Michael Jackson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Michael Jackson
Michael Jackson in 1988.jpg
Jackson trình diễn tại Vienna, Áo
vào tháng 6 năm 1988
Sinh Michael Joseph Jackson
29 tháng 8, 1958(1958-08-29)
Gary, Indiana, Hoa Kỳ
Mất 25 tháng 6, 2009 (50 tuổi)
Los Angeles, California, Hoa Kỳ
Nguyên nhân mất Ngừng tim
Nơi an nghỉ Forest Lawn Memorial Park, Glendale, California, Hoa Kỳ
Nơi cư trú Neverland Ranch, Los Olivos, California, Hoa Kỳ
Công việc
Người phối ngẫu Lisa Marie Presley (kết hôn  1994–1996) «start: (1994)–1996 (1996-end+1:)»"Hôn nhân: Lisa Marie Presley đến Michael Jackson" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Michael_Jackson)
Deborah Jeanne Rowe (kết hôn  1996–1999) «start: (1996)–1999 (1999-end+1:)»"Hôn nhân: Deborah Jeanne Rowe đến Michael Jackson" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Michael_Jackson)
Con cái 3
Cha mẹ Joseph Walter Jackson
Katherine Esther Scruse
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ Hát
Năm hoạt động 1964–2009
Hãng đĩa
Hợp tác với The Jackson 5
Chữ ký Chữ ký của Michael Jackson

Michael Joseph Jackson[1][2] (29 tháng 8 năm 195825 tháng 6 năm 2009) là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất thu âm, vũ công và diễn viên người Mỹ. Ông được mệnh danh là "Vua nhạc pop" hay "Ông hoàng nhạc pop" (tiếng Anh: "King of pop").[3][4][5] Với những đóng góp không ngừng nghỉ của ông đối với ngành công nghiệp âm nhạc, khiêu vũ, thời trang cùng những biến động xung quanh cuộc sống cá nhân, Jackson đã trở thành một trong những cái tên phổ biến nhất nền văn hóa nghệ thuật toàn cầu trong hơn bốn thập kỷ qua.

Là người con thứ 8 trong gia đình nhà Jackson, ông bắt đầu sự nghiệp âm nhạc chuyên nghiệp từ năm lên 11 với vị trí thành viên út trong nhóm nhạc The Jackson 5 và khởi nghiệp đơn ca năm 1971. Trong những năm đầu của thập niên 80, Jackson được xem là nghệ sĩ giải trí thành công nhất. Các video ca nhạc của ông như "Beat It", "Billie Jean" và "Thriller" đã phá vỡ rào cản chủng tộc và nâng tầm giá trị của video ca nhạc như một hình thức nghệ thuật và công cụ quảng cáo. Sự phổ biến của những video này sau đó đã giúp kênh truyền hình âm nhạc non trẻ lúc bấy giờ là MTV trở nên nổi tiếng. Những video sau này như "Black or White" hay "Scream" tiếp tục khẳng định vị trí của ông trên MTV trong thập niên 1990, cũng như xây dựng danh tiếng như một nghệ sĩ lưu diễn đơn ca. Với những màn biểu diễn trên sân khấu hay trong video ca nhạc, Jackson giúp phổ biến nhiều màn vũ đạo phức tạp như robot hay moonwalk. Thêm vào đó, giọng ca và phong cách hát đặc biệt của ông cũng ảnh hưởng lớn tới nhiều thế hệ nghệ sĩ nhạc hip-hop, popR&B đương đại sau này.

Thriller phát hành năm 1982 là album bán chạy nhất mọi thời đại. Những album khác của Jackson, như: Off the Wall (1979), Thriller (1982), Bad (1987), Dangerous (1991) và HIStory (1995) cũng nằm trong số những đĩa nhạc bán chạy nhất thế giới. Là một trong số ít nghệ sĩ hai lần được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, Jackson còn đạt nhiều thành tựu nổi bật khác như hàng loạt kỷ lục Guinness, 13 giải Grammy, 13 đĩa đơn quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ–nhiều hơn bất cứ nam ca sĩ đơn ca nào trong kỷ nguyên Hot 100 và trên 400 triệu album được tiêu thụ trên toàn thế giới.[GC] Jackson đã giành hàng trăm giải thưởng, khiến ông trở thành nghệ sĩ thu âm được trao thưởng nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng.[6] Jackson là nghệ sĩ đầu tiên có một loạt các ca khúc nằm trong top 10 Billboard Hot 100 trong 5 thập kỷ khác nhau khi "Love Never Felt So Good" đạt vị trí thứ 9 vào ngày 21 tháng 5 năm 2014.[7] Jackson thường xuyên tham gia các sự kiện tôn vinh chủ nghĩa nhân đạo của mình; vào năm 2000, sách kỷ lục Guinness công nhận ông đã ủng hộ hơn 39 tổ chức từ thiện, nhiều hơn bất cứ nghệ sĩ giải trí nào.[8]

Tuy nhiên, những vấn đề xung quanh đời tư, trong đó có sự thay đổi ngoại hình và lối cư xử, đã trở thành tâm điểm của dư luận và làm tổn hại tới hình ảnh của Jackson. Giữa thập niên 90, ông bị buộc tội xâm hại tình dục trẻ em, nhưng sau đó được tuyên trắng án vì không đủ chứng cứ.[9] Năm 2005, một lần nữa Jackson phải hầu tòa vì lời cáo buộc tội danh tương tự; sau nhiều lần trì hoãn và xét xử rắc rối, Jackson được tuyên bố trắng án với tất cả các tội danh. Trong khi chuẩn bị cho hàng loạt buổi hòa nhạc trở lại mang tên This Is It, Jackson qua đời do nhiễm độc cấp tính propofolbenzodiazepine vào ngày 25 tháng 6 năm 2009, sau khi tim ngừng đập. Tòa Thượng thẩm Los Angles (Mỹ) liệt cái chết của Jackson như một vụ giết người và bác sĩ riêng của ông bị kết tội ngộ sát. Cái chết của Jackson gây nên sự tiếc nuối trên toàn cầu và lễ tưởng niệm của ông được truyền hình trực tiếp công khai trên toàn thế giới.[10] Forbes xếp Jackson là nhân vật nổi tiếng quá cố giàu có nhất, danh hiệu mà ông đã giữ vững suốt 6 năm liền, với thu nhập 115 triệu đô-la Mỹ.[11]

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1958–75: Tuổi thơ và The Jackson 5[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi nhà thời thơ ấu của Jackson tại Gary, Indiana, nơi đặt những bó hoa tưởng niệm sau khi ông qua đời

Michael Joseph Jackson sinh ngày 29 tháng 8 năm 1958. Ông là con thứ 8 trong số 10 người con trong một gia đình thuộc tầng lớp lao động người Mỹ gốc Phi, sinh sống trong một căn nhà 3 phòng tại đường Jackson, thuộc thành phố công nghiệp Gary, Indiana, một phần của vùng đô thị Chicago.[12][13] Mẹ của ông, Katherine Esther Scruse là một tín đồ nhiệt thành của giáo phái Nhân chứng Giê-hô-va. Bà từng mong muốn trở thành một ca sĩ nhạc đồng quê và dân ca, chơi clarinet và dương cầm, nhưng phải làm bán thời gian tại hãng Sears để hỗ trợ gia đình.[14] Cha của ông, Joseph Walter "Joe" Jackson làm thuê cho Tổng công ty Thép Hoa Kỳ. Joe từng là một võ sĩ và thường biểu diễn với một ban nhạc R&B có tên là "The Falcons" để trang trải thu nhập cho gia đình.[15] Michael lớn lên cùng 3 chị em gái (Rebbie, La ToyaJanet) và 5 anh em trai (Jackie, Tito, Jermaine, MarlonRandy).[16] Người anh thứ sáu, Brandon, là anh em sinh đôi với Marlon, đã mất khi vừa kịp chào đời.[17]

Michael có một mối quan hệ khó khăn với cha của mình, Joe.[18][19] Vào năm 2003, Joe thừa nhận thường xuyên đánh Jackson khi còn nhỏ.[20] Joe còn lăng mạ con trai mình, thường bảo Jackson là đứa trẻ có "mũi to".[21] Jackson khẳng định mình bị chính người cha ruột hành hạ cả về thể xác lẫn tinh thần, trải qua những buổi tập luyện mệt mỏi không ngớt, những trận đòn roi và chửi rủa, mặc dù ông cũng ghi nhận việc kỷ luật nghiêm ngặt của cha mình đóng một vai trò lớn trong sự thành công của mình.[18] Chia sẻ một cách cởi mở về tuổi thơ của mình trong một buổi phỏng vấn cùng Oprah Winfrey vào tháng 2 năm 1993, Jackson thừa nhận thời thơ ấu của mình rất cô độc và bị cô lập.[22] Sự bất mãn về ngoại hình, những lần gặp ác mộng và chứng mất ngủ kinh niên của Jackson, xu hướng vâng lời một cách thái quá, nhất là với cha của ông, cùng tính cách trẻ con trong suốt thời gian trưởng thành, là những điều bộc phát từ ảnh hưởng của sự ngược đãi ông phải chịu đựng thời thơ ấu.[23] Trong một cuộc phỏng vấn với Martin Bashir trong chương trình Living with Michael Jackson vào năm 2003, Jackson thừa nhận mình bị cha làm tổn thương khi còn nhỏ, gợi nhớ lại khi Joseph ngồi trên một chiếc ghế, trên tay là cái thắt lưng da trong khi các con đang luyện tập, ông nói "nếu bạn không làm đúng những gì bố tôi muốn, ông ta sẽ xé xác bạn."[24][25] Cha mẹ của Jackson không đồng tình với những lời cáo buộc trên, khi Katherine khẳng định tuy hiện nay được xem là một hành động lạm dụng, nhưng trước đây đòn roi là một cách thông thường để kỷ luật con trẻ.[26][27] Jackie, Tito, Jermaine và Marlon cũng cho rằng cha mình không hề lạm dụng mà chỉ là hiểu lầm.[28]

Vào năm 1964, Michael và Marlon gia nhập The Jackson Brothers—một ban nhạc do cha họ thành lập, bao gồm các anh em trai Jackie, Tito và Jermaine—trong vai trò nhạc sĩ hỗ trợ chơi congatambourine.[29] Vào năm 1965, Jackson bắt đầu hát chính cùng anh trai Jermaine, với tên nhóm được đổi sang The Jackson 5.[16] Năm kế đến, nhóm thắng giải tại một cuộc thi tìm kiếm tài năng lớn, khi Jackson trình diễn điệu nhảy theo bài hát ăn khách năm 1965 của Robert Parker, "Barefootin'".[30] Từ năm 1966 đến 1968, ban nhạc chu du khắp vùng Trung Tây, thường biểu diễn mở màn cho những nghệ sĩ như Sam & Dave, the O'Jays, Gladys KnightEtta James tại nhiều câu lạc bộ và nơi tụ tập của người da màu mà người ta thường gọi bằng cái tên "chitlin' circuit". Nhóm cũng xuất hiện tại các hộp đêm và quầy rượu, nơi thường dành cho các tiết mục thoát y; hội trường địa phương và tại trường trung học.[31][32] Vào tháng 8 năm 1967, trong lúc lưu diễn tại bờ Đông Hoa Kỳ, nhóm giành được một chương trình biểu diễn hàng tuần ở Apollo Theater, Harlem.[33]

The Jackson 5 thu âm nhiều bài hát, trong đó có "Big Boy" (1968), đĩa đơn đầu tiên của họ, cùng Steeltown Records, một hãng thu âm tại Gary, Indiana;[34] trước khi ký kết cùng hãng đĩa Motown vào năm 1969.[16] The Jackson 5 rời khỏi Gary vào năm 1969 và dọn đến khu vực Los Angeles, nơi họ tiếp tục thu âm cho Motown.[35] Rolling Stone sau này mô tả Michael thời non trẻ là một "thần đồng" với "khả năng âm nhạc trời phú," viết rằng ông "nhanh chóng trở thành người thu hút và giọng ca chính."[36] Nhóm mở ra một kỷ lục xếp hạng mới, khi phát hành 4 đĩa đơn đầu tay "I Want You Back" (1969), "ABC" (1970), "The Love You Save" (1970) và "I'll Be There" (1970)—đều đạt vị trí quán quân trên Billboard Hot 100.[16] Vào tháng 5 năm 1971, gia đình Jackson dời đến một ngôi nhà lớn hơn tại Encino, California,[37] nơi Michael trưởng thành từ ca sĩ nhí sang một thần tượng tuổi thiếu niên.[38] Khi Jackson chuyển sang sự nghiệp đơn ca vào thập niên 1970, ông tiếp tục gắn liền với Jackson 5 và Motown. Giữa năm 1972 và năm 1975, Michael phát hành 4 album phòng thu cùng Motown: Got to Be There (1972), Ben (1972), Music & Me (1973) và Forever, Michael (1975).[39] "Got to Be There" và "Ben", các bài hát chủ đề trích từ hai album đơn ca đầu tay của Michael, là những đĩa đơn thành công, cùng phần trình bày lại bài hát "Rockin' Robin" của Bobby Day.[40]

The Jackson 5 sau này được mô tả là "một ví dụ điển hình cho những nghệ sĩ da màu bứt phá thành công."[41] Doanh số của nhóm bắt đầu sụt giảm vào năm 1973, khi mối quan hệ giữa ban nhạc và Motown trở nên xấu đi và hãng đĩa từ chối nhiều yêu cầu sáng tạo của họ. Dù vậy, The Jackson 5 tiếp tục giành thêm nhiều đĩa đơn đạt top 40 nữa, bao gồm đĩa đơn đạt top 5 "Dancing Machine" (1974), trước khi chấm dứt với Motown vào năm 1975.[42]

1975–81: Chuyển sang hãng Epic và Off the Wall[sửa | sửa mã nguồn]

Michael (giữa) khi cùng The Jacksons bắt đầu thực hiện chương trình truyền hình riêng vào năm 1976

Vào tháng 6 năm 1975, The Jackson 5 ký hợp đồng với Epic Records, một hãng đĩa thuộc biên chế của CBS Records[42] và đổi tên thành The Jacksons. Em trai Randy chính thức gia nhập ban nhạc vào khoảng thời gian này, trong khi Jermaine chọn ở lại với hãng Motown và theo đuổi sự nghiệp đơn ca.[43] The Jacksons tiếp tục lưu diễn quốc tế và phát hành thêm 6 album nữa từ năm 1976 đến năm 1984. Michael, nhạc sĩ chính của nhóm trong thời gian này, đã viết nên nhiều nên bài hát thành công như "Shake Your Body (Down to the Ground)" (1979), "This Place Hotel" (1980) và "Can You Feel It" (1980).[29] Jackson bắt đầu nghiệp diễn xuất vào năm 1978, khi ông đóng vai bù nhìn rơm Scarecrow trong The Wiz, một bộ phim của đạo diễn Sidney Lumet cùng với Diana Ross, Nipsey RussellTed Ross.[44] Phim là một thất bại lớn về doanh thu.[45] Trên phim trường, Jackson gặp gỡ Quincy Jones, người biên tập phần âm nhạc cho bộ phim và Jones đồng ý sản xuất album đơn ca tiếp theo của Jackson, Off the Wall.[46] Năm 1979, Jackson bị gãy mũi khi đang thực hiện một vũ đạo phức tạp. Tuy nhiên, cuộc phẫu thuật không thành công như dự kiến; ông phàn nàn vì khó thở và có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp của mình. Ông đã liên lạc với Bác sĩ Steven Hoefflin, người thực hiện cuộc sửa mũi thứ hai và những lần tiếp theo sau này của Jackson.[47]

Off the Wall (1979), một thành quả hợp tác giữa Jackson và Jones, đã giúp định hình một Jackson từ âm nhạc "bubblegum pop" thưở nhỏ sang âm nhạc chững chạc, trưởng thành, phù hợp với thị hiếu của nhiều thành phần lứa tuổi hơn.[38] Ngoài Jackson, các nhạc sĩ khác xuất hiện trong album bao gồm Rod Temperton, Stevie WonderPaul McCartney. Album đạt thành công trên toàn thế giới và lập kỷ lục trở thành album đầu tiên ra mắt 4 đĩa đơn nằm trong top 10 tại Hoa Kỳ, trong đó có đĩa đơn quán quân "Don't Stop 'Til You Get Enough" và "Rock With You".[48][49] Album này vươn tới vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng album Billboard 200 và hiện đã tiêu thụ hơn 20 triệu bản trên thế giới.[50]

Vào năm 1980, Jackson thắng 3 giải thưởng Âm nhạc Mỹ: "Album Soul/R&B được yêu thích nhất" cho Off the Wall, "Nam nghệ sĩ Soul/R&B được yêu thích nhất" và "Bài hát Soul/R&B được yêu thích nhất" cho "Don't Stop 'Til You Get Enough".[51][52] Ông cũng giành giải Billboard Year-End cho "Nghệ sĩ da màu xuất sắc nhất" và "Album da màu xuất sắc nhất"; giải Grammy đầu tiên trong sự nghiệp cho "Trình diễn giọng R&B nam xuất sắc nhất" cùng "Don't Stop 'Til You Get Enough" vào năm 1979.[48][53] Dù đạt thành công, Jackson lại cảm thấy Off the Wall có thể mang sức ảnh hưởng rộng rãi hơn nữa và xác định sản phẩm tiếp theo phải thành công ngoài sức tưởng tượng.[54] Vào năm 1980, ông vẫn đảm bảo mức tiền bản quyền cao nhất trong ngành công nghiệp âm nhạc lúc bấy giờ: 37% tiền lợi nhuận album.[55]

1982–83: ThrillerMotown 25: Yesterday, Today, Forever[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1982, Jackson thu âm ca khúc "Someone in the Dark" cho album nhạc truyện của bộ phim E.T the Extra-Terrestrial.[56] Bài hát do Quincy Jones sản xuất này giành một giải Grammy cho "Album xuất sắc nhất dành cho trẻ em" vào năm 1983.[57] Cuối năm đó, Jackson phát hành album Thriller, giúp ông giành thêm 7 giải Grammy,[57][58] 8 giải thưởng Âm nhạc Mỹ và Jackson là người trẻ nhất đoạt Giải Merit.[59][60] Thriller vẫn đang là album bán chạy nhất trong lịch sử âm nhạc, với số lượng bán ra ước tính 65 triệu bản;[61][62] chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ, đây là album đầu tiên giành được 32 chứng nhận Bạch kim, tương đương 32 triệu bản tiêu thụ.[63][64][65] Album góp mặt trong top 10 Billboard 200 suốt 80 tuần liên tiếp, trong khi dẫn đầu 37 tuần. Đây cũng là album đầu tiên có 7 đĩa đơn lọt vào top 10 Billboard Hot 100, bao gồm "Billie Jean", "Beat It" và "Wanna Be Startin' Somethin'".[66] Vào năm 1983, Jackson phát hành "Thriller", một video âm nhạc dài 14 phút do John Landis đạo diễn.[67] "Thriller" được xem là cột mốc "quyết định nên video âm nhạc và phá vỡ rào cản chủng tộc" trên Music Television Channel (MTV), một kênh truyền hình giải trí non trẻ vào thời điểm trên.[38] Vào tháng 12 năm 2009, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ chọn video âm nhạc này trong số 25 bộ phim xuất hiện tại Viện lưu trữ phim quốc gia, như là "những tác phẩm mang tầm quan trọng lâu dài đến văn hóa Mỹ" và sẽ "được bảo quản cho mọi thời đại."[68][69] Tính đến năm 2009, đây là video duy nhất được đăng ký bổ nhiệm.[67][69][70]

Luật sư của Jackson, John Branca nhận thấy ông đang sở hữu mức thuế suất trong ngành công nghiệp âm nhạc vào thời điểm đó: khoảng 2 đô-la cho mỗi album bán ra. Ông cũng thu về lợi nhuận kỷ lục từ doanh số đĩa nhạc. Cuốn video phim tài liệu The Making of Michael Jackson's Thriller bán hơn 350.000 bản chỉ trong vài tháng và giành giải Grammy cho "Video âm nhạc dài xuất sắc nhất".[57] Nhiều sản phẩm nhượng quyền khác như búp bê hình Michael Jackson, xuất hiện trên cửa hiệu vào tháng 5 năm 1984.[71] Nhà tiểu sử J. Randy Taraborrelli viết rằng "Thriller không còn được bán như một món hàng giải trí—một quyển tạp chí, con búp bê, vé xem phim—mà giống như một vật dụng chủ yếu trong gia đình hơn."[72] Tạp chí Time mô tả ảnh hưởng của Jackson vào thời điểm trên như một "ngôi sao của những đĩa hát, sóng truyền thanh và những video nhạc rock; người cứu sống ngành thương mại âm nhạc, một nhạc sĩ đã khởi động nhịp đập cho thập kỷ, một vũ công trên phố xá với vũ điệu lạ mắt nhất của đôi chân, một ca sĩ đã phá bỏ mọi rào cản về thị hiếu, phong cách và cả màu da."[71] The New York Times viết rằng "Trong làng nhạc Pop thế giới, có Michael Jackson và những người khác".[73]

