] và hai giải Brit cho "Nữ nghệ sĩ quốc tế xuất sắc nhất" và "Album quốc tế xuất sắc nhất".[66] Sau khi được truyền thanh rộng khắp tại Hoa Kỳ, hãng Capitol Records quyết định phát hành bài hát và toàn bộ album Fever tại quốc gia này vào năm 2002.[67] Album mở đầu tại Billboard 200 ở vị trí thứ 3,[68] trong khi "Can't Get You out of My Head" đạt đến vị trí thứ 7 tại Hot 100.[22] Các đĩa đơn kế tiếp, "In Your Eyes", "Love at First Sight" và "Come into My World" đạt thành công trên toàn cầu, đồng thời đưa hình ảnh của Minogue đến gần hơn với thị trường âm nhạc Bắc Mỹ, chủ yếu là tại các hộp đêm. Theo sự thành công của album này, cô cũng tham gia lưu diễn tại Hoa Kỳ với đêm nhạc hội Jingle Ball.[69][70] Tháng 4 năm 2002, Minogue mở màn cho chuyến lưu diễn được đầu tư lớn nhất trong sự nghiệp, KylieFever2002. Cũng trong năm đó, cô góp giọng trong bộ phim hoạt hình The Magic Roundabout được phát hành vào năm 2005 tại Châu Âu.[71] Vào năm 2003, cô nhận được một đề cử giải Grammy cho "Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất" với "Love at First Sight",[72] và giành giải trong cùng một hạng mục vào năm kế tiếp cho "Come into My World".[73]

2005-12: X, AphroditeThe Abbey Road Sessions[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 2006, Minogue tiếp tục Showgirl: The Homecoming Tour với một buổi trình diễn ở Sydney. Cô phát biểu trước báo chí rằng cô rất xúc động, và cô đã khóc trước khi gửi tới cha mình ca khúc "Especially for You", một nạn nhân của căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Mặc dù những phần vũ đạo được thay thay đổi để phù hợp với tình trạng sức khỏe của cô, phần thay đổi trang phục lâu hơn và kéo dài phần giới thiệu giữa các phần của show diễn để giữ sức khỏe[74]. Các phương tiện truyền thông thông báo rằng Minogue đang biểu diễn một cách mạnh mẽ, tờ Sydney Morning Herald mô tả show diễn như một "buổi biểu diễn công phu" và "không có gì ít hơn một chiến thắng"[75]. Đêm sau đó, Minogue được Bono mời biểu diễn bài "Kids" trong tour diễn Vertigo Tour của U2 tại Úc. Nhưng Minogue đã buộc phải hủy sự góp mặt của cô trong tour diễn của U2 do bị kiệt sức[76]. Trong 2 buổi biểu diễn cuối cùng có sự góp mặt của em gái cô là Dannii Minogue, màn trình diễn chung đầu tiên của họ kể từ những năm cuối thập niên 80[77]. Những buổi diễn của Minogue khắp nước Úc không ngừng thu hút khán giả, và sau khi nghỉ Giáng sinh với gia đình, cô tiếp tục sang Châu Âu thực hiện 6 buổi biểu diễn ngoài trời tại Wembley Arena, trước khi tới Manchester cho 6 buổi biểu diễn tiếp theo. Ngày 31 tháng 12 năm 2006, cô đón năm mới ngoài show diễn tại Wembley Arena, London[78]. Tháng 11 năm 2007, Minogue phát hành X, album phòng thu thứ 10, đánh dấu sự trở lại của cô[79]. Phong cách electro của album được sản xuất và sáng tác bởi các cộng tác viên cũ như Guy Chambers, Dennis Cathy, Richard Stannard và những người mới như Bloodshy & Avant, Calvin Harris[79]. Hình ảnh của Minogue hiện qua video "2 Hearts", cô và William Parker kết hợp phong cách của những nhà hát kabuki ở Nhật và các câu lạc bộ đêm tại London. Album là những trải nghiệm của Minogue với căn bệnh ung thư, cô trả lời khi so sánh X với những album trước của cô: "Kết luận cuối cùng của tôi là nếu tôi làm một album với những bài hát về bản thân, nó sẽ trở thành một Impossible Princess thứ 2 và bị đánh giá như nhau"[79].

