Kỷ lục của bảng xếp hạng Billboard Hot 100

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Dưới đây là danh sách các kỷ lục và thành tưu liên quan tới bảng xếp hạng đĩa đơn Billboard Hot 100 của tạp chí Billboard.

Thành tựu Hot 100 mọi thời đại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ra đời của Hot 100, tạp chí Billboard đã cho xuất bản danh sách 100 bài hát và nghệ sĩ hoạt động tốt nhất trên bảng xếp hạng này trong vòng 50 năm qua.[1][2] Năm 2013, Billboard sửa đổi nó một lần nữa cho ấn bản kỷ niệm lần thứ 55 của bảng xếp hạng.[3] Năm 2015, Billboard sửa đổi bảng xếp hạng một lần nữa..[4] Dưới đây là 10 ca khúc đứng đầu và top 10 nghệ sĩ thành công nhất trong khoảng thời gian 57 năm của Hot 100, tính đến tháng 10, 2015.

Top 10 bài hát của mọi thời đại (1958–2015)[sửa | sửa mã nguồn]

Hang Đĩa đơn Năm phát hành Nghệ sĩ Vị trí cao nhất
1 "The Twist"
1960, 1961*
Chubby Checker #1 trong 3 tuần
2 "Smooth"
1999
Santana hợp tác với Rob Thomas #1 trong 12 tuần
3 "Mack the Knife"
1959
Bobby Darin #1 trong 9 tuần
4 "How Do I Live"
1997
LeAnn Rimes #2 trong 4 tuần
5 "Party Rock Anthem"
2011
LMFAO hợp tác với Lauren Bennett & GoonRock #1 trong 6 tuần
6 "I Gotta Feeling"
2009
The Black Eyed Peas #1 trong 14 tuần
7 "Macarena (Bayside Boys mix)"
1996
Los Del Rio #1 trong 14 tuần
8 "Physical"
1981
Olivia Newton-John #1 trong 10 tuần
9 "You Light Up My Life"
1977
Debby Boone #1 trong 10 tuần
10 "Hey Jude"
1968
The Beatles #1 trong 9 tuần

* — phát hành lại
Nguồn:[5]

Top 10 nghệ sĩ của mọi thời đại (1958–2015)[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Nghệ sĩ
1 The Beatles
2 Madonna
3 Elton John
4 Elvis Presley
5 Mariah Carey
6 Stevie Wonder
7 Janet Jackson
8 Michael Jackson
9 Whitney Houston
10 The Rolling Stones

Nguồn:[6]

Thành tựu của bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Đứng đầu bảng nhiều tuần nhất[sửa | sửa mã nguồn]

  • 16 tuần
Mariah Carey & Boyz II Men — "One Sweet Day" (1995–96)
  • 14 tuần
Whitney Houston — "I Will Always Love You" (1992–93)
Boyz II Men — "I'll Make Love to You" (1994)
Los del Río"Macarena" (Bayside Boys mix) (1996)
Elton John — "Candle in the Wind 1997" / "Something About the Way You Look Tonight" (1997–98)
Mariah Carey — "We Belong Together" (2005)
The Black Eyed Peas — "I Gotta Feeling" (2009)
Mark Ronson hợp tác với Bruno Mars — "Uptown Funk" (2015)
  • 13 tuần
Boyz II Men — "End of the Road" (1992)
Brandy & Monica — "The Boy Is Mine" (1998)
  • 12 tuần
Santana hợp tác với Rob Thomas — "Smooth" (1999–2000)
Eminem — "Lose Yourself" (2002–03)
Usher hợp tác với Lil JonLudacris — "Yeah!" (2004)
The Black Eyed Peas — "Boom Boom Pow" (2009)
Robin Thicke hợp tác với T.I.Pharrell — "Blurred Lines" (2013)
Wiz Khalifa hợp tác với Charlie Puth — "See You Again" (2015)
The Chainsmokers hợp tác với Halsey — "Closer" (2016)
  • 11 tuần
Elvis Presley — "Hound Dog" / "Don't Be Cruel" (1956) (Tiền Hot 100: Bảng xếp hạng "Best Sellers in Stores" và "Most Played in Jukeboxes")
All-4-One — "I Swear" (1994)
Toni Braxton — "Un-Break My Heart" (1996–97)
Puff DaddyFaith Evans hợp tác với 112 — "I'll Be Missing You" (1997)
Destiny's Child — "Independent Women Part I" (2000–01)
  • 10 tuần
McGuire Sisters — "Sincerely" (1955) (Tiền Hot 100: Bảng xếp hạng "Most Played by Jockeys")
Pérez Prado — "Cherry Pink and Apple Blossom White" (1955) (Tiền Hot 100: Bảng xếp hạng "Best Sellers in Stores")
Debby Boone — "You Light Up My Life" (1977)
Olivia Newton-John — "Physical" (1981–82)
Santana featuring The Product G&B — "Maria Maria" (2000)
Ashanti — "Foolish" (2002)
Nelly hợp tác với Kelly Rowland — "Dilemma" (2002)
Kanye West hợp tác với Jamie Foxx — "Gold Digger" (2005)
Beyoncé — "Irreplaceable" (2006–07)
Flo Rida hợp tác với T-Pain — "Low" (2008)
Rihanna hợp tác với Calvin Harris — "We Found Love" (2011–12)
Pharrell Williams — "Happy" (2014)
Adele — "Hello" (2015–16)
Drake hợp tác với WizkidKyla — "One Dance" (2016)