Vào ngày 25 tháng 3 năm 1983, Jackson đoàn tụ với anh em của mình trong chương trình kỷ niệm 25 năm của Motown mang tên Motown 25: Yesterday, Today, Forever. Được ghi hình tại Pasadena Civic Auditorium, chương trình phát sóng ngày 16 tháng 5 năm 1983 trên đài NBC, thu hút khoảng 47 triệu người xem.[74] Jackson ban đầu từ chối biểu diễn vì cho rằng lúc đó mình xuất hiện quá nhiều trên truyền hình; dù vậy, theo yêu cầu của Berry Gordy, Jackson nhượng bộ và đồng ý trình diễn đơn ca.[75] Trong sự kiện, Jackson biểu diễn bài hát "Billie Jean" trong chiếc áo khoác sequin đen và chiếc găng tay đính đá, nơi ông lần đầu trình diễn điệu moonwalk nổi tiếng. Điệu nhảy do cựu vũ công Soul Train và thành viên nhóm Shalamar Jeffrey Daniel dạy cho ông 3 năm trước đó.[76] Theo Mikal Gilmore từ Rolling Stone, "Có những lúc bạn biết mình đang nghe hay thấy một điều gì đó diệu kỳ...điều phi thường ấy đã diễn ra vào đêm đó."[38] Phần trình diễn của Jackson nhận nhiều so sánh với sự xuất hiện của Elvis Presleythe Beatles trên The Ed Sullivan Show.[77] Chương trình thậm chí còn giúp Jackson giành được đề cử giải Emmy đầu tiên.[78][79] Berry Gordy chia sẻ "từ nhịp đầu tiên của Billie Jean, tôi đã bị mê hoặc và khi anh ấy trình diễn màn vũ đạo thương hiệu của mình, tôi đã bị sốc, đó là ma thuật, Michael Jackson đã đi vào quỹ đạo và không bao giờ sa sút."[80]

1984–85: Pepsi, "We Are the World" và sự nghiệp kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 11 năm 1983, Jackson cùng những người anh em của mình đã ký một hợp đồng quảng cáo với hãng PepsiCo với mức thù lao 5 triệu đô-la Mỹ, phá vỡ kỷ lục trong ngành công nghiệp quảng cáo. Chiến dịch đầu tiên của Pepsi diễn ra tại Hoa Kỳ những năm 1983-1984, với khẩu hiệu "Thế hệ mới" ("New Generation"); bao gồm quảng cáo, tài trợ lưu diễn, các sự kiện quan hệ công chúng và trong cửa hàng trưng bày.[81] Ngày 27 tháng 1 năm 1984, Michael và các thành viên khác của the Jacksons đang ghi hình cho một quảng cáo Pepsi Cola do Phil DusenberryAlan Pottasch giám sát.[82] Trước nhiều người hâm mộ trong một đêm nhạc giả định, một tàn pháo hoa vô tình rơi trúng đầu Jackson, khiến da đầu ông bị bỏng 2 độ. Jackson phải trải qua điều trị để làm mờ vết sẹo trên da đầu và có cuộc sửa mũi thứ 3 sau đó không lâu.[47] Pepsi giải quyết vấn đề ngoài vòng pháp luật và Jackson đã trao tặng số tiền đền bù 1.5 triệu đô-la Mỹ đến Trung tâm Y tế Brotman ở Culver City, California. Trung tâm trị bỏng Michael Jackson được đặt ra để vinh danh những đóng góp cao quý của ông.[83] Jackson ký thêm một thỏa thuận với Pepsi vào cuối những năm 1980 với trị giá 10 triệu đô-la Mỹ. Chiến dịch này tiếp cận thị trường toàn cầu với hơn 20 quốc gia và quảng bá cho album Bad của ông cũng như chuyến lưu diễn thế giới cùng tên (1987-88).[81] Mặc dù Jackson đã hợp tác quảng cáo với nhiều công ty khác, chẳng hạn như LA Gear, SuzukiSony, nhưng chưa có chiến dịch nào vượt mặt Pepsi, dẫn đến sự hợp tác với nhiều ngôi sao ca nhạc khác như Britney SpearsBeyoncé Knowles để quảng bá sản phẩm.[81][84]

Jackson tại Nhà Trắng trong sự kiện trao giải vào năm 1984. Tại đây, ông đã gặp mặt Tổng thống Ronald Reagan và Đệ nhất phu nhân Nancy Reagan

Công việc thiện nguyện của Jackson được công nhận vào ngày 14 tháng 5 năm 1984, khi ông xuất hiện tại Nhà Trắng để nhận giải thưởng từ Tổng thống Ronald Reagan cho những đóng góp từ thiện, giúp đỡ người nghiện rượu và lạm dụng ma túy[85] cũng như chiến dịch tuyên truyền "Không lái xe trong lúc say rượu" của cục Quản lý an toàn giao thông. Jackson cũng ủy quyền sử dụng bài hát "Beat It" cho chiến dịch này.[86] Khác với những album sau này, Thriller không có chuyến lưu diễn chính thức để quảng bá, nhưng Victory Tour vào năm 1984 lại phô diễn nhiều bài hát đơn ca của Jackson đến hơn 2 triệu người Mỹ. Đây cũng là chuyến lưu diễn cuối cùng mà ông thực hiện với những anh em của mình.[87] Sau khi gặp nhiều tranh cãi về giá vé, Jackson tổ chức một buổi họp báo và thông báo quyên góp phần lợi nhuận từ Victory Tour cho từ thiện, khoảng từ 3-5 triệu đô-la Mỹ.[88][89]

Jackson đồng sáng tác cùng Lionel Richie trong đĩa đơn từ thiện "We Are the World" (1985).[90] Bài hát được thu âm vào ngày 28 tháng 1 năm 1985[91] và phát hành trên toàn cầu vào tháng 3 năm 1985 nhằm giúp đỡ người nghèo tại Hoa Kỳ và châu Phi.[92] Bài hát thu về 63 triệu đô-la Mỹ để cứu trợ nạn đói[92] và trở thành một trong những đĩa đơn bán chạy nhất thế giới, với 20 triệu bản tiêu thụ.[93] "We Are the World" giành 4 giải Grammy vào năm 1985, bao gồm giải "Bài hát của năm".[90] Dù đạo diễn giải thưởng Âm nhạc Mỹ gỡ bài hát khỏi lễ trao giải vì cảm thấy không phù hợp, chương trình diễn ra vào năm 1986 sử dụng bài hát này để tôn vinh trong dịp kỷ niệm 1 năm. Nhà sáng lập của dự án giành thêm 2 giải AMA: một cho sáng tạo nên bài hát và cho ý tưởng USA for Africa. Jackson, Quincy Jones và nhà quảng bá Ken Kragan nhận giải thưởng đặc biệt cho vai trò sáng tác nên bài hát.[90][91][94][95]

Jackson bắt đầu quan tâm đến ngành xuất bản âm nhạc sau khi hợp tác với Paul McCartney vào đầu thập niên 1980. Ông biết được McCartney thu về xấp xỉ 40 triệu đô-la Mỹ mỗi năm từ bài hát của người khác.[92] Đến năm 1983, Jackson đầu tư vào quyền xuất bản những bài hát của tác giả khác, nhưng chỉ nhận mua lại một ít trong số hàng chục lời mời. Các danh mục âm nhạc mà ông đảm nhận bao gồm Sly Stone với "Everyday People" (1968), Len Barry với "1-2-3" (1965) và Dion DiMucci cùng "The Wanderer" (1961) và "Runaround Sue" (1961); dù vậy, lần bỏ tiền đáng kể nhất của Jackson diễn ra vào năm 1985, khi ông mua lại cổ phần trong ATV Music Publishing sau nhiều tháng thương lượng.[92] ATV sở hữu bản quyền phát hành gần 4000 bài hát, bao gồm phần lớn các bản thu âm của the Beatles do Lennon-McCartney sáng tác, thuộc danh mục của Northern Songs.[96]

Vào năm 1984, nhà đầu tư người Úc Robert Holmes à Court, cũng là người sở hữu ATV Music Publishing, thông báo rao bán danh mục của hãng này.[96] Vào năm 1981, McCartney lên tiếng chào mua với 20 triệu bảng Anh (40 triệu đô-la Mỹ).[92] Theo McCartney, ông đã liên lạc với Yoko Ono để cùng mua lại, với mỗi người giá 10 triệu bảng Anh, nhưng cả hai không đạt đến ý kiến thống nhất.[92][97] Vì không muốn là chủ sở hữu duy nhất những bài hát của the Beatles, McCartney đã từ bỏ ý định của mình.[97] Jackson lần đầu thông báo về cuộc thương lượng này bởi luật sư của ông, John Branca vào tháng 9 năm 1984.[96] Luật sư của McCartney còn đảm bảo với Branca rằng McCartney không có hứng thú trong chuyện đấu thầu. McCartney phát biểu rằng "Vụ này quá đắt đỏ"[92] trong khi các công ty và nhà đầu tư khác lại rất muốn mua lại. Jackson đưa ra số tiền 46 triệu đô-la Mỹ vào ngày 20 tháng 12 năm 1984.[96] Vào tháng 5 năm 1985, người của Jackson chấm dứt đàm phán sau khi phải chi trả hơn 1 triệu đô-la Mỹ trong suốt 4 tháng miệt mài thương lượng.[96] Vào tháng 6 năm 1985, Jackson và Branca biết được Công ty Giải trí của Charles KoppelmanMarty Bandier đã có một thỏa thuận thăm dò cùng Holmes à Court để mua lại ATV Music với số tiền 50 triệu đô-la Mỹ; dù vậy, vào đầu tháng 8, người của Holmes à Court đã liên lạc với Jackson để bàn bạc lại. Vụ việc được thông qua vào ngày 10 tháng 8 năm 1985, khi Jackson nâng giá lên 47.5 triệu đô-la Mỹ.[96] Jackson còn đồng ý đến thăm Holmes à Court tại Úc, nơi ông xuất hiện trên Channel Seven Perth Telethon.[98]

1986–90: Bad, Moonwalk và Neverland[sửa | sửa mã nguồn]

Làn da của Jackson thuộc loại nâu trung bình trong suốt thời thơ ấu, nhưng bắt đầu đến giữa những năm 1980 thì chúng ngày càng trở nên nhạt màu. Sự thay đổi gây ra nhiều hoài nghi đối với công chúng, trong đó có tin đồn ông đang tẩy da.[99] Theo tiểu sử của J. Randy Taraborrelli, vào năm 1984, Jackson được chẩn đoán mắc bệnh bạch biếnluput, khiến màu da ông trắng dần và trở nên nhạy cảm với ánh sáng Mặt trời. Quá trình điều trị càng làm da ông nhạt hơn và việc sử dụng phấn trang điểm để che đi những vùng da xấu trên mặt cũng làm Jackson trông rất trắng.[100] Jackson khẳng định chỉ phẫu thuật nâng mũi 2 lần và không còn chỉnh sửa nào trên mặt mình. Ông giảm cân mạnh vào đầu thập niên 1980 do thay đổi chế độ ăn và mong muốn có "thân hình của vũ công".[101] Nhiều nhân chứng nói rằng Jackson thường xuyên hoa mắt chóng mặt và biếng ăn. Giai đoạn giảm cân sau này trở thành một vấn đề diễn ra định kỳ trong cuộc đời ông.[102]

Jackson trở thành đề tài cho nhiều báo cáo nhạy cảm trong thời gian này. Vào năm 1986, báo lá cải đưa tin Jackson ngủ trong những phòng bội áp khí ôxy để ngăn chặn quá trình lão hóa; với hình ảnh ông nằm trong chiếc hộp trong suốt. Dù không phải sự thật, thông tin này được giới truyền thông khai thác rộng rãi, khiến Jackson phải tự mình phủ nhận câu chuyện này.[103] Sau khi Jackson nhận nuôi một con tinh tinh tên là Bubbles từ phòng thí nghiệm, nhiều báo cáo cho rằng ông càng ngày sống tách biệt với thực tại.[104] Có thông tin viết rằng Jackson được mời mua lại xương cốt của Joseph Merrick ("The Elephant Man") và cho dù không đúng sự thật, Jackson cũng chưa từng phủ nhận câu chuyện này.[105] Tuy ban đầu nhìn nhận những điều này là cơ hội để nổi tiếng, Jackson lại dừng đưa ra những cử chỉ mập mờ đến công chúng. Do vậy, giới truyền thông bắt đầu tự thêu dệt những câu chuyện cho riêng mình.[103][106][107] Những thông tin này đánh vào tâm thức của công chúng, gây nên cảm hứng cho một biệt danh mà Jackson khinh rẻ, "Wacko Jacko".[2][108][109]

Jackson hợp tác với George LucasFrancis Ford Coppola trong dự án phim 3D dài 17 phút mang tên Captain EO, ra mắt vào tháng 9 năm 1986 tại DisneylandEPCOT ở Florida; và vào tháng 3 năm 1987 tại Tokyo Disneyland. Bộ phim có kinh phí 30 triệu đô-la Mỹ này[110] đã thu hút sự chú ý của công chúng ở cả ba công viên. Sự thu hút vẫn tiếp diễn trong thập niên 90 khi Euro Disneyland mở cửa vào năm 1992. Tất cả bốn công viên đều tiếp tục trình chiếu nó trong những năm về sau, lần cuối cùng được nhìn thấy là tại Pháp vào năm 1998.[111] Captain EO sau đó trở lại Disneyland vào năm 2010 sau cái chết của Jackson.[112] Vào năm 1987, Jackson tách khỏi đạo Nhân Chứng Giê-hô-va khi họ không chấp nhận video Thriller.[113][114]

Jackson đang biểu diễn "The Way You Make Me Feel" vào năm 1988

Với sự chờ đợi lớn từ ngành công nghiệp, Jackson phát hành album đầu tiên sau 5 năm, Bad vào năm 1987.[115] Album bán được hơn 30-45 triệu đĩa trên toàn thế giới;[116][117][118][119] giành 2 giải Grammy, trong đó có giải "Video dạng ngắn xuất sắc nhất" cho "Leave Me Alone" vào năm 1989.[57][58] Cùng năm đó, Jackson giành "Giải thưởng thành tựu" tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ cho nhiều kỷ lục cùng Bad: là album đầu tiên có 5 ca khúc leo lên vị trí quán quân Hoa Kỳ là "I Just Can't Stop Loving You", "Bad", "The Way You Make Me Feel", "Man in the Mirror" và "Dirty Diana";[120] là album đầu tiên dẫn đầu tại 25 quốc gia và là album bán chạy nhất thế giới trong năm 1987-88.[121][122][123][124] Jackson mở đầu chuyến lưu diễn đơn ca đầu tiên, Bad World Tour vào ngày 12 tháng 9 năm 1987 và kết thúc ngày 14 tháng 1 năm 1989.[125] Chỉ riêng tại Nhật Bản, chương trình có 14 buổi diễn cháy vé và thu hút 570.000 khán giả, gấp gần 3 lần kỷ lục trước với 200.000 người trong một chuyến lưu diễn.[126] Jackson phá vỡ kỷ lục Guinness khi có 504.000 người đến dự 7 đêm diễn cháy vé tại sân vận động Wembley.[127] Chuyến lưu diễn kéo dài 16 tháng gồm 123 buổi công diễn, thu hút 4,4 triệu người hâm mộ.[128]

Năm 1988, Jackson hoàn thành và phát hành cuốn tự truyện đầu tiên của ông, Moonwalk sau 4 năm và bán được hơn 200.000 bản.[129] Trong cuốn sách, ông viết về thời thơ ấu của mình, ban nhạc The Jackson 5 cũng như những vấn đề liên quan đến diện mạo của bản thân.[130] Moonwalk dẫn đầu danh sách bán chạy nhất của The New York Times.[131] Ông sau đó cho ra mắt một bộ phim mang tên Moonwalker, bao gồm những màn trình diễn trực tiếp và thước phim ngắn, có sự xuất hiện của Jackson và Joe Pesci. Bộ phim ban đầu được dự định chiếu rạp, nhưng do các vấn đề tài chính, bộ phim phát hành dưới dạng video tại nhà. Phim dẫn đầu bảng xếp hạng Billboard Top Music Video Cassette trong 22 tuần lễ, trước khi bị hạ bệ bởi Michael Jackson: The Legend Continues.[132] Tháng 3 năm 1988, Jackson mua một khu đất gần Santa Ynez, California để xây dựng khu điền trang Neverland với giá 17 triệu đô.[133] Ông cho xây dựng khu vui chơi trong khu vực rộng 2.700 mẫu Anh (11 km2), bao gồm bánh xe đu quay, đu ngựa gỗ, rạp chiếu phim và sở thú;[133][134][135] với đội ngũ 40 bảo vệ trên mặt đất.[134] Vào năm 2003, nơi này trị giá xấp xỉ 100 triệu đô-la Mỹ.[136]

Vào năm 1989, thu nhập hàng năm của Jackson từ doanh số album, sản phẩm nhượng quyền và các đêm diễn ước tính đạt 125 triệu đô-la Mỹ.[137] Không lâu sau, ông trở thành người miền Đông đầu tiên xuất hiện trong một quảng cáo truyền hình tại Liên Xô.[132] Với những thành công nối tiếp, Jackson được gọi ví von là "Vua nhạc pop".[3][4][5] Cái tên này do Elizabeth Taylor đặt ra khi bà giới thiệu ông giải "Soul Train Heritage Award" vào năm 1989, công bố rằng: "Anh ấy là một ông vua thực sự của nhạc pop, rocksoul."[138] Vào năm 1990, tổng thống George H. W. Bush trực tiếp trao giải "Nghệ sĩ của thập niên" cho Jackson.[139] Kể từ năm 1985 đến 1990, ông đã quyên góp 455.000 đô-la Mỹ đến United Negro College Fund và lợi nhuận từ đĩa đơn "Man in the Mirror" cho từ thiện,[140][141] Màn trình bày trực tiếp "You Were There" của Jackson tại sinh nhật lần thứ 60 của Sammy Davis Jr. đã giúp ông giành đề cử giải Emmy lần thứ 2.[78][132]

1990–93: Dangerous, Heal The World Foundation và Super Bowl XXVII[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1991, Jackson gia hạn hợp đồng cùng Sony với số tiền kỷ lục 65 triệu đô-la Mỹ,[142] vượt qua hợp đồng của Neil Diamond với Columbia Records.[143] Vào năm 1991, Jackson phát hành album thứ 8, Dangerous mà ông đồng sản xuất cùng Teddy Riley.[144] Dangerous đạt 7 lần chứng nhận đĩa Bạch kim tại Hoa Kỳ và chạm mốc 30 triệu bản trên toàn cầu vào năm 2008.[145][146] Đĩa đơn đầu tiên, "Black or White" đoạt ngôi quán quân Billboard Hot 100 trong 7 tuần và dẫn đầu nhiều bảng xếp hạng quốc gia khác.[147] Đĩa đơn thứ hai, "Remember the Time" có 8 tuần lọt vào top 5 và vươn đến vị trí thứ 3 tại Mỹ.[148] Dangerous là album bán chạy nhất năm 1992 trên toàn cầu và "Black or White" giành giải "Đĩa đơn bán chạy nhất của năm" tại Giải thưởng Âm nhạc Billboard. Tại đây, ông cũng thắng giải "Nghệ sĩ bán chạy nhất thập niên 1980.".[149] Vào năm 1993, Jackson trình bày bài hát tại Soul Train Music Awards trên một chiếc ghế, khi ông gặp chấn thương lúc tập dượt.[150] Tại châu Âu và Anh Quốc, "Heal the World" là đĩa đơn thành công nhất, với 450.000 bản tiêu thụ và giữ nguyên vị trí Á quân tại Vương quốc Liên hiệp Anh trong 5 tuần vào năm 1992.[148]