Tại Anh và Úc, X ban đầu được tiêu thụ một cách chậm chạp, được giải thích là do đĩa đơn đầu tiên "2 Hearts"[79], mặc dù các màn trình diễn quảng bá đang dần được cải thiện[80]. Tại Mỹ, khi X được phát hành chính thức vào tháng 4 năm 2004[81], nó không thể lọt nổi vào Top 100 album dù được quảng bá rất tích cực[68]. Giới chuyên môn cho rằng doanh thu thấp của album là do sự lựa chọn sai lầm "All I See" làm đĩa đơn tại Mỹ, mà lẽ ra nên phát hành thử tại Anh, nơi Minogue đã có thể thành công hơn. Cô gọi thị trường Mỹ là "thật sự khó tính", và nói "Bạn có nhiều cơ hội hơn trên radio. Để biết được nơi tôi phù hợp ở thị trường đó quả thật rất khó"[82].

Tháng 12 năm 2007, Minogue trình diễn 2 bài hát "Can't Get You Out of My Head" và "2 Hearts" tại buổi hòa nhạc Giải Nobel hòa bìnhOslo, Na Uy với nhiều nghệ sĩ khác[83][84], và sau đó biểu diễn tại vòng chung kết X Factor với người thắng cuộc Leon Jackson, trong khi Dannii Minogue là người cố vấn[85]. Từ tháng 3 năm 2008, Minogue quảng bá cho X với tour diễn tại Châu Âu, KylieX2008, được đầu tư tới 10 triệu bảng Anh[68][86]. Tour lưu diễn với 53 buổi biểu diễn khắp Châu Âu đến tận tháng 8 mới kết thúc. Tour diễn được rất được ủng hộ và vé bán rất chạy, tại Anh, vé cho 8 buổi biểu diễn đã bán hết chỉ trong vòng 30 phút[87].

Cuối năm 2007, có công bố chính thức Minogue sẽ được nhận huân chương OBE (hiệp sĩ hoàng gia Anh) từ nữ hoàng Anh từ nữ hoàng Anh Elizabeth II vì những đóng góp không ngừng cho âm nhạc[88]. Minogue phát biểu: "Tôi rất ngạc nhiên khi thấy những đóng góp của mình được trân trọng. Tôi cảm thấy sâu xa mình đã được thừa nhận tại Anh, một ngôi nhà khác của tôi"[89]. Cô chính thức được tặng huân chương OBE vào tháng 7 năm 2008 từ Thái tử Charles[90]. Sau đó không lâu, Minogue được bình chọn là nhân vật được người Anh yêu mến nhất[91]. Cũng trong năm 2008, cô đoạt giải "Nữ nghệ sĩ quốc tế xuất sắc nhất" tại giải BRIT[92] và nhận huân chương Ordre des Arts et des Lettres của Pháp vào tháng 5, danh hiệu văn hóa cao nhất của nước Pháp[93].

2013–nay: The Voice và Kiss Me Once[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1989, Minogue đóng trong bộ phim The Delinquents kể về một cô gái trẻ lớn lên tại Úc trong những năm cuối của thập niên 50. Cùng với sự ra đời của tác phẩm này, danh tiếng của cô cũng nổi lên trong Neighbours. Nhưng thành công của cô trong cả hai lĩnh vực, âm nhạc và phim ảnh cũng chỉ là những thành công mang tính thương mại[94][95] chứ không được giới chuyên môn đánh giá cao[96]. Năm 1994, cô xuất hiện trong vai Cammy bộ phim hành động mang tên Street Fighter (1994), dựa trên series game hành động cùng tên. Bộ phim cũng bị nhận nhiều lời chê bôi từ phía các nhà phê bình. Richard Harrington – nhà phê bình phim ảnh của báo The Washington Post - gọi cô là "nữ diễn viên nói tiếng Anh tồi nhất thế giới"[97]. Trong phim Moulin Rouge! (2001), Minogue đóng vai nàng tiên xanh và hát một đoạn The Sound of Music[98]. Năm 2002, cô tham gia lồng tiếng cho bộ phim The Magic Roundabout trong vai một cô gái tên là Florence. Cô còn hát ca khúc chủ đề của bộ phim và nó là một trong 2 bài bài hát không bị thay thế khi phim công chiếu tại Bắc Mỹ.