Jackson thành lập nên Quỹ Heal the World vào năm 1992. Tổ chức từ thiện này mang những trẻ em nghèo đến trang trại của Jackson để vui chơi và giải trí; gửi hàng triệu đô-la Mỹ trên khắp toàn cầu để giúp đỡ các trẻ em bị đe dọa bởi chiến tranh, đói nghèo và bệnh tật. Cũng trong năm này, Jackson xuất bản cuốn sách thứ hai, Dancing the Dream. Tuyển tập thơ này cho thấy khía cạnh gần gũi hơn ở Jackson và là một thành công thương mại. Chuyến lưu diễn Dangerous World Tour mở đầu vào ngày 27 tháng 6 năm 1992 và kết thúc vào ngày 11 tháng 11 năm 1993, thu về 100 triệu đô-la Mỹ từ 70 đêm nhạc và 3.5 triệu khán giả.[148][151] Ông bán bản quyền phát sóng buổi trình diễn ở Bucharest, Rumani cho hãng HBO với giá 20 triệu đô-la Mỹ, phá kỷ lục về bản quyền phát sóng chương trình.[152]

Sau cái chết của Ryan White, Jackson giúp công chúng nâng cao tầm nhận thức đến căn bệnh HIV/AIDS; ông công khai yêu cầu chính quyền Clinton tại Gala nhậm chức của Bill Clinton chu cấp thêm tiền cho những tổ chức từ thiện và nghiên cứu HIV/AIDS.[153][154] Trong chuyến đi đến châu Phi, Jackson tới thăm nhiều quốc gia như GabonAi Cập.[155] Điểm dừng chân đầu tiên của ông là tại Gabon, nơi có sự đón tiếp của hơn 100.000 người, với biểu ngữ: "Chào mừng anh đã về nhà, Michael."[155] Tại Bờ Biển Ngà, Jackson được một tộc trưởng gọi là "Vua Sani".[155] Sau đó, ông cảm ơn những người đứng đầu bộ lạc bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp.[155]

Vào tháng 1 năm 1993, Jackson trình diễn trong tiết mục giữa giờ tại Super Bowl XXVII, diễn ra ở Pasadena, California. Do sự suy giảm tỉ suất người xem trong giờ nghỉ giải lao những năm trước, NFL quyết định tìm kiếm một tên tuổi lớn để thu hút khán giả và Jackson đã được lựa chọn bởi danh tiếng và tầm ảnh hưởng của mình.[156] Đây là kỳ Super Bowl đầu tiên mà tỉ suất khán giả xem vào giờ nghỉ cao hơn cả trận đấu chính. Ông đã hát bốn ca khúc: "Jam", "Billie Jean", "Black or White" và "Heal the World". Album Dangerous của Jackson sau đó đã tăng 90 hạng trên bảng xếp hạng album,[99] đạt đến top 10 sau hơn 1 năm ra mắt.[25][99][148] Vào tháng 2 năm 1993, Jackson đã được trao "Giải Huyền thoại sống" tại lễ trao giải Grammy lần thứ 35 ở Los Angeles.[58][148] Cũng trong năm này, ông đã chiến thắng 3 giải thưởng âm nhạc Mỹ ở hạng mục "Album Pop/Rock được yêu thích nhất", "Đĩa đơn Soul/R&B được yêu thích nhất" và là người đầu tiên thắng "Giải thưởng Nghệ sĩ Quốc tế". Giải thưởng này sau đó được chính thức mang tên ông.[157][158]

1993–94: Vụ kiện lạm dụng tình dục và cuộc hôn nhân đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Vào mùa thu năm 1993, Jackson bị buộc tội lạm dụng tình dục trẻ em bởi một cậu bé 13 tuổi tên là Jordan Chandler và cha của cậu, Evan Chandler.[159][160][161] Gia đình của Chandler yêu cầu Jackson bồi thường, nhưng ông đã từ chối. Jordan Chandler sau đó kể với cảnh sát rằng mình bị Jackson xâm hại tình dục.[105][162] Chandler từng phát biểu "Nếu tôi thắng vụ này, tôi sẽ là người thành công nhất. Không đời nào tôi thua cả. Tôi sẽ lấy tất cả những gì tôi muốn và sự nghiệp của Michael sẽ tan tành mây khói."[161][163] Vào tháng 1 năm 1994, sau khi điều tra cáo buộc tống tiền của Chandler, luật sư phó Quận Los Angeles, Michael J. Montagna khẳng định vụ việc không được xem xét do thiếu sự hợp tác từ Jackson và nhiều lý do khác.[164]

Vào tháng 8 năm 1993, cảnh sát lục soát tư gia của Jackson và, theo ghi nhận của tư liệu tòa án, tìm thấy sách và ảnh những bé trai trong tình trạng không mặc quần áo ở phòng ngủ của ông.[165] Vì những quyển sách này được sở hữu một cách hợp pháp, bồi thẩm đoàn quyết định không truy tố Jackson.[166] Vào tháng 12 năm 1993, cảnh sát khám nghiệm cơ thể Jackson[167] dựa theo những đặc điểm mô tả của Jordan Chandler.[167][168] Dù có nhiều khác biệt giữa báo cáo nội bộ ban đầu của công tố viên và các nhà điều tra,[169][170] luật sư Quận vẫn tin rằng bản khai tuyên thệ sẽ cho kết quả mô tả chính xác.[171][172] Một cuộc vận động bào chữa cho Jackson diễn ra vào năm 2004, khẳng định rằng ông chưa từng bị bồi thẩm đoàn truy tố hình sự và không có hành vi sai trái.[173]

Cuộc điều tra không đi đến kết quả và không có lời buộc tội nào.[170] Jackson mô tả vụ việc thông qua một buổi tuyên bố đầy xúc động, khẳng định mình hoàn toàn vô tội.[159][167][174] Vào tháng 1 năm 1994, Jackson dàn xếp với gia đình nhà Chandler bên ngoài phiên tòa với số tiền 22 triệu đô-la Mỹ. Bồi thẩm đoàn Quận Santa Barbara và bồi thẩm đoàn Quận Los Angeles giải thể ngày 2 tháng 5 năm 1994, mà không khởi tố Jackson;[173][175] nhà Chandler ngừng hợp tác điều tra vào ngày 6 tháng 7 năm 1994.[173][176] Tài liệu về cuộc dàn xếp ngoài tòa thừa nhận Jackson không có hành vi sai trái và không có trách nhiệm pháp lý; gia đình Chandler và luật sư Larry Feldman ký kết mà không có tranh luận nào.[177][178] Theo một cuộc điều tra của FBI về tài liệu thu thập trong gần 20 năm, không có một bằng chứng nào ghi nhận Jackson xâm hại tình dục hay cử chỉ khiếm nhã đến trẻ dưới vị thành niên.[179] Theo các báo cáo của DCFS, họ không tìm thấy chứng cớ đáng tin cậy về lạm dụng tình dục hoặc hành vi sai trái ở Jackson.[180][181][182]

Vào tháng 5 năm 1994, Jackson kết hôn với Lisa Marie Presley, con gái của ElvisPriscilla Presley. Hai người gặp nhau lần đầu năm 1975, khi Presley mới 7 tuổi, trong lễ đính hôn của một thành viên gia đình Jackson tại MGM Grand và sau này đoàn tụ qua một người bạn.[183] Theo một người bạn của Presley, "tình bạn của cả hai bắt đầu vào tháng 11 năm 1992 tại L.A."[184] Họ liên lạc với nhau hằng ngày bằng điện thoại. Khi những lời cáo buộc xâm hại tình dục trẻ em trở nên công khai, Jackson nhận được nhiều lời động viên tinh thần từ Presley; cô quan tâm đến tình hình sức khỏe sút kém và nghiện thuốc phiện của Jackson.[185] Presley giải thích "Tôi tin rằng anh ấy không làm gì sai và bị vu cáo. Và tôi bắt đầu yêu anh ấy. Tôi muốn giúp đỡ anh. Tôi cảm thấy mình có thể làm được việc đó."[186] Sau đó, cô thuyết phục Jackson giải quyết vụ bê bối xâm hại tình dục trẻ em ngoài tòa án và đi cai nghiện.[185]

Jackson cầu hôn với Presley qua điện thoại vào mùa thu năm 1993, nói rằng "Nếu anh muốn cưới em, em sẽ đồng ý chứ?"[185] Hai người kết hôn tại Cộng hòa Dominica trong vòng bí mật và liên tiếp phủ nhận đã cưới nhau trong gần hai tháng sau đó.[187][188] Vào thời điểm đó, báo lá cải cho rằng đám cưới là một mánh khóe chống đỡ cho hình ảnh công chúng của Jackson.[187] Cuộc hôn nhân kéo dài chưa đầy hai năm và kết thúc trong thân tình.[189] Vào năm 2010, khi phỏng vấn cùng Oprah, Presley thừa nhận họ quay lại cùng nhau thêm 4 năm sau cuộc ly hôn, cho đến khi cô quyết định dừng lại.[190]

1995–2000: HIStory, cuộc hôn nhân thứ hai và làm cha[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1995, Jackson sáp nhập cổ phẩn của mình trong ATV Music với bộ phận xuất bản âm nhạc của Sony để tạo nên Sony/ATV Music Publishing. Jackson giữ được nửa quyền sở hữu của công ty, nhận trước 95 triệu đô-la Mỹ cũng như sở hữu tác quyền nhiều bài hát hơn.[191][192] Sau đó, ông phát hành album-kép HIStory: Past, Present and Future, Book I. Đĩa đầu tiên, HIStory Begins là một album tuyển tập gồm 15 bài hát và sau đó được tái phát hành dưới tựa đề Greatest Hits: HIStory, Volume I vào năm 2001. Đĩa thứ hai, HIStory Continues chứa 13 bài hát mới và 2 phiên bản trình bày lại. Album đạt vị trí số một trên các bảng xếp hạng và được chứng nhận 7 đĩa Bạch kim ở Mỹ.[193] Đây là album đa đĩa bán chạy nhất mọi thời đại, với hơn 20 triệu bản (tổng cộng là 40 triệu đĩa) được bán ra trên toàn thế giới.[147][194] HIStory cũng giành thêm một đề cử giải Grammy cho "Album của năm".[195]

"Scream/Childhood" là đĩa đơn đầu tiên được phát hành trong album; đây là một bản song ca với em gái Janet Jackson, mang nội dung phản biện lại những cáo buộc mà các phương tiện truyền thông tạo ra xung quanh vụ kiện lạm dụng trẻ em của ông năm 1993. Video âm nhạc của bài hát này vẫn đang giữ kỷ lục về chi phí đầu tư, với hơn 7 triệu đô-la Mỹ;[196] trong khi bài hát mở màn ở vị trí thứ 5 tại Hoa Kỳ và nhận được một đề cử giải Grammy ở hạng mục "Hợp tác giọng pop xuất sắc nhất".[195] Đĩa đơn tiếp theo, "You Are Not Alone" nắm giữ Kỷ lục Guinness Thế giới khi là bài hát đầu tiên trong lịch sử âm nhạc đứng hạng nhất ngay trong tuần đầu tiên trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.[137] Bài hát cũng mang về một đề cử giải Grammy khác cho "Trình diễn giọng pop xuất sắc nhất".[195]

Jackson tại buổi công chiếu video âm nhạc Ghosts, thuộc Liên hoan phim Cannes 1997[197]

Vào cuối năm 1995, Jackson được đưa tới bệnh viện sau khi đột ngột ngất xỉu trong một buổi diễn tập cho buổi biểu diễn trên truyền hình; nguyên nhân do hoảng hốt và căng thẳng.[198] Đĩa đơn thứ 3, "Earth Song" đạt vị trí quán quân tại UK Singles Chart trong 6 tuần vào mùa Giáng sinh năm 1995; đây là đĩa đơn thành công nhất của Jackson tại đảo quốc sương mù, với hơn 1 triệu bản tiêu thụ.[195] Đĩa đơn "They Don't Care About Us" sau khi phát hành gây nhiều tranh cãi về phần lời ca khúc có tính chất bài Do Thái. Jackson sau đó chỉnh sửa lời ca và phát hành làm một phiên bản khác.[199] Năm 1996, Jackson giành giải Grammy "Video dạng ngắn xuất sắc nhất" cho "Scream" và một giải thưởng Âm nhạc Mỹ cho "Nam nghệ sĩ Pop/Rock xuất sắc nhất".[57][200]

Chuyến lưu diễn HIStory World Tour bắt đầu từ ngày 7 tháng 9 năm 1996 đến 15 tháng 10 năm 1997, thu về tổng cộng 165 triệu đô-la Mỹ. Jackson trình diễn 82 đêm nhạc tại 58 thành phố, đi qua 5 châu lục và 35 quốc gia, phục vụ hơn 4.5 triệu người hâm mộ; đây là chuyến lưu diễn thành công nhất trong sự nghiệp của Jackson về lượng khán giả.[125] Vào tháng 11 năm 1996, trong chuyến lưu diễn HIStory World Tour, Jackson kết hôn với y tá da liễu Deborah Jeanne Rowe tại một buổi lễ không sắp đặt trước tại Sydney, Úc. Hai người gặp gỡ từ giữa những năm 80 khi Jackson bắt đầu bị chẩn đoán mắc chứng bạch biến. Rowe giành nhiều thời gian chăm sóc, động viên Jackson và xây dựng tình bạn giữa họ trước khi bắt đầu yêu nhau.[201] Vào thời gian làm lễ cưới, Rowe đã mang thai đứa con đầu lòng của Jackson được 6 tháng. Cả hai ban đầu không có kế hoạch kết hôn, nhưng mẹ của Jackson đã can thiệp và thuyết phục họ cưới nhau.[202] Michael Joseph Jackson Jr (được biết đến với tên "Prince") chào đời ngày 13 tháng 2 năm 1997; Rowe hạ sinh thêm bé gái Paris-Michael Katherine Jackson vào ngày 3 tháng 4 năm 1998.[189][203] Cả hai ly hôn năm 1999 trong bầu không khí tương đối hòa đồng và Rowe trao hết quyền nuôi con cho Jackson.[204][205]

Năm 1997, Jackson phát hành Blood on the Dance Floor: HIStory in the Mix, một tập hợp bản phối lại các đĩa đơn từ HISory và 5 bài hát mới. Với 6 triệu đĩa bán ra, đây là album phối lại bán chạy nhất mọi thời đại.[206] Album và bài hát chủ đề cùng đạt vị trí cao nhất tại Anh.[206][207] Tại Mỹ, album đạt chứng nhận Bạch kim, tuy chỉ vươn đến vị trí thứ 24.[145][195] Forbes ước tính thu nhập của Jackson ở mức 35 triệu đô-la Mỹ trong năm 1996 và 20 triệu đô-la Mỹ vào năm 1997.[136] Trong suốt tháng 6 năm 1999, Jackson đã tham gia vào một số hoạt động từ thiện. Ông gia nhập vào buổi hòa nhạc của Luciano Pavarotti ở Modena, Ý. Chương trình hỗ trợ tổ chức phi lợi nhuận War Child và trích ra một triệu đô la cho cộng đồng người tị nạn Kosovo, Nam Tư, cũng như bổ sung kinh phí cho các trẻ em ở Guatemala.[208] Cuối tháng đó, Jackson tổ chức những buổi hòa nhạc từ thiện "Michael Jackson & Friends" ở Đức và Hàn Quốc. Các nghệ sĩ tham gia bao gồm Slash, The Scorpions, Boyz II Men, Luther Vandross, Mariah Carey, A. R. Rahman, Prabhu Deva Sundaram, Shobana, Andrea Bocelli và Luciano Pavarotti. Toàn bộ doanh thu đều được quyên góp cho Quỹ Nelson Mandela cho trẻ em, các Hội Chữ thập đỏUNESCO.[209]

2000–03: Tranh cãi hãng thu và Invincible[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2000 và 2001, Jackson làm việc tại phòng thu cùng nhiều nhạc sĩ như Teddy Riley và Rodney Jerkins. Vào tháng 10 năm 2001, ông phát hành Invincible; album dài đầu tiên của Jackson trong 6 năm và là album phòng thu cuối cùng phát hành khi ông còn sống. Trong thời gian, Jackson có nhiều tranh chấp cùng hãng thu âm Sony Music Entertainment. Jackson kỳ vọng có thể thu hồi lại giấy phép sở hữu album, giúp ông quảng bá album của mình vào đầu thập niên 2000. Dù vậy, điều khoản trong hợp đồng lại hoãn ngày thu hồi sang nhiều năm tới. Jackson biết được luật sư đại diện cho ông trong bản hợp đồng cũng đại diện cho Sony.[207] Jackson cũng lo lắng hãng có thể rao bán danh mục âm nhạc của ông với giá rẻ trong tương lai[210] và mong muốn sớm kết thúc hợp đồng.[207]

Vào tháng 9 năm 2001, Jackson tổ chức hai đêm nhạc kỷ niệm 30 năm ca hát tại Madison Square Garden. Jackson lần đầu xuất hiện cùng anh em của mình từ năm 1984. Buổi hòa nhạc còn có sự góp mặt của các ca sĩ tên tuổi khác như Mýa, Usher, Whitney Houston, NSYNC, Destiny's Child, Monica, Luther Vandross và Slash.[211] Đêm diễn thứ hai diễn ra vào đêm trước sự kiện 11 tháng 9.[212] Chương trình được phát trên truyền hình dưới tựa đề Michael Jackson: 30th Anniversary Celebration. Sau đó, Jackson giúp đỡ tổ chức đêm nhạc từ thiện United We Stand: What More Can I Give tại RFK Stadium, Washington, D.C. Buổi hòa nhạc diễn ra vào ngày 21 tháng 10 năm 2001, với màn trình diễn hạ màn "What More Can I Give" của Jackson.[210]

Invincible là một thành công thương mại, leo lên vị trí cao nhất tại 13 quốc gia, đồng thời bán được xấp xỉ 13 triệu đĩa trên toàn cầu. Tại Hoa Kỳ, album 2 lần đạt chứng nhận Bạch kim.[145][147] Dù vậy, doanh số của Invincible lại thấp hơn những album trước của Jackson, do thiếu quảng bá và tranh chấp cùng hãng đĩa. Album cũng ra mắt trong khoảng thời điểm xấu trong ngành công nghiệp âm nhạc.[210] Album tiêu tốn 30 triệu đô-la Mỹ để thu âm, không bao gồm chi phí quảng cáo.[213] Invincible phát hành 3 đĩa đơn là "You Rock My World", "Cry" và "Butterflies". Vào tháng 7 năm 2002, Jackson công khai chỉ trích chủ hãng thu âm Sony Music lúc bấy giờ, Tommy Mottola là một "con quỷ dữ", một "kẻ phân biệt chủng tộc" không ủng hộ những nghệ sĩ Mỹ Phi.[210] Jackson còn cho biết ông chủ hãng đĩa đã gọi bạn đồng nghiệp Irv Gotti là "một thằng mọi béo" ("fat nigger").[214] Sony từ chối gia hạn hợp đồng cùng Jackson, khẳng định chiến dịch quảng bá trị giá 25 triệu đô-la Mỹ đã thất bại vì Jackson không muốn lưu diễn tại Hoa Kỳ.[213]

Cùng năm, đứa con thứ ba của Jackson, Prince Michael Jackson Jr II (biệt danh "Blanket") ra đời.[215][216] Jackson chưa bao giờ tiết lộ danh tính của mẹ đứa trẻ, chỉ khẳng định đây là kết quả của quá trình thụ tinh trong ống nghiệm từ người phụ nữ và tinh trùng của ông.[204] Ngày 20 tháng 11 năm đó, Jackson đem con trai mình ra trước ban công nơi Khách sạn Adlon, Berlin; ông bế con mình bằng tay phải và giơ con mình ra ngoài lan can ban công trong một khoảnh khắc ngắn để khoe với những người hâm mộ bên dưới. Hành động liều lĩnh đã bị dư luận chỉ trích. Jackson sau đó đã xin lỗi về vụ việc, gọi đó là "một sai lầm tồi tệ".[217] Sony phát hành Number Ones, một đĩa hát tập hợp các ca khúc thành công của Jackson dưới định dạng CD và DVD. Tại Hoa Kỳ, album đạt 3 lần chứng nhận Bạch kim bởi RIAA; 6 lần chứng nhận Bạch kim tại Vương quốc Liên hiệp Anh với doanh số 1.2 triệu bản.[145][218]

2003–09: Vụ kiện lạm dụng tình dục thứ hai và những năm cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Jackson tại Vegas vào năm 2003

Đầu tháng 5 năm 2002, Jackson cho phép một đoàn làm phim tài liệu, do biên tập viên truyền hình người Anh Quốc Martin Bashir dẫn đầu, theo chân ông khắp mọi nơi, trong đó có thời gian xảy ra "sự cố bế em bé" của Jackson tại Berlin. Chương trình phát sóng trên kênh truyền hình Granada vào tháng 3 năm 2003, với tựa đề Living With Michael Jackson. Trong một cảnh gây tranh cãi, Jackson được nhìn thấy khi nắm tay và bình luận về việc chia sẻ giường ngủ với một cậu bé.[219] Khi tập phim lên sóng, văn phòng của luật sư quận Santa Barbara bắt đầu điều tra. Theo một cuộc khảo sát của LAPDDCFS vào tháng 2 năm 2003, các cáo buộc lạm dụng tình dục đến Jackson là "vô căn cứ".[182]

Sau khi cậu bé, tên thật là Gavin Arvizo, cùng mẹ tố cáo Jackson có những hành vi không đúng mực, ông bị sở cảnh sát quận Santa Barbara, California bắt giữ vào tháng 11 năm 2003, khi đang quay video âm nhạc cho bài hát "One More Chance" tại Las Vegas. Ông bị buộc tội ở 7 điểm về vấn đề xâm hại tình dục trẻ em và 2 điểm về quản lý tình trạng say xỉn cùng mối quan hệ với cậu bé Arvizo trong chương trình.[219] Jackson bác bỏ những cáo buộc này, khẳng định tiệc ngủ lại nhà không mang tính chất gợi dục. Phiên tòa diễn ra vào ngày 31 tháng 1 năm 2005 tại Santa Maria, California và kéo dài 5 tháng, cho đến hết tháng 5. Trong suốt thời gian hầu tòa, Jackson trở nên phụ thuộc vào thuốc giảm đau gây nghiện như morphine hay demetrol,[220] phải trải qua những trận ốm vì căng thẳng và sút cân, càng làm biến đổi dung nhan của ông.[221] Vào ngày 13 tháng 6 năm 2005, Jackson được công nhận trắng án ở tất cả điểm luận tội.[220][222] Sau đó ông chuyển tới định cư ở đảo quốc Bahrainvịnh Persian, như là khách của Sheikh Abdullah.[223][224][225]

Vào tháng 3 năm 2006, căn nhà chính tại khu điền trang Neverland bị đóng cửa do biện pháp cắt giảm chi phí.[226] Nhiều báo cáo về việc Jackson gặp khó khăn tài chính xuất hiện trong thời gian này. Jackson chưa thanh toán khoản nợ 270 triệu đô-la Mỹ trước cổ phần xuất bản âm nhạc của mình, dù những cổ phần này được báo cáo mang về 75 triệu đô-la Mỹ cho ông mỗi năm.[227] Bank of America nhượng lại khoản nợ này cho Fortress Investments. Hãng Sony đề xuất một thỏa thuận tái cơ cấu, giúp họ có thể mua lại một nửa cổ phần của Jackson trong công ty xuất bản thuộc sở hữu chung (để lại cho Jackson 25% cổ phần).[192] Jackson chấp nhận một thỏa thuận tái cấp vốn do Sony hỗ trợ vào tháng 4 năm 2006, dù chi tiết không được công bố.[228] Vào tháng 9 năm 2006, Jackson và vợ cũ Debbie Rowe xác nhận họ đang thảo lại quyền nuôi con. Nội dung chưa từng được công bố, khi Jackson tiếp tục làm người giám hộ của hai đứa trẻ.[205]

Jackson và con trai Blanket tại Disneyland Paris năm 2006

Đầu năm 2006, có thông báo rằng Jackson đã ký một hợp đồng với hãng thu âm tại Bahrain mang tên Two Seas Records. Tuy vậy, chủ tịch của hãng, Guy Holmes khẳng định bản hợp đồng này chưa từng được hoàn thành.[229][230] Trong năm 2006, Sony tập hợp 20 đĩa đơn từ thập niên 1980 và 1990 vào loạt đĩa Michael Jackson: Visionary. Nhờ album này, nhiều đĩa đơn quay trở lại các bảng xếp hạng. Vào tháng 10 năm 2006, phóng viên của Fox News, Roger Friedman phát biểu rằng Jackson đang thu âm một album tại Westmeath, Ireland.[230][231] Vào tháng 11 năm 2006, Jackson mời đoàn làm phim Access Hollywood đến xưởng thu âm tại Westmeath, trong khi MSNBC công bố ông đang thực hiện album mới cùng will.i.am từ nhóm the Black Eyed Peas.[147] Ông trở lại Hoa Kỳ sau mùa Giáng sinh năm 2006 để dự đám tang của James Brown tại Augusta, Georgia. Tại buổi lễ, ông khẳng định "James Brown là nguồn cảm hứng vĩ đại nhất của tôi."[232]

Mùa xuân năm 2007, Jackson và Sony hợp tác mua lại một hãng xuất bản khác: Famous Music LLC, do Viacom sở hữu. Hợp đồng này giúp ông sở hữu bản quyền nhiều bài hát như của Eminem, ShakiraBeck.[233] Jackson thu âm cùng will.i.am trong thời gian tại New York và tại Las Vegas với AkonRedOne.[234][235][236] Vào tháng 9 năm 2007, Jackson vẫn được thông báo đang hợp tác cùng will.i.am, nhưng album này sau cùng không bao giờ hoàn thiện.[237] Vào năm 2008, Jackson và Sony phát hành Thriller 25 nhằm kỷ niệm 25 năm ngày ra đời album Thriller. Album này có sự xuất hiện của bài hát chưa từng được phát hành "For All Time" cũng như nhiều bản phối khí lại, nơi Jackson hợp tác với nhiều nghệ sĩ trẻ tuổi. Thriller 25 phát hành 2 đĩa đơn đạt thành công khiêm tốn: "The Girl Is Mine 2008" (cùng will.i.am) và "Wanna Be Startin' Somethin' 2008" (cùng Akon).[238][239][240] Trong dịp sinh nhật thứ 50 của Jackson, Sony BMG phát hành một loạt album tuyển tập mang tên King of Pop. Album này có nhiều danh sách ca khúc khác nhau phụ thuộc vào việc bầu của người hâm mộ tại mỗi quốc gia.[241] King of Pop đạt đến top 10 tại hầu hết các quốc gia xếp hạng và có doanh số tốt tại nhiều quốc gia như Hoa Kỳ.[242][243]

Vào cuối năm 2008, Fortress Investments đe dọa sẽ đóng cửa điền trang Neverland, nơi Jackson sử dụng như tài sản thế chấp cho số nợ 10 triệu đô-la Mỹ. Dù vậy Fortress chọn bán đi số nợ của Jackson cho Colony Capital LLC. Vào tháng 11, Jackson đổi tên của điền trang thành Sycamore Valley Ranch Company LLC, đánh dấu sự liên doanh giữa Jackson và Colony Capital LLC. Hợp đồng này xóa đi khoản nợ của Jackson và mang về thêm 35 triệu đô-la Mỹ. Vào thời điểm Jackson qua đời, ông vẫn giữ cổ phần tại Neverland/Sycamore Valley, nhưng không được tiết lộ nội dung.[244][245] Vào tháng 9 năm 2008, Jackson đàm phán với Julien's Auction House để trưng bày và đấu giá bộ sưu tập kỷ vật lớn, với xấp xỉ 1.390 món vật. Cuộc đấu giá được lên kế hoạch diễn ra giữa ngày 22 và 25 tháng 4.[246] Triển lãm kỷ vật mở cửa vào ngày 14 tháng 4, nhưng buổi đấu giá bị hủy theo yêu cầu của Jackson.[247]

Vào tháng 3 năm 2009, Jackson chủ trì một buổi họp báo tại O2 Arena, Luân Đôn và thông báo một loạt buổi hòa nhạc trở lại mang tên This Is It. Đây là loạt chương trình lớn đầu tiên của Jackson từ khi HIStory World Tour kết thúc vào năm 1997. Jackson gợi ý có thể từ giã sự nghiệp sau chương trình này. Kế hoạch ban đầu là 10 đêm nhạc tại Luân Đôn, Paris, Thành phố New York và Mumbai. Randy Phillips, chủ tịch của AEG Live khẳng định chỉ riêng 10 buổi diễn đầu cũng đã mang về cho Jackson khoản thu nhập gần 50 triệu bảng Anh.[248] Chương trình tại Luân Đôn tăng lên 50 đêm nhạc sau khi phá vỡ kỷ lục bán vé: hơn 1 triệu vé bán ra trong chưa đầy 2 tiếng.[249] Jackson luyện tập tại Staples Center, Los Angeles trong tuần trước buổi diễn dưới chỉ đạo của biên đạo Kenny Ortega.[250] Chuỗi hòa nhạc được dự kiến diễn ra vào ngày 13 tháng 7 năm 2009 và hoàn thiện vào ngày 6 tháng 3 năm 2010, song chưa bao giờ hoàn thiện.[251] Trước thời gian này, có thông tin ông mở một dòng thời trang mới cùng Christian Audigier.[252][253]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Jackson's Star with flowers and notes on it
Người hâm mộ đặt hoa và lời chúc trên ngôi sao của Jackson tại Đại lộ danh vọng Hollywood vào ngày ông mất.

Jackson đến tập dượt tại Staples Center vào khoảng 6:30 chiều thứ 4, ngày 24 tháng 6 năm 2009. Ông than phiền một cách bông đùa về căn bệnh viêm thanh quản và diễn tập lúc 9 giờ tối, khi "trông vẫn rất tuyệt và đầy năng lượng."[254] Buổi tập diễn ra quá nửa đêm.[254] Sáng hôm sau, Jackson không ra khỏi phòng.[255] Bác sĩ riêng của Jackson, Conrad Murray phát biểu ông nhìn thấy Jackson trên giường trong tình trạng không thở nhưng mạch vẫn còn đập yếu và tiến hành hồi sức tim nhưng không có hiệu quả.[256][257][258] Sở cứu hỏa Los Angeles nhận được một cuộc gọi 9-1-1 lúc 12:22 chiều (theo giờ PDT, 19:22 UTC). Xe cứu thương tới nơi muộn mất 3 phút 22 giây và đưa Jackson đi cấp cứu tại trung tâm y tế Ronald Reagan UCLA.[259][260] Ông được báo cáo ngừng thở và việc hô hấp nhân tạo vẫn tiếp tục diễn ra sau hơn 1 tiếng đến UCLA vào lúc 1:13 chiều (20:13 UTC). Ông chính thức qua đời vào lúc 2:26 chiều giờ địa phương (21:25 UTC),[261][262] chưa đầy 3 tuần trước khi đêm diễn This Is It đầu tiên bắt đầu tại Luân Đôn, với toàn bộ buổi hòa nhạc đều cháy vé.[251]

Vào đêm sinh nhật thứ 51 của Jackson, Điều tra viên quận Los Angeles kết luận cái chết của Jackson là do ngộ sát.[263] Một số bản báo cáo cho biết trước khi Jackson ngừng thở không lâu, ông đã nhận những mũi tiêm chứa chất propofol và hai liều benzodiazepines chống căng thẳng—lorazepammidazolam—tại nhà.[264] Sau một thời gian điều tra và đặt tình nghi,[265][266][267] vào ngày 8 tháng 2 năm 2010, Murray bị buộc tội ngộ sát bởi công tố viên Los Angeles. Murray không nhận tội và được bảo lãnh sau khi nộp phạt 75.000 đô-la Mỹ.[268][269] Một phiên tòa xét xử diễn ra vào ngày 27 tháng 9 năm 2011 sau nhiều lần trì hoãn.[270][271][272] Vào ngày 7 tháng 11 năm 2011, Murray bị kết án ngộ sát[273] và tạm giam không được bảo lãnh để chờ tuyên án.[274] Vào ngày 29 tháng 11 năm 2011, Murray nhận bản án tối đa 4 năm tù.[275] Vào ngày 28 tháng 10 năm 2013, ông được thả khi nhà tù California quá tải và có hành vi tốt.[276][277]

Phản ứng và tang lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Tin tức về cái chết của Jackson lần đầu được công bố trên trang TMZ.comLos Angeles Times, gây nên tình trạng gián đoạn ở cả hai trang mạng này.[278] Google tin rằng do có hàng triệu người truy cập thông tin về "Michael Jackson" nên công cụ tìm kiếm bị tấn công DDoS và phải khóa các tìm kiếm liên quan trong vòng 30 phút. Hệ thống TwitterWikipedia cũng báo cáo một cuộc đánh sập vào lúc 3:15 chiều theo giờ PDT (22:15 UTC).[279] Quỹ Wikimedia công bố có gần 1 triệu lượt xem tiểu sử của Jackson trong chưa đầy 1 tiếng đồng hồ, là lượng đọc giả nhiều nhất trong thời lượng 1 tiếng của bất kỳ một bài viết nào trong lịch sử Wikipedia.[280] AOL Instant Messenger gặp tình trạng quá tải trong vòng 40 phút. AOL gọi đây là "thời khắc trọng đại trong lịch sử Internet", cho rằng "Chúng ta chưa từng thấy điều gì như thế trong phạm vi qua đời."[281]

Khoảng 15% bài đăng trên Twitter (5.000 tweet mỗi phút) có nhắc đến Jackson sau khi thông tin được lan truyền,[282][283] so với con số 5% đề cập đến bầu cử tổng thống Iran hay đại dịch cúm 2009 vào thời điểm cùng năm.[283] Trên toàn cục, lưu lượng web tăng từ 11% hay ít nhất 20% hơn ngưỡng thông thường.[282][284] Theo phân tích của Global Language Monitor, sau khi qua đời 72 giờ, Jackson đạt hạng 9 trong in ấn toàn cầu và phương tiện truyền thông điện tử; đối với internet, blog hay mạng xã hội, Jackson nhảy đến vị trí thứ 2, chỉ đứng sau lần bầu cử của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama.[285] Kênh MTVBET liên tục phát các video âm nhạc của Jackson.[286] Trong một cuộc thống kê của Pew Research Center, cứ 2 trên 3 người Mỹ tin rằng cái chết của Jackson phủ sóng quá mức, trong khi 3% còn lại cảm thấy vẫn chưa đủ.[287] Tại Anh Quốc, BBC nhận hơn 700 lời phàn nàn từ người xem, khi cho rằng tin tức của Jackson đang chi phối mục bản tin quá nhiều.[288]

Mộ của Jackson tại Holly Terrace of the Great Mausoleum, Forest Lawn Glendale.

Những người hâm mộ Jackson tập trung tưởng niệm đến ông; đường phố xung quanh bệnh viện nơi ông qua đời đều bị chặn và nhiều người Mỹ dừng công việc để theo dõi bản tin về ông trên truyền hình.[289] Một đám đông nhỏ, có sự xuất hiện của thị trưởng Thành phố, tụ tập bên ngoài ngôi nhà thời thơ ấu của Jackson tại Gary, nơi rủ ngọn cờ của toà thị chính để tưởng nhớ đến ông.[290] Người hâm mộ tại Hollywood tập trung xung quanh ngôi sao của một Michael Jackson khác tại Đại lộ danh vọng Hollywood—do ngôi sao của ông bị che khuất nhằm phục vụ cho lễ công chiếu phim Brüno.[291][292]

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama gửi một lá thư chia buồn đến gia đình Jackson và Hạ viện Hoa Kỳ cũng giành một phút tưởng niệm đến ông.[293] Obama sau đó khẳng định Jackson "sẽ được ghi nhớ trong lịch sử như là một trong những nhà giải trí vĩ đại nhất của chúng ta."[294] Cựu Tổng thống Mỹ Phi Nelson Mandela đưa ra một thông điệp thông qua quỹ của mình, phát biểu về mất mát mang ảnh hưởng toàn cầu của Jackson.[295] Trưởng ban Truyền thông đối nội Nhật Bản Tsutomu Sato phát biểu "Tôi cảm thấy đau lòng khi mình từng xem ông ấy kể từ khi là thành viên của Jackson Five."[296][297] Thủ tướng Vương quốc Anh Gordon Brown chia sẻ ngắn về cái chết của Jackson: "Đây là một tin rất buồn cho hàng triệu người hâm mộ Jackson tại Anh và trên thế giới," trong khi nhà lãnh đạo Đảng Bảo thủ David Cameron phát biểu "Dù gặp nhiều tranh cãi, ông vẫn là nhà giải trí huyền thoại."[298] Người bạn lâu năm của Jackson, Elizabeth Taylor phát biểu mình không thể tưởng tượng khi sống thiếu ông ấy.[299][300]

Buổi lễ tưởng nhớ Michael Jackson được tổ chức tại Staples Center, Los Angeles vào ngày 7 tháng 7 năm 2009, theo sau buổi lễ cầu nguyện của riêng gia đình Jackson tại Forest Lawn Memorial Park's Hall of Liberty. Vì nhu cầu tăng cao, chủ sự kiện phân phối vé đến dự cho công chúng theo kiểu xổ số; có 1.6 triệu người hâm mộ đăng ký chỉ trong thời gian 2 ngày và tổng cộng 8.750 cái tên ngẫu nhiên được chọn nhận 2 vé.[301] Chiếc quan tài mạ vàng được đặt ngay dưới sân khấu trong suốt buổi lễ nhưng vẫn không có thông tin nào về nơi an nghỉ cuối cùng của ông. Chương trình tưởng niệm là một trong những sự kiện thu hút lượng người xem lớn nhất lịch sử truyền dữ liệu,[302] với ước tính 31.1 triệu người theo dõi tại Hoa Kỳ, so với xấp xỉ 35.1 triệu lượt xem lễ chôn cất cựu tổng thống Ronald Reagan (2004) và khoảng 33.1 triệu người theo dõi lễ tang công nương Diana (1997).[303] Mariah Carey, Stevie Wonder, Lionel Richie, John Mayer, Jennifer Hudson, Usher, Jermaine JacksonShaheen Jafargholi trình bày tại sự kiện này. Berry GordySmokey Robinson đọc lời điếu văn, trong khi Queen Latifah đọc một bài thơ của Maya Angelou, "We had him".[304] Al Sharpton nhận được tràng vỗ tay khi ông bảo với các con của Jackson, "Chẳng có gì kỳ lạ ở bố các cháu. Điều bất thường duy nhất là những gì bố các cháu phải trải qua. Nhưng ông ấy đã kiên cường đối mặt với chúng."[305][306][307]

Sau khi qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát phát hành đầu tiên sau khi qua đời của Jackson mang tên "This Is It", do ông đồng sáng tác cùng Paul Anka vào những năm 1980. Bài hát không được xuất hiện trong đêm nhạc cùng tên và bản thu âm dựa trên một đoạn thu thử cũ. Các anh em còn lại của nhà Jackson đã vào phòng thu lần đầu kể từ năm 1989 để thu giọng bè cho bài hát này. Vào ngày 28 tháng 10 năm 2009, một bộ phim tài liệu về khâu tập dượt cho đêm diễn mang tên Michael Jackson's This Is It được ra mắt.[308] Dù chỉ phát hành trong 2 tuần giới hạn, đây lại là bộ phim tài liệu hay đêm diễn đạt doanh thu cao nhất mọi thời đại, với 260 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu.[309] Tài sản của Jackson thu về 90% lợi nhuận.[310] Bộ phim ra mắt cùng một album tổng hợp cùng tên. Hai phiên bản mới của bài hát xuất hiện trong album này, cùng một đĩa bổ sung với bài thơ mang tựa đề "Planet Earth".[311] Tại Giải thưởng âm nhạc Mỹ 2009, Jackson thằng 4 giải, trong đó có 2 giải cho Number Ones.[312][313]

Sau khi qua đời, Jackson trở thành nghệ sĩ có tổng doanh số tiêu thụ album lớn nhất năm 2009, với hơn 8.2 triệu album được bán ra tại Hoa Kỳ và 35 triệu album trên toàn cầu trong khoảng thời gian 12 tháng kể từ sau cái chết của ông.[314][315] Jackson cũng trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử cán mốc 1 triệu lượt tải nhạc số trong một tuần, với doanh số kỷ lục 2,6 triệu lượt cho tất cả các bài hát của ông. Bên cạnh đó, 3 trên tổng số các album phòng thu mà Jackson phát hành lúc còn sống đã bán chạy hơn bất kỳ album mới phát hành nào trong tuần đó, một tiền lệ chưa từng xảy ra trước đó.[316] Theo danh sách tổng kết 20 album bán chạy nhất năm tại Hoa Kỳ, Jackson trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử có 4 album góp mặt trong danh sách.[314] Với sự đột biến về doanh số tiêu thụ, Sony tuyên bố rằng họ sẽ tiếp tục phát triển thêm nhiều dự án với âm nhạc của Jackson, trong đó Sony Music giữ quyền phân phối cho đến năm 2015.[317] Ngày 16 tháng 3 năm 2010, Sony Music Entertainment, trong một động thái mũi nhọn của công ty con Columbia/Epic Label Group, đã ký một hợp đồng mới với tổ chức di sản của Jackson về việc mở rộng quyền phân phối các sản phẩm âm nhạc của ông cho đến ít nhất là năm 2017, cũng như được phép phát hành mười album và tuyển tập mới với những tác phẩm chưa từng phát hành chính thức trước đó.[318]