Tháng 4 năm 2007, tờ New of the World đưa tin Minogue sẽ tham gia tập phim "Voyage of the Damned" trong series phim truyền hình Doctor Who[99]. Thông tin này được công bố chính thức trên kênh BBC vào ngày 3 tháng 7 năm 2007, Minogue vào vai cô hầu bàn Astrid Peth[100]. Tập phim được trình chiếu vào ngày 25 tháng 12 năm 2007, với 13.1 triệu người xem, đây là tập phim cao có lượng khán giả đông nhất của bộ phim này từ tập đầu tiên năm 1979[101].

Ngày 10 tháng 11 năm 2007, The Kylie Show được phát trên kênh ITV1. Chương trình bao gồm những màn trình diễn của Minogue và những cảnh quay hậu trường[102]. Show truyền hình đã thu hút đến 5.3 triệu người xem[103]. Minogue cũng xuất hiện trong bộ phim tài liệu White Diamond, được làm bởi chính cô và William Paker từ tháng 6 năm 2007 đến tháng 3 năm 2007. White Diamond giới thiệu về sự trở lại của Minogue với tour diễn Showgirl: The Homecoming Tour năm 2006. Bộ phim được công chiếu tại tháng 10 năm 2007 và phát hành dưới dạng DVD vào tháng 12[104].

Cô cũng xuất hiện với vai trò khách mời trong series phim truyền hình The Vicar of Dibley[105], Men Behaving Badly tại AnhKath & Kim tại Úc, với mục đích quảng bá hình ảnh và tên tuổi của mình. Với Kath & Kim, đã có hơn 600.000 người Melbourne đã xem tập phim có Kylie Minogue[106].

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1990, Minogue có mối quan hệ cá nhân với Michael Hutchence, ca sĩ hát chính của nhóm INXS, để cố gắng được công nhận là một ca sĩ trưởng thành. Còn Hutchene nói sở thích của anh ta là "làm Kylie hư hỏng", và viết bài hát "Suicide Blonde" là ám chỉ cô[107]. Năm 1997, Minogue lại có mối quan hệ khác với nhiếp ảnh gia người Pháp Stephane Sednaoui[108].

Những mối tình của cô, kể cả những mối quan hệ đã kết thúc hay hiện tại với nghệ sĩ người Pháp Olivier Martinez, đều được báo chí và các phương tiện truyền thông đưa tin rộng rãi[109][110][111]. Tháng 2 năm 2008, mối quan hệ giữa Minogue và Matinez được bị phát hiện khi họ bị bắt gặp đi ăn với nhau ở Paris[112]. Báo chí đưa tin hai người sẽ trở lại với nhau và sẽ lập gia đình, nhưng cô bác bỏ những lời đồn đại này. Cô phát biểu: "Tôi đã đi ăn tối với bạn trai cũ và tôi biết sẽ có những lời đồn đại về việc chúng tôi sẽ lập gia đình. Chúng tôi thậm chí đã không nói về chuyện đó"[113].

Căn bệnh ung thư[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chẩn đoán bị ung thư vú, Minogue buộc phải hoãn chuyến lưu diễn Showgirl: The Greatest Hits Tour và sự có mặt của cô tại Glastonbury Festival[114][115].

Thời gian nằm viện và điều trị của cô ở Melbourne đã làm giới truyền thông bùng nổ mạnh mẽ, đặc biệt là tại Úc, nơi mà thủ tướng John Howard lên tiếng ủng hộ Minogue[116]. Cũng như giới tiện truyền thông, người hâm nộ của cô bắt đầu tập hợp bên ngoài dinh thự Victorian tại Melbourne. Steve Bracks cảnh báo mọi hành động xâm phạm sự riêng tư của gia đình Minogue do các paparazzi đều không được pháp luật Úc tha thứ[117]. Phát biểu này của Bracks trở thành câu nói tiêu biểu trong việc chỉ trích các paparazzi[118][119].

Minogue trải qua cuộc phẫu thuật vào ngày 21 tháng 5 năm 2005 tại bệnh viện CabriniMalvern[116]. Những người bạn của cô như Olivia Newton-John đã phải cố gắng rất nhiều mới từ chối hết những lời yêu cầu vào thăm cô của những người hâm mộ và giới báo chí[120]. Không lâu sau, Minogue bắt đầu chữa bệnh bằng hóa chất và chế độ sinh hoạt riêng.