Ngày 4 tháng 11 năm 2010, Sony công bố việc phát hành Michael, album di sản đầu tiên của Jackson vào ngày 14 tháng 12, cùng với một đĩa đơn quảng bá trên radio "Breaking News", phát hành ngày 8 tháng 11.[319]. Thỏa thuận này được coi là một tiền lệ chưa từng có trong ngành công nghiệp âm nhạc vì đây là bản hợp đồng âm nhạc đắt giá nhất liên quan đến một nghệ sĩ hát đơn trong lịch sử; theo những báo cáo liên quan, Sony Music đã phải trả 250 triệu đô cho tổ chức di sản của Jackson cũng như chia sẻ tiền bản quyền cho tất cả các thành phẩm được phát hành.[317][320] Nhà phát triển video game Ubisoft công bố sẽ phát hành một trò chơi hát và nhảy liên quan đến Michael Jackson cho người dùng Xbox 360PlayStation 3 trong dịp lễ năm 2010, mang tên Michael Jackson: The Experience.[321]

Vào ngày 3 tháng 11 năm 2010, tập đoàn biểu diễn nghệ thuật sân khấu Cirque du Soleil tuyên bố rằng họ sẽ khởi động Michael Jackson: The Immortal World Tour vào tháng 10 năm 2011 tại Montreal, bên cạnh một chương trình cố định tại Las Vegas.[322] Những buổi biểu diễn trị giá 57 triệu đô và kéo dài 90 phút mỗi buổi này sẽ kết hợp với những nhạc phẩm mang tính biểu tượng của Jackson và qua bàn tay dàn dựng bởi những nghệ sĩ kinh nghiệm của Cirque.[323] Chuyến lưu diễn được viết kịch bản và đạo diễn bởi Jamie King[324] Ngày 3 tháng 10 năm 2011, album tổng hợp 40 bản phối được sử dụng trong chuyến lưu diễn Immortal đã được công bố, với phần sản xuất lại do Kevin Antunes thực hiện.[325] Một chương trình thứ hai, lớn hơn của Cirque có tên Michael Jackson: One được diễn định kì tại khu nghỉ dưỡng Mandalay Bay ở Las Vegas được công bố vào ngày 21 tháng 2 năm 2013. Nó bắt đầu hoạt động vào ngày 23 tháng 5 trong một nhà hát mới được cải tạo đã gặt hái thành công về mặt chuyên môn lẫn thương mại.[326][327][328][329]

Ngày 31 tháng 3 năm 2014, Epic Records thông báo rằng album di sản tiếp theo của Jackson, Xscape, bao gồm 8 bài hát hoàn toàn mới được chọn lọc từ các bản ghi âm nháp mà ông thực hiện lúc còn sống,[330] sẽ được phát hành vào ngày 13 tháng 5.[331] Để quảng bá cho album, một màn trình diễn bài hát "Slave to the Rhythm", một trong những bài hát nằm trong Xscape với hiệu ứng hình ảnh 3 chiều hologram, đã được thực hiện tại Giải thưởng âm nhạc Billboard năm 2014.[332] Thu nhập của Jackson đã tăng theo cấp số nhân kể từ sau cái chết đột ngột của ông, so với những năm cuối đời. Theo Forbes, ông luôn dẫn đầu danh sách những nghệ sĩ nổi tiếng qua đời có thu nhập nhiều nhất mỗi năm kể từ khi ông qua đời (tính riêng năm 2015 là 115 triệu đô-la Mỹ).[11]

Phong cách nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong nhiều những bức tượng giống nhau, dựa trên nguyên tác của Diana Walczak, được dựng lên ở khắp châu Âu để quảng bá cho HIStory.

Jackson lấy cảm hứng từ tác phẩm của nhiều nhạc sĩ như Little Richard, James Brown, Jackie Wilson, Diana Ross, Fred Astaire,[333] Sammy Davis Jr.,[333] Gene Kelly,[334] David Ruffin,[335] the Isley Brothers, the Bee Gees và vũ công trong vở nhạc kịch West Side Story, những người ông tri ân trong video âm nhạc "Beat It" và "Bad".[336] Theo David Winters, người từng gặp gỡ và kết bạn cùng Jackson trong khi biên đạo cho chương trình Diana! của Diana Ross vào năm 1971, Jackson xem West Side Story gần như mỗi tuần và là bộ phim ưa thích của ông.[337][338][339] Trong khi Little Richard có những ảnh hưởng sâu sắc đến Jackson,[340] James Brown mới là nguồn cảm hứng vĩ đại nhất của ông. Trong một lần nhắc đến Brown, Jackson khẳng định: "Từ khi còn là một đứa trẻ chưa đến 6 tuổi, mẹ tôi luôn gọi tôi dậy, bất kể thời gian hay vào lúc tôi đang ngủ, để xem ông ấy trình diễn trên truyền hình. Tôi đều ghi nhớ mỗi khi thấy ông ấy di chuyển. Tôi chưa từng thấy một người có lối trình diễn như James Brown và ngay thời khắc đó tôi biết mình phải làm những gì trong quãng đời còn lại bởi vì James Brown."[341]

Michael Jackson thời non trẻ mang kỹ thuật giọng hát ảnh hưởng lớn bởi Diana Ross. Không chỉ mang một hình tượng mẫu mực, Ross còn giám sát Jackson tập dượt như một người trình diễn hoàn thiện. Ông sau này thổ lộ: "Tôi biết bà ấy rất rõ. Bà ấy dạy cho tôi rất nhiều. Tôi từng ngồi xem bà ấy trình diễn. Bà là nghệ thuật trong chuyển động. Tôi học cách bà ấy di chuyển, cách bà ấy cất giọng." Jackson có lần bảo Ross: "Tôi muốn trở thành một người như bà, Diana ạ." Bà ấy trả lời: "Cậu hãy cứ là chính mình."[342] Trong phong cách lâu dài của Jackson, ông sử dụng thán từ oooh như là sự thành kính đến Ross. Từ lúc bé, Jackson thường hát nhấn mạnh bằng những đoạn oooh cảm thán bất chợt. Diana Ross thường sử dụng hiệu ứng này trong nhiều bài hát thu âm cùng the Supremes.[343]

Chủ đề và thể loại[sửa | sửa mã nguồn]

Không như nhiều nghệ sĩ khác, Jackson không sáng tác trên giấy. Thay vào đó, ông thu âm bằng một máy thu thanh và hát lại bằng trí nhớ của mình.[344] Trong hầu hết các bài hát của ông, như "Billie Jean", "Who Is It" và "Tabloid Junkie", Jackson thường beatbox hay bắt chước tiếng nhạc cụ bằng giọng hát thay vì chơi nhạc cụ thật, cùng những âm thanh khác. Steve Huey của Allmusic khẳng định rằng trong suốt sự nghiệp đơn ca, tài năng của Jackson đã tạo điều kiện cho ông có cơ hội thử sức với hàng loạt chủ đề và thể loại âm nhạc khác nhau.[2] Trong cương vị một nhạc sĩ, ông từng khám phá nhiều thể loại âm nhạc, bao gồm pop, soul, rhythm and blues, funk, rock, disco, post-disco, dance-popnew jack swing.[2][134][345][346][347][348]

Cũng theo Huey, Thriller là sự trau chuốt hơn những điểm mạnh của Off the Wall; những bản dance và rock trở nên kích động hơn, trong khi những giai điệu pop và ballad dường như nhẹ nhàng và truyền cảm hơn.[2] Ca khúc nổi bật gồm các bản ballad "The Lady in My Life", "Human Nature" và "The Girl Is Mine"; mảng nhạc funk gồm "Billie Jean" và "Wanna Be Startin' Somethin'"; disco thì có "Baby Be Mine" and "P.Y.T. (Pretty Young Thing)".[2][349][350][351] Với Thriller, Christopher Conelly của Rolling Stone bình luận rằng Jackson đã mở rộng sự kết hợp với đề tài hoang tưởng và hình ảnh bí ẩn.[351] Stephen Thomas Erlewine của Allmusic nhấn mạnh đây là điều hiển nhiên ở những bài hát như "Billie Jean" hay "Wanna Be Startin' Somethin'".[349] Với "Billie Jean", Jackson hát về một người hâm mộ cuồng nhiệt đã coi ông là bố của những đứa con cô ta[2] Còn với "Wanna Be Startin' Somethin'", ông thúc giục người nghe chống lại những chuyện tầm phào của giới truyền thông.[351] Ca khúc rock "Beat It" mang ý nghĩa chống lại bạo lực trong những băng nhóm, tri ân đến West Side Story và Huey coi đây là bài hát rock thành công đầu tiên của Jackson.[2][36] Huey nhận thấy trong ca khúc cùng tên album, "Thriller" Jackson bắt đầu cho thấy sự hứng thú về hiện tượng siêu nhiên, một chủ đề mà ông lặp lại trong những năm tiếp theo.[2] Năm 1985, Jackson đồng sáng tác ca khúc từ thiện "We Are The World"; nội dung nhân đạo sau này trở thành chủ đề lớn trong hình ảnh công chúng và sự nghiệp của ông.[2]

Đoạn nhạc mẫu:
  • "Thriller"
    Một trong những bài hát nổi tiếng nhất của Jackson, "Thriller" ra mắt dưới dạng đĩa đơn vào năm 1984, sử dụng những hiệu ứng âm thanh điện ảnh và yếu tố phim kinh dị để truyền tải nỗi sợ hãi đến người nghe.[46]
    "Smooth Criminal"
    "Smooth Criminal" là đĩa đơn phát hành từ Bad vào năm 1988, có sự xuất hiện của tiếng trống điện tử, dòng bass keyboard và các yếu tố bộ gõ khác, với sự mô phỏng theo nhịp tim.[352]
    "Black or White"
    Đĩa đơn đầu tiên từ Dangerous, "Black or White" mang giai điệu của hard rockdance, là một trong những bài hát thành công nhất của Jackson.[353][354]
  • Trục trặc khi nghe? Xem hướng dẫn.

Bad, khái niệm của Jackson về tình yêu có tính chất vụ lợi có thể thấy ở bài "Dirty Diana".[355] Đĩa đơn đầu tiên "I Just Can't Stop Loving You" là một bản ballad tình yêu truyền thống, trong khi "Man In The Mirror" lại nói về sự thú nhận và quyết tâm. "Smooth Criminal" thì gợi lên những cuộc xô xát đẫm máu, hiếp dâm và thậm chí là giết người. Stephen Erlewine cho rằng Dangerous bộc lộ Jackson như một cá nhân hoàn toàn ngược đời.[356] Ông bình luận rằng album đa dạng hơn Bad, khi vừa hấp dẫn khán giả thể loại urban lại vừa thu hút giới trung lưu với những bài hát như "Heal the World".[356] Nửa đầu của album hướng về dòng new jack swing bao gồm các bài như "Jam" và "Remember The Time".[357] Đây là album đầu tiên của Jackson lấy những mặt yếu kém của xã hội làm chủ đề chính; "Why You Wanna Trip on Me" là một ví dụ phản ảnh nạn đói, AIDS, nghiện hút và vô gia cư trên thế giới.[357] Dangerous còn đề cập về vấn đề giới tính như trong "In The Closet".[357] Bài hát chủ đề tiếp tục nhắc đến tình yêu vụ lợi và dục vọng ép buộc.[357] Nửa sau của album bao gồm những ca khúc mang tính hướng nội nhiều hơn, như những bài hát mang ảnh hưởng Phúc âm "Will You Be There", "Heal the World" và "Keep the Faith"; đề cập đến nhiều vấn đề cá nhân và nỗi lo lắng.[357] Ông viết ca khúc "Gone Too Soon" để tưởng nhớ người bạn Ryan White và cảnh ngộ khốn khó của nạn nhân bệnh AIDS.[358]

HIStory thì tạo ra một không khí đầy mơ tưởng.[359] Nội dung của album tập trung vào sự gian khổ và kiên trì đấu tranh của Jackson trong quá trình sản xuất. Bài hát new jack swing-funk-rock "Scream" và "Tabloid Junkie", cùng với bản ballad R&B "You Are Not Alone" là lời đáp trả những bất công và nỗi cô đơn mà ông cảm nhận, đồng thời là sự phẫn nộ trước những soi mói thái quá của giới truyền thông.[360] Trong bản ballad "Stranger in Moscow", Jackson than thở về "sự mê muội đắm say", trong khi "Earth Song", "Childhood", "Little Susie" và "Smile" mang giai điệu pop opera.[359][360] Với "D.S.", Jackson chỉ trích Tom Sneddon như một kẻ chống lại xã hội, kẻ coi người da trắng là thượng đẳng, ưu việt.[361] Invincible cho thấy Jackson đã phải làm việc vất vả với nhà sản xuất Rodney.[2] Đó là bản thu âm tập hợp nhạc urban soul như các bài "Cry", "The Lost Children", những bản ballad như "Speechless", "Break of Dawn" và "Butterflies", pha trộn thêm hip-hop, pop, rap trong "2000 Watts", "Heartbreaker" và "Invincible".[362][363]

Giọng hát[sửa | sửa mã nguồn]

Jackson bắt đầu hát khi còn là một đứa trẻ, trải qua năm tháng thì giọng và cách hát của ông đã có những thay đổi đáng chú ý. Trong những năm 1971 đến 1975, ông giảm từ giọng nam cao ("boy soprano") sang kiểu giọng mái ("high tenor").[364] Quãng giọng khi đã trưởng thành của Jackson trải dài từ F2-E6. Jackson lần đầu sử dụng chất giọng nấc ("vocal hiccup") vào năm 1973, bắt đầu từ bài hát "It's Too Late to Change the Time" của album G.I.T.: Get It Together của the Jackson 5.[365] Mãi đến khi thu âm Off the Wall, ông mới sử dụng lại kỹ thuật này—khá giống như việc nuốt không khí hoặc thở hổn hển. Có thể nghe thấy hiệu ứng này trọn vẹn trong video quảng bá "Shake Your Body (Down to the Ground)".[42] Với sự ra đời của Off the Wall cuối thập niên 1970, năng lực của Jackson như một ca sĩ thực thụ bắt đầu được công nhận. Thời gian đó, Rolling Stone so sánh giọng ông như "nói lắp nín thở, vẩn vơ" theo kiểu Stevie Wonder. Họ cũng phân tích rằng "giọng hát vừa mềm mại vừa cứng cáp của Jackson thật tuyệt vời. Nó lướt một cách nhẹ nhàng cùng chất giọng falsetto đáng ngạc nhiên một cách táo bạo".[345][366] Năm 1982 chứng kiến sự phát hành của Thriller, Rolling Stone cho rằng ông đang hát với một "giọng hát hoàn toàn trưởng thành" mà "đượm chút buồn".[351]

Jackson thường xuyên cố tình phát âm sai cụm từ "come on", thỉnh thoảng đánh vần thành "c'mon", "cha'mone" hay "shamone", nhằm biểu lộ sự nhấn mạnh của ông.[367] Vào đầu thập niên 1990, ông phát hành Dangerous mang nhiều tính nội tâm. Thời báo New York nhận thấy trong nhiều bài hát, ông "nín thở, giọng run run khi nhắc đến những mối lo toan hay chuyển sang thì thầm những lời tuyệt vọng, rít lên giận dữ qua những tiếng nghiến răng" và có một "giọng điệu đầy đau khổ".[357] Còn khi hát về tình anh em hay lòng tự trọng, giọng ca của ông dường như trở nên "mềm mại" hơn.[357] Khi nhận xét về Invincible, tạp chí Rolling Stone cho rằng Jackson ở tuổi 43 vẫn còn biểu diễn "những ca khúc mang giai điệu giọng thanh thoát và sự hòa giọng ngân vang".[368] Nelson George kết luận giọng hát của Jackson rằng "Sự thanh nhã, phản kháng, giận dữ, trẻ con, chất giọng mái, sự mềm mại—tất cả trở thành những yếu tố làm nên tên tuổi một giọng ca lớn".[352] Nhà phê bình văn hóa Joseph Vogel nhìn nhận "phong cách khác biệt [của Jackson] nằm ở khả năng truyền đạt cảm xúc mà không cần sử dụng ngôn ngữ: những biểu cảm ngấu nghiến, càu nhàu, thở hổn hển, khóc, cảm thán trứ danh; ông còn vặn vẹo từ ngữ cho đến khi chúng gần như không thể nhận thấy được nữa."[369] Neil McCormick cho rằng phong cách ca hát không chính thống của Jackson "dộc đáo và hoàn toàn khác biệt, từ chất giọng falsetto thanh khiết đến âm giữa nhẹ nhàng và ngọt ngào; sự đè nén liền mạch giữa một loạt nốt nhanh [...] Khác biệt so với dòng nhạc soul truyền thống Mỹ, ông không thường trình bày những bản thuần ballad, nhưng khi ông thể hiện chúng (từ 'Ben' đến 'She's Out of My Life') hiệu ứng này trợ nên mạnh mẽ một cách giản đơn và chân thực."[370][371]

Video âm nhạc và vũ đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Jackson được vinh danh là "Ông hoàng của Video âm nhạc".[372] Steve Huey từ AllMusic nhận thấy cách mà Jackson chuyển hóa video âm nhạc sang hình thức nghệ thuật và là một công cụ quảng bá thông qua cốt truyện phức tạp, vũ đạo, hiệu ứng đặc biệt và sự góp mặt của người nổi tiếng, đồng thời phá bỏ rào cản về chủng tộc.[2] Trước Thriller, Jackson gặp nhiều khó khăn để gây được chú ý từ MTV do ông là người Mỹ gốc Phi.[373] Trước những áp lực từ CBS Records, MTV trình chiếu "Billie Jean" và sau đó là "Beat It", tiến đến sự hợp tác lâu dài cùng Jackson, đồng thời giúp nhiều nghệ sĩ da màu được biết đến.[374] 5 nhân viên từ MTV chối bỏ bất kỳ khẳng định phân biệt chủng tộc hay sức ép nào trên kênh này; MTV vẫn chơi nhạc rock từ bất kể chủng tộc nào.[375] Sự phổ biến của Jackson trên MTV giúp cho kênh truyền hình này nhận được nhiều chú ý; trọng tâm của kênh sau đó chuyển sang pop và R&B.[374][376] Màn trình diễn của ông trong Motown 25: Yesterday, Today, Forever đã thay đổi quy mô dàn dựng trực tiếp; "Màn trình diễn 'Billie Jean' nhép môi ấy của Jackson, bản thân nó không đặc biệt, nhưng điều phi thường nằm ở chỗ nó thay đổi tầm ảnh hưởng của một màn trình diễn thông thường; trình diễn trực tiếp hay nhép môi đều giống nhau trước mắt khán giả", tạo ra một thời kỳ nơi nghệ sĩ tái tạo hình tượng trong video âm nhạc lên sân khấu.[377] Những thước phim ngắn như Thriller vẫn còn giữ nguyên tính độc đáo, trong khi vũ đạo trong "Beat It" thường xuyên được mô phỏng rộng rãi.[378] Vũ đạo trong Thriller trở thành một phần quan trọng trong văn hóa đại chúng,[379] Thriller khởi đầu một kỷ nguyên mới của video ca nhạc và được Kỷ lục thế giới Guinness vinh danh là video âm nhạc thành công nhất mọi thời đại.[137]

Jackson nhảy múa trong video ca nhạc "Thriller".