Kylie xuất hiện trước công chúng để cảm ơn những người hâm mộ đã ủng hộ cô suốt thời gian qua, động viên họ không nên quá lo lắng cho cô. Ngày 8 tháng 7 năm 2005, cô lần đầu xuất hiện sau khi phẫu thuật trong một chuyến viếng thăm làng trẻ em ung thư tại bệnh viện Royal Children của thành phố Melbourne. Sau đó, cô quay lại Pháp nơi cô tham gia điều trị hoá học tại Viện Gustave-Roussy, Villejuif gần Paris[121].

Tháng 12 năm 2005, Minogue phát hành đĩa đơn "Over the Rainbow", một bản thu âm trực tiếp từ Showgirl Tour. Đầu năm 2006, Minogue bắt đầu xuất hiện trên các phương tiện truyền thông thông báo về những kế hoạch mới cũng như tình hình sức khỏe đang tiến triển vủa cô. Tháng 6 năm 2006, cô bắt đầu công việc thu âm album mới[122] với sự tham gia của Scissor Sisters, Steve Anderson, Richard Stannard, Johnny Douglas, Ash Thomas, và Teddy Riley, đồng thời hoàn thành nốt Showgirl Tour với cái tên mới Showgirl: The Homecoming tour.

Cuốn sách Minogue viết dành cho trẻ em, The Showgirl Princess được viết trong thời kì cô bắt đầu bình phục được xuất bản tháng 10[123] năm 2006 và "Darling", nước hoa của cô cũng được giới thiệu vào tháng 11[124]. Xuất hiện trên chương trình The Ellen DeGeneres Show tại Mỹ, Minogue nói bệnh ung thư của cô đã từng bị chẩn đoán nhầm và: "Một người nào đó trong trang phục trắng và dùng những dụng cụ y tế thì không phải lúc nào cũng đúng"[125], nhưng sau đó cô cũng tỏ lòng kính trọng của mình với các bác sĩ[126].

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Tour lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai diễn
1989 The Delinquents Lola Lovell
1994 Street Fighter Cammy
1995 Hayride to Hell The Girl
1996 Misfit
1996 Bio-Dome Dr. Petra von Kant
1997 Diana & Me Kylie Minogue
2000 Cut Hilary Jacobs
2000 Sample People Jess
2001 Moulin Rouge! Bà tiên xanh
2005 The Magic Roundabout Florence (lồng tiếng)
2007 White Diamond Kylie Minogue

Đĩa đơn quán quân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất[127]
Flag of Europe.svg
Châu Âu
Flag of England (bordered).svg
Anh
Flag of Australia.svg
Úc
Flag of Ireland.svg
Ireland
Flag of Germany.svg
Đức
Flag of the United States.svg
Mỹ
Newworldmap.svg
Thế giới
1987 "The Loco-Motion" 1 2 1 1 3 3 9
"I Should Be So Lucky" 1 1 1 1 1 28 6
1988 "Got to Be Certain" 3 2 1 6 6
"Especially for You" (với Jason Donovan) 1 1 2 1 10
1989 "Hand on Your Heart" 3 1 4 1 17
1990 "Never Too Late" 11 4 14 1 45
"Tears on My Pillow" 2 1 20 2
1994 "Confide in Me" 9 2 1 12 50
2000 "Spinning Around" 3 1 1 4 62 17
"On a Night Like This" 10 2 1 16 72 25
2001 "Can't Get You out of My Head" 1 1 1 1 1 7 1
2002 "In Your Eyes" 7 3 1 4 18 2
"Love at First Sight" 1 2 3 7 16 23 4
2003 "Slow" 1 1 1 5 8 91 4
2004 "I Believe in You" 1 2 6 9 12 4
2007 "2 Hearts" 5 4 1 12 13 7
Tổng Đĩa đơn quán quân 7 7 10 6 2 0 1