Trong video "Bad" dài 18 phút do Martin Scorsese đạo diễn, Jackson bắt đầu sử dụng hình tượng gợi cảm và khả năng biên đạo chưa từng thấy trong các sản phẩm trước đây. Ông thỉnh thoảng túm lấy hoặc chạm vào ngực, thân mình và hạ bộ. Khi ông miêu tả đó là "biên đạo múa", "Bad" nhận được những khen chê lẫn lộn từ cả người hâm mộ lẫn phê bình. Tạp chí Time coi nó là điều "đáng hổ thẹn".[380] Với "Smooth Criminal", Jackson sáng tạo cú "ngả người chống lại trọng lực"—khi người biểu diễn nghiêng một góc 45 độ từ tâm trọng lực, được thực hiện bằng một đôi giày đặc biệt giúp giữ chân của vũ công trên sân khấu. Động tác này được ông đăng ký bằng sáng chế ở Mỹ số 5,225,452.[381] Mặc dù video ca nhạc "Leave Me Alone" (1989) không được phát hành chính thức tại Mỹ, vào năm 1989, video này giành 3 đề cử giải Billboard hạng mục video ca nhạc;[382] cùng năm đó, video cũng giành giải thưởng Sư Tử Vàng cho chất lượng hiệu ứng đặc biệt. Năm 1990, "Leave Me Alone" giành giải Grammy cho hạng mục "Video âm nhạc dạng ngắn xuất sắc nhất".[132]

Ông giành giải thưởng tiên phong của MTV vào năm 1988 và giải MTV Nghệ sĩ video của thập niên 1990 nhằm tôn vinh thành tựu nghệ thuật trong video ca nhạc của ông trong suốt thập niên 1980; vào năm 1991, giải thưởng được đổi sang tên ông để vinh danh ông.[148] Video âm nhạc gây tranh cãi "Black or White" khởi chiếu cùng lúc vào ngày 14 tháng 11 năm 1991 tại 27 quốc gia với lượng người xem lên tới 500 triệu người, một kỷ lục vào thời điểm đó.[147] Video có nhiều cảnh mang tính gợi dục và bạo lực. Những cảnh quay gây khó chịu ở nửa cuối video dài 14 phút được điều chỉnh lại nhằm tránh khỏi lệnh cấm chiếu và Jackson đã lên tiếng xin lỗi công chúng.[383] Cùng với Jackson, những diễn viên khác như Macaulay Culkin, Peggy LiptonGeorge Wendt cũng xuất hiện trong video.[384] Video "Remember the Time" được đầu tư kỹ lưỡng và trở thành một trong những video dài nhất của ông, với thời lượng hơn 9 phút. Lấy bối cảnh là Ai Cập cổ đại, nhà sản xuất phải sử dụng nhiều hiệu ứng thị giác, với sự tham gia của diễn viên Eddie Murphy, người mẫu Iman và vận động viên bóng rổ Magic Johnson trong nhiều vũ đạo phức tạp.[385] "In the Closet" là một trong những video gợi cảm nhất của Jackson; siêu mẫu Naomi Campbell xuất hiện trong video và thực hiện những điệu múa tình tứ với Jackson. Video bị cấm chiếu tại Nam Phi.[148]

Video ca nhạc "Scream", do Mark Romanek đạo diễn và thiết kế sản xuất bởi Tom Foden, là một trong những video được hoan nghênh từ giới phê bình. Năm 1995, video mang về 11 đề cử giải Video âm nhạc của MTV—nhiều hơn bất kỳ video nào khác—và giành được giải "Video nhảy xuất sắc nhất", "Bố trí đẹp nhất" và "Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất".[386] Bài hát và video "Scream" được cho là một nỗ lực phản kháng mạnh mẽ của hai anh em Jackson đối với lời buộc tội xâm hại tình dục trẻ em năm 1993.[387] Một năm sau, video giành một giải Grammy hạng mục "Video âm nhạc dạng ngắn xuất sắc nhất" và sau đó được sách kỷ lục Guinness ghi nhận là video ca nhạc có chi phí đầu tư lớn nhất mọi thời đại với 7 triệu đô-la Mỹ.[195][388] "Earth Song" có một video âm nhạc công phu và được đón nhận tốt, mang về một đề cử giải Grammy vào năm 1997. Video mang chủ đề vì môi trường, có những cảnh quay về ngược đãi thú vật, phá rừng, ô nhiễm và chiến tranh.[195][389] Phát hành năm 1997 và khởi chiếu một năm trước đó tại Liên hoan phim Cannes, Ghosts là một bộ phim ngắn do Jackson và Stephen King sáng tác, đạo diễn bởi Stan Winston. Video Ghosts dài hơn 38 phút và hiện đang giữ kỷ lục là video ca nhạc dài nhất thế giới theo Sách kỷ lục Guinness.[195][207][390][391]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi sao của Jackson trên Đại lộ Danh vọng Hollywood, được lưu danh năm 1984

Giới truyền thông đã tôn vinh Jackson là "Vua nhạc Pop" bởi vì, trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã tạo nên cuộc cách tân về nghệ thuật của video âm nhạc và mở đường cho nền nhạc pop hiện đại. Nhà báo Tom Utley tờ The Daily Telegraph đã mô tả những đóng góp của Jackson vào năm 2003 là "cực kỳ quan trọng" và là một "thiên tài".[392] Trong phần lớn sự nghiệp, ông có sức ảnh hưởng ở cấp độ "không thể sánh kịp" đến thế hệ trẻ trên toàn cầu thông qua những đóng góp về âm nhạc và thiện nguyện của mình.[199] Âm nhạc và video của Jackson, như Thriller, đã thúc đẩy sự đa dạng về chủng tộc trên kênh MTV, đưa kênh truyền hình còn non trẻ này đến với cộng đồng và chuyển hướng tập trung của kênh từ rock sang nhạc pop và R&B, từ đó định hình nên hệ thống một cách vững chắc. Tác phẩm của Jackson còn tiếp tục ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ ở các thể loại âm nhạc khác nhau. BET mô tả Jackson "đơn giản là nhà giải trí vĩ đại nhất mọi thời đại" và là người "mở một cuộc cách mạng video âm nhạc và đưa nhiều điệu nhảy như moonwalk đến thế giới."[393]

Steve Huey của AllMusic mô tả Jackson là "một gã hùng mạnh không thể bị cản phá, người thành thục tất cả những kỹ năng để chiếm phá các bảng xếp hạng: một giọng hát dễ dàng nhận biết, những động tác lôi cuốn, tính linh hoạt trong âm nhạc một cách đáng kinh ngạc và vô vàn sức mạnh của một ngôi sao".[2] Vào giữa thập niên 1980, nhà phê bình âm nhạc của tạp chí Time, Jay Cocks nhận thấy "Jackson là điều đáng kể nhất từ the Beatles. Ông là hiện tượng nóng bỏng nhất kể từ Elvis Presley. Ông cũng có thể là ca sĩ da màu phổ biến nhất".[71] Vào năm 1990, Vanity Fair gọi Jackson là nghệ sĩ nổi tiếng nhất trong lịch sử trình diễn.[132] Vào năm 2007, Jackson phát biểu "Âm nhạc chính là lối thoát, là món quà mà tôi gửi đến tất cả người điệu mộ trên thế giới. Thông qua âm nhạc của bản thân, tôi biết mình sẽ trường tồn mãi mãi."[394]

Không lâu sau khi Jackson mất, vào ngày 25 tháng 6 năm 2009, MTV quay lại định dạng trình chiếu video âm nhạc để kỷ niệm đến ông.[395] Kênh trình chiếu video âm nhạc của ông hàng giờ liền, cùng nhiều bản tin trực tiếp đặc biệt về phản ứng của các ngôi sao và đội ngũ MTV.[396] Trong buổi lễ tang vào ngày 7 tháng 7 năm 2009, nhà sáng lập hãng Motown Berry Gordy gọi Jackson là "nhà giải trí vĩ đại nhất mọi thời đại".[397][398][399] Vào ngày 29 tháng 12 năm 2009, Viện phim Mỹ công nhận cái chết của Jackson là một "khoảnh khắc mang ý nghĩa trọng đại" khi "gây nỗi đau buồn trên khắp thế giới và những lời ca tụng chưa từng thấy trên toàn cầu".[400] Vào năm 2015, hai thủ thư trường đại học tìm thấy những ảnh hưởng mở rộng của Jackson trong học thuật và được đề cập trong tài liệu học thuật, có liên quan đến một loạt các vấn đề.[401][402] Cả hai tìm hiểu về các tác phẩm khác nhau của nhiều học giả và tập hợp thành một tài liệu chú thích. Tập tài liệu bao gồm những báo cáo nghiên cứu về Jackson trong âm nhạc, văn hóa đại chúng, hóa học và nhiều chủ đề khác.[401][403]

Vinh danh và giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận đĩa bạch kim của Thriller được đặt tại Hard Rock Cafe, Hollywood tại Universal City, California

Trong suốt sự nghiệp của mình, Jackson đã nhận được nhiều giải thưởng và huân chương, trong đó có Giải thưởng Âm nhạc Thế giới cho "Nghệ sĩ pop nam bán đĩa chạy nhất thiên niên kỷ", Giải thưởng Âm nhạc Mỹ cho "Nghệ sĩ của thế kỷ" và giải Bambi cho "Nghệ sĩ Pop của Thiên niên kỷ".[211][404] Tại lễ trao giải thưởng Âm nhạc Thế giới ở Luân Đôn vào ngày 15 tháng 11 năm 2006, Jackson nhận giải thưởng Kim cương cho hơn 100 triệu đĩa nhạc lưu hành trên toàn cầu.[147][405]

Ông đã hai lần được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, lần thứ nhất vào năm 1997 cùng với các anh trai trong ban nhạc The Jackson 5 và lần thứ hai vào năm 2001 dưới vai trò của một nghệ sĩ hát đơn. Jackson được bổ nhiệm vào Đại sảnh Danh vọng Nhóm hát vào năm 1999 (như là thành viên nhóm Jackson 5) và tại Đại sảnh Danh vọng Nhạc sĩ vào năm 2002.[211] Năm 2010, Jackson được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng Khiêu Vũ như là người đầu tiên (và duy nhất) của nhạc pop và rock 'n' roll được vinh danh.[406] Vào năm 2014, Jackson là một trong những thành viên bổ nhiệm năm thứ hai của Đại sảnh Danh vọng nhạc R&B; cha của Jackson, Joe Jackson đã nhận thay ông.[407]

Thành tích nổi bật khác của Jackson còn là hàng loạt kỷ lục Guinness (ghi thêm 6 kỷ lục chỉ tính riêng năm 2006),[408] 13 giải Grammy[409] (bao gồm Giải Grammy Huyền thoại[410]Giải Grammy Thành tựu trọn đời),[411] 26 giải thưởng Âm nhạc Mỹ (bao gồm giải "Nghệ sĩ của Thế kỷ" và "Nghệ sĩ của thập niên 1980"),[412][413][414]—nhiều hơn bất kể nghệ sĩ nào, 13 đĩa đơn quán quân tại Hoa Kỳ trong sự nghiệp đơn ca—nhiều hơn bất kỳ nam nghệ sĩ nào trong thời kỳ Hot 100[415]—và hơn 400 triệu đĩa nhạc tiêu thụ trên toàn cầu,[416][417][GC] giúp ông trở thành một trong những nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất trong lịch sử âm nhạc. Jackson còn nhận được Bằng Doctor of Humane Letters từ United Negro College Fund[418] và Huân chương Doctorate of Humane Letters từ Đại học Fisk.[419]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú

^

Chú thích
  1. ^ Sở Y tế hạt Los Angeles (2009). Giấy chứng tử của Michael Jackson.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Huey, Steve. “Michael Jackson – Artist Biography”. AllMusic. All Media Network. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  3. ^ a ă Lewis Jones 2005, tr. 3
  4. ^ a ă Arar, Yardena (29 tháng 2 năm 1984). “Michael Jackson coronated latest king of rock 'n' roll”. Boca Raton News. tr. 7A. 
  5. ^ a ă “Is the thrill gone for singer Michael Jackson?”. Sacramento Bee. 27 tháng 7 năm 1987. tr. B3. 
  6. ^ Lewis, Monica (14 tháng 6 năm 2007). “20 People Who Changed Black Music: Michael Jackson, the Child Star-Turned-Adult Enigma”. The Miami Herald. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013. 
  7. ^ Trust, Gary (21 tháng 5 năm 2014). “Michael Jackson, Coldplay Hit Hot 100's Top 10; John Legend Still No. 1”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2014. 
  8. ^ Orth, Maureen (tháng 4 năm 2003). “Losing His Grip”. Vanity Fair. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2008. 
  9. ^ Mankiewicz, Josh (3 tháng 9 năm 2004). “New details about 1993 Jackson case” (Thông cáo báo chí). NBC News. 
  10. ^ “Hazarika's funeral creates world record” (Thông cáo báo chí). MSN News. 15 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  11. ^ a ă “Top Earning Dead Celebrities 2015”. Forbes. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2015. 
  12. ^ Jackson 2009, tr. 26
  13. ^ Young 2009, tr. 18
  14. ^ Young 2009, tr. 17, 19
  15. ^ Young 2009, tr. 18–9
  16. ^ a ă â b George 2004, tr. 20
  17. ^ Taraborrelli 2009, tr. 434–436
  18. ^ a ă “Michael Jackson's Secret Childhood”. VH1. 20 tháng 6 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2008. 
  19. ^ Taraborrelli 2009, tr. 20–2
  20. ^ “Can Michael Jackson's demons be explained?”. BBC News Online. 27 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  21. ^ “Jackson interview seen by 14m”. BBC News Online. 4 tháng 2 năm 2003. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  22. ^ Young 2009, tr. 24
  23. ^ Schechter, Daniel; Willheim, Erica (2009). “The Effects of Violent Experience and Maltreatment on Infants and Young Children”. Trong Zeanah, Charles H. Handbook of Infant Mental Health (ấn bản 3). New York: Guilford Press. tr. 197–214. 
  24. ^ Taraborrelli 2009, tr. 602
  25. ^ a ă Lewis Jones 2005, tr. 165–68
  26. ^ Friedman, Roger (7 tháng 2 năm 2003). “Michael Jackson's Unacceptable Behavior Revealed”. Fox News Channel. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  27. ^ Duke, Alan (21 tháng 7 năm 2009). “Joe Jackson denies abusing Michael” (Thông cáo báo chí). CNN. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  28. ^ “Jackson Brothers: Was Joe Jackson Abusive?”. Yahoo! Celebrity. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  29. ^ a ă “The Jackson 5 Biography”. Rock and Roll Hall of Fame. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  30. ^ Taraborrelli 2009, tr. 13–4
  31. ^ Young 2009, tr. 21–2
  32. ^ “Triumph & Tragedy: The Life of Michael Jackson”. Rolling Stone India. 25 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  33. ^ Young 2009, tr. 22
  34. ^ Young 2009, tr. 21
  35. ^ Taraborrelli 2009, tr. 59–69
  36. ^ a ă “Michael Jackson – Biography”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2008. 
  37. ^ Taraborrelli 2009, tr. 81–2
  38. ^ a ă â b Young 2009, tr. 25
  39. ^ McNulty, Bernadette (26 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson's music: the solo albums”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  40. ^ Taraborrelli 2009, tr. 98–9
  41. ^ Alban, Debra (28 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson broke down racial barriers” (Thông cáo báo chí). CNN. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  42. ^ a ă â George 2004, tr. 22
  43. ^ Taraborrelli 2009, tr. 138–144
  44. ^ The Wiz tại Internet Movie Database
  45. ^ Taraborrelli 2009, tr. 178–9
  46. ^ a ă George 2004, tr. 23
  47. ^ a ă Taraborrelli 2009, tr. 205–210
  48. ^ a ă George 2004, tr. 37–8
  49. ^ “Aug 29, 1958: Michael Jackson is born”. History. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  50. ^ “Michael Jackson: Off The Wall”. Virgin Media. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  51. ^ “Donna Summer and Michael Jackson sweep Annual American Music Awards”. The Ledger. Associated Press. 20 tháng 1 năm 1980. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  52. ^ Peters, Ida (2 tháng 2 năm 1980). “Donna No. 1, Pop and Soul; Michael Jackson King of Soul”. The Afro-American. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  53. ^ “Few Surprises In Music Awards”. Sarasota Herald-Tribune. Associated Press. 1 tháng 2 năm 1981. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  54. ^ Taraborrelli 2009, tr. 188
  55. ^ Taraborrelli 2009, tr. 191
  56. ^ Kozak, Roman (27 tháng 11 năm 1982). “CBS sues to block MCA 'E.T.' package”. Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2012. 
  57. ^ a ă â b c “Past Winners Search: Michael Jackson”. The Recording Academy. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2014. 
  58. ^ a ă â “Past Winners Search: Bruce Swedien”. The Recording Academy. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  59. ^ “Michael Jackson sweeps American Music Awards”. Daily News. Associated Press. 17 tháng 1 năm 1984. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 
  60. ^ “Winner Search: Search Results for "Michael Jackson". Dick Clark Productions. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2014. 
  61. ^ Gitlin, Martin (2011). The Baby Boomer Encyclopedia. ABC-CLIO. tr. 96. 
  62. ^ “Michael Jackson Opens Up”. CBS. Ngày 6 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2008. 
  63. ^ Kory Grow (16 tháng 12 năm 2015). “Michael Jackson's 'Thriller' Is First Album to Sell 30 Million Copies”. Rolling Stone. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  64. ^ “Michael Jackson's 'Thriller' First Ever 30X Multi-Platinum RIAA Certification”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2015. 
  65. ^ Melinda Newman (1 tháng 2 năm 2016). “Michael Jackson's 'Thriller' Hits 32 Million As RIAA Adds Streaming To Gold And Platinum Certs”. Forbes. 
  66. ^ Lewis Jones 2005, tr. 47
  67. ^ a ă Dobuzinskis, Alex (30 tháng 12 năm 2009). “Jackson "Thriller" film picked for U.S. registry” (Thông cáo báo chí). Reuters. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  68. ^ “Zorro, Nemo, Muppets & More: Wide Variety Tapped for 2009 Film Registry”. Library of Congress. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  69. ^ a ă Itzkoff, Dave (30 tháng 12 năm 2009). 'Thriller' Video Added to U.S. Film Registry”. The New York Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  70. ^ Piazza, Jo (30 tháng 12 năm 2009). 'Thriller,' 'Muppet Movie' now in Library of Congress film registry” (Thông cáo báo chí). CNN. 
  71. ^ a ă â Cocks, Jay (19 tháng 3 năm 1984). “Why He's a Thriller”. Time. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010. 
  72. ^ Taraborrelli 2009, tr. 226
  73. ^ Pareles, Jon (14 tháng 1 năm 1984). “Michael Jackson at 25: A Musical Phenomenon”. The New York Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  74. ^ Williams, Janette (24 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson left indelible mark on Pasadena”. Whittier Daily News. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  75. ^ Taraborrelli 2009, tr. 234–7
  76. ^ Taraborrelli 2009, tr. 243–4
  77. ^ Taraborrelli 2009, tr. 238–241
  78. ^ a ă “Fatal Cardiac Arrest Strikes Michael Jackson”. Emmys.com. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  79. ^ Kisselgoff, Anna (6 tháng 3 năm 1988). “Stage: The Dancing Feet Of Michael Jackson”. The New York Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  80. ^ “Berry Gordy Addresses Michael Jackson Memorial Service”. Hark. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  81. ^ a ă â Herrera, Monica (3 tháng 7 năm 2009). “Michael Jackson, Pepsi Made Marketing History”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  82. ^ Story, Louise (31 tháng 12 năm 2007). “Philip B. Dusenberry, 71, Adman, Dies”. The New York Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  83. ^ Taraborrelli 2009, tr. 279–287
  84. ^ “Beyonce and Pepsi Strike Estimated $50 Million Multi-Level Partnership” (blog). Hip Hop Media Training. Ngày 10 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2014. 
  85. ^ Taraborrelli 2009, tr. 304–7
  86. ^ “Drunk Driving Prevention (1983 – Present)”. Advertising Education Foundation. 2003. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  87. ^ Taraborrelli 2009, tr. 320
  88. ^ Taraborrelli 2009, tr. 314
  89. ^ Taraborrelli 2009, tr. 315–320
  90. ^ a ă â “Past Winners Search: "We Are The World". The Recording Academy. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2014. 
  91. ^ a ă “Bruce shows who's Boss”. Montreal Gazette. Associated Press. 28 tháng 1 năm 1986. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 
  92. ^ a ă â b c d đ Doyle, Jack (7 tháng 7 năm 2009). "Michael & McCartney": 1980s–2009”. The Pop History Dig. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  93. ^ Breznican, Anthony (30 tháng 6 năm 2009). “The many faces of Michael Jackson”. USA Today. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015. 
  94. ^ Campbell 1993, tr. 114
  95. ^ Young 2009, tr. 340–4
  96. ^ a ă â b c d Hilburn, Robert (22 tháng 9 năm 1985). “The long and winding road”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  97. ^ a ă “Paul McCartney refused an offer to buy the ATV Catalog for £20 million ($40 million USD)”. Mjjinfo.blogspot.fr. 13 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  98. ^ “Michael Jackson 1958–2009”. Today Tonight. 25 tháng 6 năm 2009. Coverage of the sale of ATV Music at 2:36 phút. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011. 
  99. ^ a ă â Campbell 1995, tr. 14–6
  100. ^ Taraborrelli 2009, tr. 434–6
  101. ^ Jackson 2009, tr. 229–230
  102. ^ Taraborrelli 2009, tr. 312–3
  103. ^ a ă “Music's misunderstood superstar”. BBC News Online. 13 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  104. ^ Goldberg, Michael; Handelman, David (24 tháng 9 năm 1987). “Is Michael Jackson for Real?”. Rolling Stone. 
  105. ^ a ă Taraborrelli 2009, tr. 355–61
  106. ^ Taraborrelli 2009, tr. 370–3
  107. ^ Abimboye, Demola (5 tháng 7 năm 2009). “The Man, His Weird Ways”. Newswatch. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2010. 
  108. ^ Jackson, Michael (12 tháng 9 năm 1997). Jackson interview with Barbara Walters. Phỏng vấn bởi Barbara Walters. 20/20. ABC. 
  109. ^ Taraborrell 2009, tr. vii
  110. ^ “Business Data for Captain EO”. IMDb. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2006. 
  111. ^ George 2004, tr. 41
  112. ^ “Captain EO is Back to Change the World”. IGN. 23 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  113. ^ Johnson, Robert E. (tháng 9 năm 1987). “Michael Jackson Comes Back!”. Ebony 42 (11): 143, 148–9. ISSN 0012-9011. 
  114. ^ Jackson, Katherine (tháng 10 năm 1990). “Mother of Jackson Family Tells All”. Ebony 45 (12): 66. ISSN 0012-9011. 
  115. ^ Cocks, Jay (14 tháng 9 năm 1987). “Music: The Badder They Come”. Time. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010. 
  116. ^ “50 fastest selling albums ever”. NME. 27 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  117. ^ Kaufman, Gil (5 tháng 11 năm 2010). “Michael Jackson's New Album Cover Decoded”. MTV. Viacom. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  118. ^ Sinha-Roy, Piya (21 tháng 5 năm 2012). “Michael Jackson is still "Bad," 25 years after album” (Thông cáo báo chí). Reuters. 
  119. ^ “25th Anniversary Of Michael Jackson's Landmark Album Bad Celebrated With September 18 Release Of New Bad 25 Packages”. Yahoo!. 21 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2013. 
  120. ^ Leopold, Todd (6 tháng 6 năm 2005). “Michael Jackson: A life in the spotlight” (Thông cáo báo chí). CNN. 
  121. ^ “Michael, Travis top Music Award winners”. Lodi News-Sentinel. UPI. 30 tháng 1 năm 1989. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 
  122. ^ “American Music Awards Monday”. The Modesto Bee. 27 tháng 1 năm 1989. 
  123. ^ Campbell 1993, tr. 251
  124. ^ “Winners of American Music Awards”. Lodi News-Sentinel. UPI. 26 tháng 1 năm 1988. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 
  125. ^ a ă Lewis Jones 2005, tr. 95–6
  126. ^ Harrington, Richard (12 tháng 1 năm 1988). “Jackson to Make First Solo U.S. Tour”. The Washington Post. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013. 
  127. ^ “16 of Michael Jackson's Greatest Non-Musical Achievements”. Brainz.org. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  128. ^ “Michael Jackson Solo Tours”. Cirquedusoleil.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2014. 
  129. ^ Shanahan, Mark; Golstein, Meredith (27 tháng 6 năm 2009). “Remembering Michael”. The Boston Globe. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  130. ^ Jackson 2009, tr. 29–31
  131. ^ George, tr. 42
  132. ^ a ă â b c George 2004, tr. 43–4
  133. ^ a ă “Michael Jackson's Neverland on sale”. Times of Malta. Reuters. 1 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015. 
  134. ^ a ă â “Michael Jackson – Biography”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2008. 
  135. ^ Ellis-Petersen, Hannah (1 tháng 8 năm 2014). “Michael Jackson Neverland Ranch expected to fetch up to $85m”. The Guardian. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015. 
  136. ^ a ă Gundersen, Edna (24 tháng 11 năm 2003). “For Jackson, scandal could spell financial ruin”. USA Today. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2010. 
  137. ^ a ă â “NEWS – Jackson receives his World Records”. Yahoo!. 14 tháng 11 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2015. 
  138. ^ Campbell 1993, tr. 260–3
  139. ^ “Remarks on the Upcoming Summit With President Mikhail Gorbachev of the Soviet Union”. Presidency.ucsb.edu. 5 tháng 4 năm 1990. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  140. ^ “Blacks Who Give Something Back”. Ebony 45 (3): 68. Tháng 3 năm 1990. ISSN 0012-9011. 
  141. ^ Taraborrelli 2009, tr. 382
  142. ^ Montgomery, James (6 tháng 7 năm 2009). “Michael Jackson's Life & Legacy: The Eccentric King Of Pop (1986–1999)”. MTV News. Viacom. 
  143. ^ Gray, Chris; Shah, Saeed (3 tháng 10 năm 2002). “Robbie swings historic record deal with EMI”. The Independent. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  144. ^ Willman, Chris (24 tháng 11 năm 1991). “Michael Jackson's 'Dangerous'. Los Angeles Times. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015. 
  145. ^ a ă â b “Gold & Platinum Searchable Database – Jackson, Michael”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  146. ^ Carter, Kelley L. (10 tháng 8 năm 2008). “5 Things You Can Learn About... New jack swing”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  147. ^ a ă â b c d “The return of the King of Pop”. Today. 8 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  148. ^ a ă â b c d đ George 2004, tr. 45–6
  149. ^ “Garth Brooks ropes in most Billboard awards”. The Beaver County Times. Associated Press. 10 tháng 12 năm 1992. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2010. 
  150. ^ Taraborrelli 2009, tr. 459
  151. ^ Harrington, Richard (5 tháng 2 năm 1992). “Jackson to Tour Overseas”. The Washington Post. 
  152. ^ Taraborrelli 2009, tr. 452–4
  153. ^ “Stars line up for Clinton celebration”. Los Angeles Daily News. 19 tháng 1 năm 1993. 
  154. ^ Smith, Patricia (20 tháng 1 năm 1992). “Facing the music and the masses at the presidential gala”. The Boston Globe. 
  155. ^ a ă â b “Michael Jackson: Crowned in Africa, Pop Music King Tells Real Story Of Controversial Trip”. Ebony 47 (5): 34–43. Tháng 5 năm 1992. ISSN 0012-9011. 
  156. ^ Sandomir, Richard (ngày 29 tháng 6 năm 2009). “How Jackson Redefined the Super Bowl”. The New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2013. 
  157. ^ “Cyrus, Bolton please the fans”. Toledo Blade. Associated Press. 27 tháng 1 năm 1993. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 
  158. ^ Rosen, Craig (6 tháng 2 năm 1993). “Michael Jackson Cops 3 Top Prizes”. Billboard 105 (6): 12. ISSN 0006-2510. 
  159. ^ a ă “1993: Michael Jackson accused of child abuse”. BBC News Online. 8 tháng 2 năm 2003. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  160. ^ Taraborrelli 2009, tr. 485–6
  161. ^ a ă Taraborrelli 2009, tr. 477–8
  162. ^ Taraborrelli 2009, tr. 496–8
  163. ^ Taraborrelli 2009, tr. 477–478
  164. ^ Newton, Jim (25 tháng 1 năm 1994). “Boy's Father in Jackson Case Won't Be Charged: Investigation: Singer claimed parent of alleged molestation victim tried to extort money from him. D.A. says decision not to prosecute is unrelated to reports that settlement is near.”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  165. ^ “Jackson Vs. the State of California – Michael Jackson” (PDF). Superior Court of California. 2005. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  166. ^ Broder, John M. (30 tháng 4 năm 2005). “Jackson's Books About Boys Are Allowed as Evidence in Trial”. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  167. ^ a ă â Taraborrelli 2009, tr. 534–540
  168. ^ Orth, Maureen (1 tháng 5 năm 2005). The Importance of Being Famous: Behind the Scenes of the Celebrity-Industial Complex. Henry Holt and Company. tr. 331. ISBN 978-0-8050-7847-3. 
  169. ^ “The Case Against Michael Jackson: The Telltale "Splotch". The Smoking Gun. 2 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2010. 
  170. ^ a ă McLean, Va. (28 tháng 1 năm 1994). “Photos May Contradict Michael's Accuser”. USA Today. tr. 2. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  171. ^ “Superior Court of the State of California For the County of Santa Barbara Santa Maria Division” (PDF). 2005. tr. 4. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  172. ^ Dimond, Diane. Be Careful Who You Love: Inside the Michael Jackson Case. tr. 13–15. 
  173. ^ a ă â “Superior Court of the State of California For the County of Santa Barbara Santa Maria Division” (PDF). 2004. tr. 4. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  174. ^ Campbell 1995, tr. 47–50
  175. ^ Moret, Jim (2 tháng 5 năm 1994). “Jackson Grand Jury Disbanded – 1994” (Thông cáo báo chí). CNN. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  176. ^ Taraborrelli 2009, tr. 540–5
  177. ^ “Michael Jackson's $15 Million Payoff”. The Smoking Gun. 16 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  178. ^ Newton, Jim (5 tháng 2 năm 1994). “Grand Jury to Convene in Jackson Case: Law: Sources close to the investigation say a panel in Santa Barbara will hear testimony next week about alleged molestation of boy”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  179. ^ Ferran, Lee; Murphy, Eileen (23 tháng 12 năm 2009). “Jackson Attorney: FBI Files Are 'Almost Vindication'. ABC News. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  180. ^ Newton, Jim; Nazario, Sonia (27 tháng 8 năm 1993). “Police Say Seized Tapes Do Not Incriminate Jackson: Investigation: Officials continue to interview children in connection with molestation allegations.”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  181. ^ Philips, Chick; Ferrell, David (31 tháng 8 năm 1993). “Tapes Used to Allege Plot to Extort Jackson Released Inquiry: Singer's aides provide purported comments by boy's father, who has told friends allegations are untrue.”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  182. ^ a ă “Early Probe Cleared Michael Jackson”. The Smoking Gun. 9 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  183. ^ Taraborrelli 2009, tr. 500–07
  184. ^ Gliatto, Tom (15 tháng 8 năm 1994). “Neverland Meets Graceland”. People 42 (7). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  185. ^ a ă â Taraborrelli 2009, tr. 518–520
  186. ^ Taraborrelli 2009, tr. 510
  187. ^ a ă “She's out of his life” (Thông cáo báo chí). CNN. 18 tháng 1 năm 1996. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  188. ^ Taraborrelli 2009, tr. 562–4
  189. ^ a ă Taraborrelli 2009, tr. 580–1
  190. ^ “Lisa Marie Presley Opens Up About Michael Jackson”. Oprah.com. 21 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  191. ^ “Company News; Michael Jackson sells rights to Beatles songs to Sony”. The New York Times. Associated Press. 8 tháng 11 năm 1995. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  192. ^ a ă Leeds, Jeff; Sorkin, Andrew Ross (13 tháng 4 năm 2006). “Michael Jackson Bailout Said to Be Close”. The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2008. 
  193. ^ “Top 100 Albums”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  194. ^ “Michael Jackson's best selling studio albums”. The Daily Telegraph. 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015. 
  195. ^ a ă â b c d đ e George 2004, tr. 48–50
  196. ^ Guinness World Records (2005). Guinness World Records 2006. Guinness. ISBN 1-ngày 94 tháng 2 năm 4994. 
  197. ^ “Festival de Cannes: Ghosts”. festival-cannes.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2009. 
  198. ^ Taraborrelli 2009, tr. 576–7
  199. ^ a ă “ADL Welcomes Michael Jackson's Decision To Remove Anti-Semitic Lyrics From Song”. Anti-Defamation League. 22 tháng 6 năm 1995. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  200. ^ Christensen, Thor (30 tháng 1 năm 1996). “Brooks turns down award for favorite artist of the year”. Rome News-Tribune. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 
  201. ^ Taraborrelli 2009, tr. 570
  202. ^ Taraborrelli 2009, tr. 570–586
  203. ^ Taraborrelli 2009, tr. 597
  204. ^ a ă Taraborrelli 2009, tr. 599–600
  205. ^ a ă “Jackson child custody fight ends”. BBC News Online. 30 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  206. ^ a ă Rojek, Chris (2007). Cultural Studies. Polity. tr. 74. ISBN 0-7456-3683-7. 
  207. ^ a ă â b Taraborrelli 2009, tr. 610–1
  208. ^ “Ricky Martin, Mariah Carey, Michael Jackson, Others To Join Pavarotti For Benefit”. VH1. MTV Networks. 5 tháng 5 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  209. ^ “Slash, Scorpions, Others Scheduled For "Michael Jackson & Friends". VH1. MTV Networks. 27 tháng 5 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  210. ^ a ă â b Taraborrelli 2009, tr. 614–7
  211. ^ a ă â George, 2004, pp. 50–3.
  212. ^ Burkeman, Oliver (7 tháng 7 năm 2009). “Liveblogging Michael Jackson's funeral and memorial service”. The Guardian. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  213. ^ a ă Burkeman, Oliver (7 tháng 7 năm 2002). “Jacko gets tough: but is he a race crusader or just a falling star?”. The Guardian. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  214. ^ Jackson, Jermaine (31 tháng 12 năm 2002). Interview with Jermaine Jackson. Phỏng vấn bởi Connie Chung. CNN. Connie Chung Tonight. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2008. 
  215. ^ “Michael Jackson”. Daily Mirror. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2009. 
  216. ^ “Jackson Interview with Ed Bradley on 60 phút”. CBS. Ngày 28 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2008. 
  217. ^ Vineyard, Jennifer (20 tháng 11 năm 2002). “Michael Jackson Calls Baby-Dangling Incident A 'Terrible Mistake'. MTV. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  218. ^ “Certified Awards”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  219. ^ a ă Taraborrelli 2009, tr. 640
  220. ^ a ă Taraborrelli 2009, tr. 661
  221. ^ Davis, Matthews (6 tháng 6 năm 2005). “Trial health problems for Jackson”. BBC News Online. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  222. ^ “Jackson cleared of child molestation”. The Guardian. Associated Press. 13 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  223. ^ Toumi, Habib (23 tháng 1 năm 2006). “Jackson settles down to his new life in the Gulf”. Gulf News. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  224. ^ “Jermaine Jackson reveals escape plan for Michael” (Thông cáo báo chí). Associated Press. 10 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  225. ^ Talmadge, Eric. “Michael Jackson 'wouldn't change anything'. Associated Press. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2008. 
  226. ^ “Jackson Closes Neverland House”. CBS News. 6 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  227. ^ “Really Odd Facts About Michael Jackson”. Forbes. 14 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  228. ^ “Jackson strikes deal over loans”. BBC News Online. 14 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  229. ^ “Michael Jackson Sails With Two Seas”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  230. ^ a ă “Jackson parts with Bahrain label”. BBC News Online. 26 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  231. ^ Friedman, Roger (21 tháng 10 năm 2006). “Who's Funding Jackson's Retreat to Irish Recording Studio?”. Fox News Channel. 
  232. ^ Reid, Shaheem (30 tháng 12 năm 2006). “James Brown Saluted By Michael Jackson at Public Funeral Service”. MTV. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  233. ^ “Michael Jackson buys rights to Eminem tunes and more”. Rolling Stone. 31 tháng 5 năm 2007. 
  234. ^ Wardrop, Murray (27 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson: the unreleased album”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  235. ^ RedOne (23 tháng 3 năm 2009). Interview with RedOne, producer and songwriter for Lady Gaga, Michael Jackson, Akon, Kat DeLuna and Darin. Phỏng vấn bởi Jan Blumentrath. HitQuarters. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  236. ^ Talmadge, Eric (8 tháng 3 năm 2007). “Michael Jackson 'wouldn't change' career”. USA Today. Associated Press. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  237. ^ “Will.i.am On Working With Michael Jackson”. Rolling Stone. 24 tháng 9 năm 2007. 
  238. ^ “Michael Jackson's Thriller 25 – The 25th Anniversary Edition of the World's Top-Selling Album of All Time – Is America's #2 Best-Selling Album This Week!!!”. Digital Producer. PR Newswire. 20 tháng 2 năm 2008. 