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Voice star Kylie Minogue takes up residence in luxury Coogee pad”. The Daily Telegraph. 30 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ Cairns, Dan (ngày 1 tháng 2 năm 2009). “Synth pop: Encyclopedia of Modern Music”. The Times (London). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012. 
  3. ^ “Kylie Minogue – Aphrodite (Review)”. Urb.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012. 
  4. ^ a ă â b Bright, Spencer (ngày 9 tháng 11 năm 2007). “Why we love Kylie – By three of the people who know her best”. Daily Mail (London). Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009. 
  5. ^ Pg. 11. Kylie by Sean Smith.
  6. ^ Tom Rawstorne (2 tháng 2 năm 2010). “Meet Kylie Minogue's criminal ancestors | Mail Online”. London: Dailymail.co.uk. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2014. 
  7. ^ “Pop princess is a survivor”. The Sydney Morning Herald. Ngày 17 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  8. ^ a ă Pg. 13. Kylie by Sean Smith.
  9. ^ a ă â Lister, David (ngày 23 tháng 2 năm 2002). “Kylie Minogue: Goddess of the moment”. The Independent (London). Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  10. ^ Wearring, Miles (ngày 28 tháng 5 năm 2008). “Kylie's life on screen”. Herald Sun. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  11. ^ Adams, Cameron (ngày 2 tháng 8 năm 2007). “Kylie Minogue – 20 years on”. Herald Sun. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. 
  12. ^ Smith, p. 16
  13. ^ Simpson, Aislinn (ngày 27 tháng 5 năm 2008). “Kylie Minogue celebrates 40th birthday”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  14. ^ “The Logies”. TelevisionAU. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2006. 
  15. ^ Smith, p. 18
  16. ^ Maley, Jacqueline (ngày 5 tháng 8 năm 2007). “20 years at the top: she should be so lucky”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  17. ^ “1988: 2nd Annual ARIA Awards”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2012. 
  18. ^ “Transcript of television documentary Love Is in the Air, episode title "I Should Be So Lucky"”. ABC Television. Ngày 2 tháng 11 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2006. 
  19. ^ Smith, p. 219
  20. ^ “1989: 3rd Annual ARIA Awards”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2012. 
  21. ^ a ă â b c d đ e ê g h Brown, Kutner, Warwick, pp. 673–674
  22. ^ a ă “Kylie Minogue, Chart History, Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2009. 
  23. ^ “Kylie Minogue: Got To Be Certain (song)”. Media Jungen. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2009. 
  24. ^ "Certified Awards Search" (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Lưu trữ 11 tháng 10 năm 2009. Enter Kylie Minogue trong khung Search.
  25. ^ “Kylie Minogue - Official Charts Company”. Official Charts Company. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2013. 
  26. ^ Smith, p. 220
  27. ^ “Australian films earning over £200,000 gross at the UK box office, 1979 – March 2006”. Australian Film Commission. Tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  28. ^ “Top five Australian feature films each year, and gross Australian box office earned that year, 1988–2005”. Australian Film Commission. Ngày 31 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  29. ^ Baker and Minogue, p. 29
  30. ^ Baker and Minogue, p. 32
  31. ^ McLuckie, Kirsty (ngày 23 tháng 1 năm 2003). “Dating Danger”. The Scotsman (UK). Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2006. 
  32. ^ Shuker, p. 164
  33. ^ “Kylie Minogue: Greatest Hits (album)”. Media Jungen. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  34. ^ “Kylie Minogue: Confide In Me (song)”. Media Jungen. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  35. ^ Sutherland and Ellis, p. 51
  36. ^ a ă Smith, p. 152
  37. ^ Baker and Minogue, p. 99
  38. ^ “Nick Cave and The Bad Seeds and Kylie Minogue: Where The Wild Roses Grow (song)”. Media Jungen. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  39. ^ “1996: 10th Annual ARIA Awards”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2012. 
  40. ^ a ă Baker and Minogue, p. 112
  41. ^ Baker and Minogue, pp. 107–112
  42. ^ Baker and Minogue, pp. 108–109
  43. ^ Baker and Minogue, p. 108
  44. ^ Petridis, Alex (tháng 10 năm 1997). “Kylie Chameleon”. Mixmag (UK). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2007. 
  45. ^ Baker and Minogue, p. 113
  46. ^ “Kylie Minogue – Impossible Princess (album)”. Media Jungen. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  47. ^ a ă Baker and Minogue, p. 125
  48. ^ Baker and Minogue, p. 127
  49. ^ Baker and Minogue, p. 129
  50. ^ a ă “Kylie: Top 10 Live Performances”. Media Jungen. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  51. ^ a ă Baker and Minogue, p. 146
  52. ^ Baker and Minogue, p. 145
  53. ^ “Interview with Miles Leonard”. Hit Quarters. Ngày 21 tháng 2 năm 2002. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011. 
  54. ^ “Kylie's sweet run of success”. BBC News. Ngày 14 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2009. 
  55. ^ “Style icon Kylie's hotpants go on show at the V&A museum”. Daily Mail (UK). Ngày 15 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. 
  56. ^ Smith, pp. 189–192
  57. ^ “Kylie Minogue: On a Night Like This (song)”. Media Jungen. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2009. 
  58. ^ “Sydney says goodbye”. BBC News. Ngày 1 tháng 10 năm 2000. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. 
  59. ^ Baker and Minogue, pp. 164–165
  60. ^ “Winners – 26th Mo Awards 2001”. Australian Entertainment 'Mo' Awards Incorporated. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. 
  61. ^ Smith, Neil (ngày 22 tháng 6 năm 2001). “Movies: Mouin Rouge (2001)”. BBC News. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  62. ^ “Can Kylie get her groove back”. The Age (Australia). Ngày 31 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2009. 
  63. ^ Gibb, Megan (ngày 28 tháng 5 năm 2008). “Happy Birthday Kylie: 40 milestones to mark 40 years”. The New Zealand Herald (APN). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2009. 
  64. ^ Biggest Selling Singles Since The Year 2000 tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 11 tháng tháng 10 năm 2012). Chart Watch. Yahoo! Music. ngày 1 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2014.
  65. ^ Kazmierczak, Anita (ngày 15 tháng 10 năm 2002). “Kylie sweeps Aussie music awards”. BBC News. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2009. 
  66. ^ “Brit Awards 2002: The winners”. BBC News. Ngày 20 tháng 2 năm 2002. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2009. 
  67. ^ “Kylie's second coming”. The Sydney Morning Herald. Ngày 14 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008. 
  68. ^ a ă â Goodman, Dean (ngày 11 tháng 4 năm 2008). “Kylie Minogue album a flop in the U.S.”. Reuters. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2009. 
  69. ^ Pareles, Jon (ngày 17 tháng 12 năm 2002). “POP REVIEW; The Hit Parade Marches Toward a Kind of Reality”. The New York Times. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011. 
  70. ^ “Despite broken foot, Timberlake danced in annual Jingle Ball concert”. The Daily Reporter (Spencer, Iowa). Ngày 17 tháng 12 năm 2002. tr. 9. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011. 
  71. ^ Halligan, Fionnuala (ngày 27 tháng 1 năm 2005). “The Magic Roundabout (La Manege Enchante)”. Screen Daily. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2009. 
  72. ^ “Kylie, Sparro nominated for Grammys”. The Australian. Ngày 4 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2009. 
  73. ^ “Grammy Award winners”. The Recording Academy. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2009. 
  74. ^ Two UK gigs as Kylie resumes tour BBC News, 17 tháng 7 năm 2006
  75. ^ Sams, Christine (12 tháng 11 năm 2006). “Feathered Kylie's fans tickled pink”. Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2006. 
  76. ^ “Kylie Minogue Cancels Performance with U2 Due To Exhaustion”. Spotlighting News. 14 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2006. 
  77. ^ Houghton, Matt. Kylie and Dannii perform together in Oz Digital Spy, 18 tháng 12 năm 2006
  78. ^ Victoria Newton (13 tháng 12 năm 2006). “Kylie UK New Year's Eve gig”. The Sun. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publishyear= (trợ giúp)
  79. ^ a ă â b Adams, Cameron (ngày 17 tháng 1 năm 2008). “Kylie Minogue talks about leaks, love and moving on”. Herald Sun (News). Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2008. 
  80. ^ Sinclair, David (28 tháng 7 2008). “Kylie Minogue at the O2 Arena, London”. The Times. Times Newspapers Ltd. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2008. 
  81. ^ “Will Kylie Minogue 'X' Madonna Off The Album Chart?”. Access Hollywood. 8 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008. 
  82. ^ Mitchell, Peter (11 tháng 4 năm 2008). “Kylie lacks X-factor in US”. Herald Sun. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2008. 
  83. ^ “Nobel Peace Prize Concert 2007”. nobelpeaceprize.org. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2007. 
  84. ^ Kylie heats up Oslo in sexy PVC number to honour Al Gore The Daily Mail
  85. ^ Kylie and Jason sing on X Factor BBC News