  239. ^ “Michael Jackson – Thriller 25” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  240. ^ Friedman, Roger (16 tháng 5 năm 2008). “Jacko: Neverland East in Upstate New York”. Fox News Channel. 
  241. ^ “Choose The Tracks On Michael Jackson's 50th Birthday Album!”. Sony BMG. 20 tháng 6 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2008. 
  242. ^ “Michael Jackson – King Of Pop”. αCharts.us. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  243. ^ “King of Pop” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2008. 
  244. ^ “Neverland peters out for pop's Peter Pan”. The Sydney Morning Herald. Press Association. 13 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  245. ^ Susan, Susab (14 tháng 4 năm 2009). “Ten Most Expensive Michael Jackson Collectibles”. Forbes. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  246. ^ “The Collection of Michael Jackson”. Juliensauctions.com. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  247. ^ “Michael Jackson: The fantastic possessions revealed”. The Independent. Reuters. 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  248. ^ Foster, Patrick (6 tháng 3 năm 2009). “Michael Jackson grand finale curtain-raiser”. The Times. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2011. 
  249. ^ Kreps, Daniel (12 tháng 3 năm 2009). “Michael Jackson's "This Is It!" Tour Balloons to 50-Show Run Stretching Into 2010”. Rolling Stone. 
  250. ^ “Michael Jackson: The Last Rehearsal”. Life. 29 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  251. ^ a ă “Michael Jackson dead at 50 after cardiac arrest” (Thông cáo báo chí). CNN. 25 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2009. 
  252. ^ “Christian Audigier Michael Jackson Clothing Collection Confirmed”. Popcrunch. 24 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  253. ^ “Michael Jackson Christian Audigier Clothing Line Was In The Works”. Popcrunch. 2 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  254. ^ a ă Lee, Chris, and Ryan, Harriet. Michael Jackson's last rehearsal: just beaming with gladness, The Los Angeles Times, June 27, 2009.
  255. ^ Lang, Anne, and Jones, Oliver. Attorney Defends Michael Jackson's Doctor, People, June 29, 2009.
  256. ^ “Michael Jackson's life cut shockingly short”. Associated Press. 26 tháng 6 năm 2009. 
  257. ^ Harvey, Michael (26 tháng 6 năm 2009). “Fans mourn artist for whom it didn’t matter if you were black or white”. The Times. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2011. 
  258. ^ McCartney, Anthony (28 tháng 6 năm 2009). “Lawyer for Doctor: Jackson Had Pulse When Found”. Connecticut Post. Associated Press. 
  259. ^ “Los Angeles Fire Department recording of the emergency phone call made from Michael Jackson's home”. 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2009. 
  260. ^ “Partial transcript of Calif. 911 call”. Yahoo! News. Associated Press. 4 tháng 3 năm 2013. 
  261. ^ Moore, Matthew (ngày 26 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson, King of Pop, dies of cardiac arrest in Los Angeles”. Telegraph.co.uk. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2009. 
  262. ^ Tourtellotte, Bob (ngày 25 tháng 6 năm 2009). “King of Pop Michael Jackson is dead: official”. Reuters. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009. 
  263. ^ “Jackson death a homicide, criminal charge possible”. Reuters. 28 tháng 8 năm 2009. 
  264. ^ “Jackson investigator's errors”. Stuff.co.nz. 10 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013. 
  265. ^ Items taken from Michael Jackson's doctor's buildings listed, CNN, July 23, 2009.
  266. ^ Rowlands, Ted (27 tháng 7 năm 2009). “Source: Jackson's doctor gave drug authorities believe killed him”. CNN.com 167 (1): 56–8. 
  267. ^ “Is your doctor a criminal?”. CNN. 11 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2010. 
  268. ^ Blas, Lorena (8 tháng 2 năm 2010). “Michael Jackson doctor pleads not guilty to manslaughter”. USA Today (Gannett Co. Inc). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  269. ^ Molly Hennessy-Fiske, Shelby Grad (18 tháng 2 năm 2010). “Michael Jackson's doctor banned from administering heavy sedatives”. The Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  270. ^ Dobuzinskis, Alex (12 tháng 1 năm 2011). “Judge orders Michael Jackson doctor to stand trial”. Reuters. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011. 
  271. ^ Serjeant, Jill (2 tháng 5 năm 2011). “Michael Jackson doctor trial delayed to September”. Reuters. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011. 
  272. ^ “Attorneys Screen Jurors for Bias in Conrad Murray Trial”. KTLA. 21 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2011. 
  273. ^ “BBC News - Conrad Murray guilty of Michael Jackson manslaughter”. bbc.co.uk. 2011. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2011. 
  274. ^ Conrad Murray could face significant prison time, Los Angeles Times, November 8, 2011
  275. ^ Conrad Murray sentenced to four years in Jackson death, USA TODAY, November 29, 2011
  276. ^ “Jackson's Doctor Released From Jail”. The New York Times. The Associated Press. 28 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013. 
  277. ^ “Conrad Murray Released From Jail”. NBC. 28 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013. 
  278. ^ Rawlinson, Linnie; Hunt, Nick (26 tháng 6 năm 2009). “Jackson dies, almost takes Internet with him” (Thông cáo báo chí). CNN. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013. 
  279. ^ Shiels, Maggie (26 tháng 6 năm 2009). “Web slows after Jackson's death”. BBC News Online. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  280. ^ Phoebe. "The King of Pop vs. Wikipedia", The Wikipedia Signpost, June 29, 2009; see October 2009 stats
  281. ^ Wood, Daniel B. (27 tháng 6 năm 2009). “Outpouring over Michael Jackson unlike anything since Princess Di”. The Christian Science Monitor. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  282. ^ a ă Skok, David (26 tháng 6 năm 2009). “Internet stretched to limit as fans flock for Michael Jackson news”. The Vancouver Sun. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2009. 
  283. ^ a ă Wortham, Jenna (25 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson Tops the Charts on Twitter”. The New York Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  284. ^ Krazit, Tom; McCullagh, Declan (26 tháng 6 năm 2009). “Debate: Can the Internet handle big breaking news?”. CNET. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  285. ^ “Michael Jackson Now One of Top Stories of 21st century”. The Global Language Monitor. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2010. 
  286. ^ Dtelter, Brian (26 tháng 6 năm 2009). “MTV's Jackson Marathon”. The New York Times (ArtsBeat). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  287. ^ "Most Americans believe Jackson coverage excessive" Pew Research Center July 2, 2009. Retrieved April 7, 2010.
  288. ^ Khan, Urmee. BBC gets over 700 complaints about 'wall-to-wall' coverage, The Daily Telegraph, July 1, 2009.
  289. ^ Coleman, Mark. Michael Jackson is dead: fans mourn outside hospital, The Daily Telegraph, June 26, 2009.
  290. ^ Keagle, Lauri Harvey. Fans paying respects to King of Pop at boyhood home, The Times of Northwest Indiana, June 26, 2009.
  291. ^ Michael Jackson's death: Fans gather at wrong Hollywood star, The Los Angeles Times, June 26, 2009.
  292. ^ Behrens, Zach. Crowds Gather Around Michael Jackson's Star After Bruno Premiere, Hollywood LAist, June 26, 2009.
  293. ^ Gavin, Patrick. Congress pauses for Michael Jackson, The Politico, June 26, 2009.
  294. ^ Murray, Mark (2 tháng 7 năm 2009). “Obama On Michael Jackson's Death”. MSNBC. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2010. 
  295. ^ Gregory, Jason. “Nelson Mandela: 'Michael Jackson Was Part Of Our Family'. gigwise.com. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2015. 
  296. ^ Big In Japan: Tokyo Mourns Jackson's Death, TIME, June 26, 2009
  297. ^ “Michael Jackson Had Loyal, Generous Fans in Japan”. The Walt Disney Company. Associated Press. 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2010. 
  298. ^ “Brown 'saddened' by Jackson de”. BBC News. 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  299. ^ Elizabeth Taylor: "I Loved Michael With All My Soul", US Magazine, June 26, 2009.
  300. ^ Gumbel, Andrew. Police focus on doctor who was with Michael Jackson as he died, The Guardian, June 27, 2009.
  301. ^ “Over 1.6M apply for Jackson memorial tickets” (Thông cáo báo chí). Associated Press. 4 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  302. ^ “Michael Jackson memorial draws crowds online” (Thông cáo báo chí). CNN. 8 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012. 
  303. ^ Scott, Andrew (9 tháng 7 năm 2009). “Michael Jackson Memorial Earns 31 Million Viewers & More TV News”. AOL TV. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  304. ^ Allen, Nick (7 tháng 7 năm 2009). “Michael Jackson memorial service: the biggest celebrity send-off of all time”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  305. ^ Potter, Andrew (7 tháng 7 năm 2009). “There was nothing strange about your daddy”. Maclean's. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013. 
  306. ^ Branigan, Tania (8 tháng 9 năm 2001). “Jackson spends £20m to be Invincible”. The Guardian. 
  307. ^ “Top Moments: Michael Jackson Memorial”. TV Guide. 7 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  308. ^ Eng, Joyce (10 tháng 8 năm 2009). “Judge Approves Michael Jackson Film”. TV Guide. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  309. ^ “Michael Jackson's This Is It”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  310. ^ “Judge OKs Jackson performance film deal” (Thông cáo báo chí). Associated Press. 10 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  311. ^ Herrera, Monica (23 tháng 9 năm 2009). “New Michael Jackson Song, Album Due In October”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  312. ^ Martens, Todd (13 tháng 10 năm 2009). “Taylor Swift, Michael Jackson dominate American Music Awards nominations [UPDATED]”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  313. ^ “2009 American Music Awards: Scorecard”. Los Angeles Times. Associated Press. 22 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  314. ^ a ă Caulfield, Keith (6 tháng 1 năm 2010). “Taylor Swift Edges Susan Boyle For 2009's Top-Selling Album”. Billboard. 
  315. ^ “Jackson sells 35 million albums since death”. Today. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  316. ^ Van Buskirk, Eliot (1 tháng 7 năm 2009). “Michael Jackson First Artist to Sell Over 1 Million Downloads in a Single Week”. Wired. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  317. ^ a ă Smith, Ethan (16 tháng 3 năm 2010). “Sony Places Big Bet on a Fallen 'King'. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  318. ^ Kreps, Daniel (16 tháng 3 năm 2010). “Michael Jackson Estate, Sony Strike Massive $250 Million Deal to Release King of Pop's Music”. Rolling Stone. 
  319. ^ “Official Michael Jackson Single Hold My Hand To Be Released On November 15th” (Thông cáo báo chí). Breakingnews.michaeljackson.com. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2010. 
  320. ^ “Michael Jackson in 'record' $200m music deal”. BBC Online. 16 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  321. ^ “Michael Jackson Fans Will Moonwalk In Motion-Sensing Game”. Billboard. Associated Press. 15 tháng 6 năm 2010. 
  322. ^ Hicks, Tony. “People: Cirque du Soleil mounting Michael Jackson tour”. San Jose Mercury News. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 
  323. ^ “Cirque plans $57M touring Jackson show”. CBC News. 3 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  324. ^ “Where to see Cirque du Soleil's Michael Jackson tour”. The Independent. 5 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  325. ^ “Epic Records Set To Release IMMORTAL The New Album From Michael Jackson On November 21” (Thông cáo báo chí). Sony. PR Newswire. 3 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  326. ^ Jones, Chris (13 tháng 7 năm 2013). 'Michael Jackson ONE' in Las Vegas: Cirque du Soleil refinds its way”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  327. ^ Lane, Richard (3 tháng 7 năm 2013). “Michael Jackson ONE Becomes The One Show You Must See In Vegas”. VegasChatter. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  328. ^ O'Malley Greenburg, Zack (2 tháng 2 năm 2013). “Michael Jackson's New Vegas Show 'One' Will Double The Fun”. Forbes. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  329. ^ Yancey, Kitty (21 tháng 2 năm 2013). “Cirque tells more about new Michael Jackson Vegas show”. USA Today. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  330. ^ “New Michael Jackson album to be released in May”. BBC News Online. 31 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  331. ^ “New Michael Jackson Album 'Xscape' to Be Released in May”. Billboard. 31 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  332. ^ Gallo, Phil (18 tháng 5 năm 2014). “Michael Jackson Hologram Rocks Billboard Music Awards: Go Behind the Scenes”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  333. ^ a ă Tucker, Ken (5 tháng 6 năm 1988). “SUMMER READING; FIRING YOUR FATHER ISN'T EASY”. The New York Times. tr. 751. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  334. ^ Harris, Aisha. “Why People Still Dance Like Gene Kelly”. Slate. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  335. ^ “100 Greatest Singers: 65 – David Ruffin”. Rolling Stone. 27 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  336. ^ Lewis Jones 2005
  337. ^ Winters, David (26 tháng 6 năm 2009). “David Winters remembers Michael Jackson”. Magick Papers. 
  338. ^ “Reply #3: Thank you BigBearJohn: here's also David Winters”. Democratic Underground. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2011. 
  339. ^ Hernandez, Eugene (27 tháng 6 năm 2009). “Remembering Michael Jackson, On Screen”. Indiewire. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2009. 
  340. ^ Herron, Martin (27 tháng 6 năm 2009). 'Michael Jackson saved my life'. Scarborough Evening News. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  341. ^ “Jackson Attends Brown's Public Funeral”. Contactmusic.com. 2 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  342. ^ Taraborrelli 2009, tr. 60
  343. ^ Taraborrelli 2009, tr. 64
  344. ^ Taraborrelli 2009, tr. 209–210
  345. ^ a ă Erlewine, Stephen Thomas. “Michael Jackson – Off the Wall – Overview”. AllMusic. All Media Network. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008. 
  346. ^ Heyliger, M. “A State-of-the-Art Pop Album: Thriller by Michael”. Consumerhelpweb.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2008. Not many artists could pull off such a variety of styles (funk, post-disco, rock, easy listening, ballads)... 
  347. ^ “Michael Jackson Turns 30!”. Jet 74 (35): 58. 29 tháng 8 năm 1988. ISSN 0021-5996. 
  348. ^ Palmer, Robert (1995). Rock & Roll: An Unruly History. Harmony Books. tr. 285. ISBN 978-0-517-70050-1. 
  349. ^ a ă Erlewine, Stephen Thomas. “Michael Jackson – Thriller – Overview”. AllMusic. All Media Network. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  350. ^ Henderson, Eric (18 tháng 10 năm 2003). “Michael Jackson – Thriller”. Slant Magazine. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  351. ^ a ă â b Connelly, Christopher (28 tháng 1 năm 1983). “Michael Jackson: Thriller”. Rolling Stone. 
  352. ^ a ă George 2004, tr. 24
  353. ^ “Dangerous (Remastered)”. Sony BMG. 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2005. 
  354. ^ Ramage, John D.; Bean, John C.; Johnson, June (2001). Writing arguments: a rhetoric with readings. Allyn and Bacon. tr. 491. ISBN 0-205-31745-6. 'Black or White', described by the record company as 'a rock 'n' roll dance song about racial harmony' 
  355. ^ Pareles, Jon (3 tháng 9 năm 1987). “Critic's Notebook; How Good Is Jackson's 'Bad'?”. The New York Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  356. ^ a ă Erlewine, Stephen Thomas. “Michael Jackson – Dangerous – Overview”. AllMusic. All Media Network. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008. 
  357. ^ a ă â b c d đ Pareles, Jon (24 tháng 11 năm 1991). “RECORDINGS VIEW; Michael Jackson in the Electronic Wilderness”. The New York Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  358. ^ Harrington, Richard (24 tháng 11 năm 1991). “Jackson's 'Dangerous' Departures; Stylistic Shifts Mar His First Album in 4 Years”. The Washington Post. 
  359. ^ a ă Erlewine, Stephen Thomas. “Michael Jackson – HIStory – Overview”. AllMusic. All Media Network. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  360. ^ a ă Hunter, James (10 tháng 8 năm 1995). “Michael Jackson HIStory”. Rolling Stone. 
  361. ^ “Thomas W. (Tom) Sneddon, Jr.”. National Defense Authorization Act. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  362. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “Michael Jackson – Invincible – Overview”. AllMusic. All Media Network. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2007. 
  363. ^ Beaumont, Mark (30 tháng 11 năm 2001). “Michael Jackson: Invincible”. NME. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  364. ^ Brackett, Nathan; Hoard, Christian (2004). The Rolling Stone Album Guide. Fireside. tr. 414. ISBN 0-7432-0169-8. 
  365. ^ Brown, Geoff. The Complete Guide to the Music of Michael Jackson & The Jackson Family. Omnibus Press. 
  366. ^ Holden, Stephen (1 tháng 11 năm 1979). “Off the Wall: Michael Jackson”. Rolling Stone. 
  367. ^ Lewarne, Rory (26 tháng 7 năm 2004). “Pink Grease”. Music News. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2008. 
  368. ^ Hunter, James (6 tháng 12 năm 2001). “Michael Jackson: Invincible”. Rolling Stone. 
  369. ^ Vogel 2012, tr. 9
  370. ^ McCormick, Neil (30 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson, Bruce Springsteen & Bono”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016. 
  371. ^ Stegner-Petitjean, Isabelle (2011). "The Voice in the Mirror". Michael Jackson: from a vocal identity to its double in sound”. Volume! (Nantes: Éditions Mélanie Seteun) 8 (2): 222–52. 
  372. ^ Cheryn, Carl. XXL: Michael Jackson Special Collecters Edition. American Press. tr. 95. 
  373. ^ “Michael Jackson, "Billie Jean," directed by Steve Barron, produced by Simon Fields & Paul Flattery,”. Blender. Tháng 10 năm 2005. 
  374. ^ a ă Gundersen, Edna (25 tháng 8 năm 2005). “Music videos changing places”. USA Today. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  375. ^ “Why it took MTV so long to play black music videos”. Jet. 9 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2009. 
  376. ^ Robinson, Bryan (23 tháng 2 năm 2005). “Why Are Michael Jackson's Fans So Devoted?”. ABC News. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  377. ^ Inglis, Ian (2006). Performance and Popular Music: History, Place and Time. Ashgate Publishing. tr. 119, 127. ISBN 978-0-7546-4057-8. 
  378. ^ Jackson, Michael. Thriller Special Edition Audio.
  379. ^ “Philippine jailhouse rocks to Thriller”. BBC News Online. 26 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  380. ^ Corliss, Richard (6 tháng 9 năm 1993). “Who's Bad?”. Time. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  381. ^ Bản mẫu:Cite patent
  382. ^ Campbell 1993, tr. 273
  383. ^ Michael Jackson Dangerous on Film VHS/DVD
  384. ^ Campbell 1993, tr. 303
  385. ^ Campbell 1993, tr. 313–4
  386. ^ Boepple, Leanne (1 tháng 11 năm 1995). Scream: Space Odyssey, Jackson-Style.(video production; Michael and Janet Jackson video) 29. Theatre Crafts International. tr. 52. ISSN 1063-9497. 
  387. ^ Bark, Ed (26 tháng 6 năm 1995). “Michael Jackson Interview Raises Questions, Answers”. St. Louis Post-Dispatch. tr. 06E. 
  388. ^ Guinness World Records (2005). Guinness World Records 2006. Guinness. ISBN 1-904994-02-4. 
  389. ^ Michael Jackson HIStory on Film volume II VHS/DVD
  390. ^ Lewis Jones 2005, tr. 125–6
  391. ^ Guinness World Records (2003). Guinness World Records 2004. Guinness. ISBN 1-892051-20-6. 
  392. ^ Utley, Tom (7 tháng 2 năm 2003). “Of course Jackson's odd—but his genius is what matters”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  393. ^ “Michael Jackson”. Search.bet.com. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  394. ^ Monroe, Bryan (tháng 12 năm 2007). “Michael Jackson in His Own Words”. Ebony. 
  395. ^ Barnes, Brokes (25 tháng 6 năm 2009). “A Star Idolized and Haunted, Michael Jackson Dies at 50”. The New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2009. 
  396. ^ “More adds, loose ends, and lament”. The 120 Minutes Archive. 25 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2014. 
  397. ^ “Farewell to a King”. People. 20 tháng 7 năm 2009. 
  398. ^ “Gordy Brings Mourners To Their Feet With Jackson Tribute”. 7 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  399. ^ Tourtellotte, Bob (8 tháng 7 năm 2009). “Michael Jackson hailed as greatest entertainer, best dad” (Thông cáo báo chí). Reuters UK. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  400. ^ Serjeant, Jill (29 tháng 12 năm 2009). “Michael Jackson's Death Among 2009's Major Moments”. ABC News. 
  401. ^ a ă Chandler, Cory (20 tháng 5 năm 2010). “Librarians Prove Michael Jackson Was a Rock Star in Academic Literature”. Texas Tech University. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  402. ^ Hidalgo & Weiner 2010, tr. 14–28
  403. ^ Hidalgo & Weiner 2010, tr. 25
  404. ^ “Michael Jackson and Halle Berry Pick Up Bambi Awards in Berlin”. Hello!. 22 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  405. ^ “2006 World Music Awards”. Chiff. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2008. 
  406. ^ Keiser, Tom (15 tháng 8 năm 2010). “Photos: Michael Jackson induction ceremony”. The News-Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  407. ^ Yarborough, Chuck (19 tháng 8 năm 2014). “R&B Music Hall of Fame sets big weekend to induct sophomore class featuring Michael Jackson, Whitney Houston, Marvin Gaye, Norm N. Nite and more”. The Plain Dealer. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  408. ^ “Michael Jackson Named Most Successful Entertainer Of All Time”. CityNews. 15 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  409. ^ Collett-White, Mike (11 tháng 3 năm 2009). “Michael Jackson to add concerts after sellout” (Thông cáo báo chí). Reuters. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  410. ^ “GRAMMY Legend Award”. National Academy of Recording Arts and Sciences. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  411. ^ “Lifetime Achievement Award”. National Academy of Recording Arts and Sciences. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  412. ^ “Keys, Destiny's Child, McGraw win at American Music Awards”. Lodi News-Sentinel. Associated Press. 10 tháng 1 năm 2002. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 
  413. ^ Basham, David (18 tháng 1 năm 2000). “Lauryn Hill, Backstreet Boys, DMX Honored With American Music Awards”. MTV. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  414. ^ George 2004, tr. 37–52
  415. ^ “Hot 100 Anniversary: Most No. 1s By Artist”. Billboard. 6 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  416. ^ Rothman, Michael (29 tháng 8 năm 2013). “Happy 55th Birthday Michael Jackson – His Top 10 Moments”. ABC News. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  417. ^ “Michael Jackson's death anniversary observed worldwide”. Dhaka Tribune. 25 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  418. ^ “Michael Jackson United Negro College Fund”. Michaeljackson.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2012. 
  419. ^ Viegas, Jennifer. “Pop Star Michael Jackson Influenced Academics, Received PhD”. Discovery Channel. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  420. ^ Bain, Raymone K. (31 tháng 10 năm 2006). “Michael To Give Away 200 FREE Tickets To Fans, And Discounted Rates”. Kingofpop.info. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2008. 
  421. ^ Bain, Raymone K. (31 tháng 10 năm 2006). “Statement from Raymone Bain to all fans and fanclubs”. Mjtmc.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2007. 
  422. ^ Lara, David (12 tháng 5 năm 2012). “Michael Jackson's 'Bad' Gets a Revamp and More Inflated Sales!”. ImpreMedia. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  423. ^ Bialik, Carl (15 tháng 7 năm 2009). “Spun: The Off-the-Wall Accounting of Record Sales”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  424. ^ Stuever, Hank; Schudel, Matt (26 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson, 'King of Pop,' Dies of Apparent Heart Attack in L.A.”. The Washington Post. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  425. ^ Grover, Ronald; Fixmer, Andy (5 tháng 1 năm 2012). “Michael Jackson's Estate Wants to Keep Thrilling”. Bloomberg Business. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  426. ^ O'Malley Greenburg, Zack (25 tháng 1 năm 2011). “Michael Jackson: Secret Business Genius?”. Forbes. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  427. ^ Cutler, David (6 tháng 9 năm 2011). “Factbox: The life and death of pop star Michael Jackson”. Reuters. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  428. ^ jakdphillips (4 tháng 10 năm 2011). “Michael Jackson Gets Posthumous Album — And Cirque du Soleil Show”. Time. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  429. ^ Mackay, Mairi (26 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson album sales soar”. CNN. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  430. ^ Adams, Guy (7 tháng 12 năm 2008). “Michael Jackson: The long moonwalk to pop oblivion”. The Independent. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  431. ^ Ditzian, Eric (26 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson’s Groundbreaking Career, By The Numbers”. MTV. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
  432. ^ Bialic, Carl (15 tháng 7 năm 2009). “Spun: The Off-the-Wall Accounting of Record Sales”. WSJ. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013. 
Thư mục

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]