  86. ^ Kylie's tour to kick off in Paris. The Daily Telegraph, 29 tháng 4 năm 2008
  87. ^ Williams, Owen. Kylie Minogue’s concert tickets sell-out in 30 minutes Showbiz Spy, 4 tháng 12 năm 2007
  88. ^ “Parkinson and Minogue top honours”. BBC News. 29 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2007. 
  89. ^ Gammell, Caroline. "Kylie awarded OBE in New Year Honours list". The Daily Telegraph, 29 tháng 12 năm 2007
  90. ^ BBC NEWS | Entertainment | Kylie attends Palace for honour
  91. ^ Kylie Minogue is voted Great Britain's favourite celebrity - mirror.co.uk
  92. ^ Kylie Minogue is voted Great Britain's favourite celebrity - mirror.co.uk
  93. ^ Kylie receives top French honour ABC News, 6 tháng 5 năm 2008
  94. ^ “Australian films earning over £200,000 gross at the UK box office, 1979–March 2006”. Australian Film Commission. Tháng 4 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  95. ^ “Top five Australian feature films each year, and gross Australian box office earned that year, 1988–2005”. Australian Film Commission. 31 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  96. ^ “The Delinquents – Review”. Time Out London. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  97. ^ Harrington, Richard (24 tháng 12 năm 1994). “Street Fighter”. Washington Post. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  98. ^ Smith, Neil. "Moulin Rouge (2001) review". BBC, 22 tháng 6 năm 2001
  99. ^ Graham, Polly. “Return of the Cyber Woman”. News of the World. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2007. 
  100. ^ "Step Back In Time". BBC, 3 tháng 7 năm 2007
  101. ^ "Titanic Success!". BBC, 26 tháng 12 năm 2007
  102. ^ "Kylie and Dannii recreate infamous Dynasty catfight for TV special". The Daily Mail, truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2007
  103. ^ "Weekly Viewing Summary (see w.e 11/11/07)". BARB, truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2007
  104. ^ Kylie thanks fans at film launch. BBC News, truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2007
  105. ^ “In pictures: Kylie's pop career (picture 5)”. BBC News. 17 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2007. 
  106. ^ Miller, Kylie (24 tháng 11 năm 2004). “Kylie joins foxy morons for ratings winner”. The Age. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008. 
  107. ^ McLuckie, Kirsty (23 tháng 1 năm 2003). “Dating Danger”. The Scotsman. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2006. 
  108. ^ Baker; Minogue. Kylie: La La La. tr. tr. 108.  Đã bỏ qua tham số không rõ |coauthors= (trợ giúp)
  109. ^ “Kylie and partner announce split”. BBC News. 3 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2007. 
  110. ^ “Kylie Minogue and Olivier Martinez split”. The Daily Mail. 3 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2007. 
  111. ^ Davies, Barbara (7 tháng 8 năm 2004). “Kylie at the Crossroads”. Daily Mirror. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  112. ^ Kylie back with 'love-rat' The Daily Telegraph, 22 tháng 7 năm 2008
  113. ^ Kylie denies Olivier baby plans news.com.au, truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2008
  114. ^ “Minogue's cancer shock ends tour”. CNN. 17 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  115. ^ Kylie Minogue has breast cancer BBC News, 17 tháng 5 năm 2007
  116. ^ a ă “Kylie begins cancer treatment”. CNN. 19 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006. 
  117. ^ “Bracks warns paparazzi to back off”. The Age. 18 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  118. ^ Attard, Monica (22 tháng 5 năm 2005). “Peter Carrette and Peter Blunden on Kylie Minogue and the media”. ABC Sunday Profile. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  119. ^ Aiken, Kirsten (22 tháng 5 năm 2005). “Media Coverage of Kylie Minogue: Circulation or Compassion?”. ABC Radio. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  120. ^ Hobson, Judy (26 tháng 10 năm 2006). “'I feel for Kylie. We women should remember that we are much more than just breasts'”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2005. 
  121. ^ “Kylie Minogue est sur la voie de la guérison” (bằng Pháp). TF1. 16 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  122. ^ “Kylie works on new album”. ITV. 4 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  123. ^ Kylie Minogue viết sách cho trẻ em VnExpess, 10 tháng 3 năm 2006
  124. ^ Kylie Minogue lao động để quên bệnh tật VnExpress, 10 tháng 11 năm 2006
  125. ^ Kylie says 'I was misdiagnosed' BBC News, 8 tháng 4 năm 2008
  126. ^ Kylie has 'respect' for doctors BBC News, 9 tháng 4 năm 2008
  127. ^ Chart Position SloKylie.com

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]