Nguồn:[7]

Đứng nhì nhiều tuần nhất (mà không đạt hạng nhất)[sửa | sửa mã nguồn]

  • 10 tuần
Foreigner — "Waiting for a Girl Like You" (1981–82)
Missy Elliott — "Work It" (2002–03)
  • 9 tuần
Donna Lewis — "I Love You Always Forever" (1996)
Shania Twain — "You're Still the One" (1998)
  • 8 tuần
Shai — "If I Ever Fall in Love" (1992–93)
Deborah Cox — "Nobody's Supposed to Be Here" (1998–99)
Brian McKnight — "Back at One" (1999–2000)
Mario Winans hợp tác với Enya và P. Diddy — "I Don't Wanna Know" (2004)
Ed Sheeran — "Thinking Out Loud" (2015)

Nguồn:[8]

Bước nhảy lên đầu bảng lớn nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Ca khúc Ca sĩ Bước nhảy Thời gian
"My Life Would Suck Without You" Kelly Clarkson 97-1 29 tháng 1, 2009[9]
"Womanizer" Britney Spears 96-1 25 tháng 10, 2008[10]
"Live Your Life" T.I. hợp tác với Rihanna 80-1 18 tháng 10, 2008[11]
"Crack a Bottle" Eminem, Dr. Dre & 50 Cent 78-1 19 tháng 2, 2009[12]
"We Are Never Ever Getting Back Together" Taylor Swift 72-1 1 tháng 9, 2012[13]
"Whatever You Like" T.I. 71-1 29 tháng 8, 2008[14]
"Makes Me Wonder" Maroon 5 64-1 12 tháng 5, 2007
"What's My Name?" RihannaDrake 60-1 20 tháng 11, 2010
"Right Round" Flo Rida hợp tác với Kesha 58-1 28 tháng 2, 2009[15]
"Bad Blood" Taylor Swift hợp tác với Kendrick Lamar 53-1 6 tháng 6, 2015
"Take a Bow" Rihanna 53-1 24 tháng 5, 2008[16]
"Break Your Heart" Taio Cruz hợp tác với Ludacris 53-1 24 tháng 5, 2008[17]
"A Moment Like This" Kelly Clarkson 52-1 5 tháng 10, 2002
"Love in This Club" UsherYoung Jeezy 51-1 15 tháng 3, 2008
"Give It to Me" Timbaland, Nelly FurtadoJustin Timberlake 42-1 12 tháng 4, 2007
"Umbrella" Rihanna và Jay-Z 41-1 9 tháng 6, 2007
"Boom Boom Pow" Black Eyed Peas 39-1 18 tháng 4, 2009
"SOS" Rihanna 34-1 13 tháng 5, 2006
"This Is Why I'm Hot" Mims 32-1 10 tháng 3, 2007
"SexyBack" Justin Timberlake 31-1 9 tháng 9, 2006

Bước tụt khỏi đầu bảng lớn nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Ca khúc Ca sĩ Bước tụt Thời gian
"Nothing from Nothing" Billy Preston 1-15 26 tháng 10, 1974
"Then Came You" Dionne WarwickThe Spinners 1-15 2 tháng 11, 1974
"The Sound of Silence" Simon và Garfunkel 1-12 29 tháng 1, 1966
"Can't Get Enough of Your Love, Babe" Barry White 1-12 28 tháng 9, 1974
"Rock Me Gently" Andy Kim 1-12 5 tháng 10, 1974
"You Haven't Done Nothin'" Stevie Wonder 1-12 9 tháng 11, 1974
"You Ain't Seen Nothing Yet" Bachman-Turner Overdrive 1-12 16 tháng 11, 1974
"Whatever Gets You thru the Night" John Lennon 1-12 23 tháng 11, 1974
"Theme from Mahogany (Do You Know Where You're Going To)" Diana Ross 1-11 31 tháng 1, 1976

Bước nhảy lớn nhất trong một tuần[sửa | sửa mã nguồn]

Ca khúc Ca sĩ Bước nhảy Thời gian
"My Life Would Suck Without You" Kelly Clarkson 97-1
(96 bậc)
7 tháng 2, 2009
"Womanizer" Britney Spears 96-1
(95 bậc)
25 tháng 10, 2008
"Beautiful Liar" Beyoncé và Shakira 94-3
(91 bậc)
7 tháng 4, 2007
"Smack That" Akon và Eminem 95-7
(88 bậc)
14 tháng 10, 2006
"Jai Ho! (You Are My Destiny)" A. R. Rahman, Pussycat DollsNicole Scherzinger 100-15
(85 bậc)
14 tháng 3, 2009
"Cowboy Casanova" Carrie Underwood 96-11
(85 bậc)
10 tháng 10, 2009
"Roar" Katy Perry 85-2
(83 bậc)
24 tháng 8, 2013
"Breaking Free" Zac Efron, Andrew SeeleyVanessa Anne Hudgens 86-4
(82 bậc)
11 tháng 2, 2006
"How Far We've Come" Matchbox Twenty 93-12
(81 bậc)
22 tháng 9, 2007
"London Bridge" Fergie 84-5
(79 bậc)
12 tháng 8, 2006
"Live Your Life" T.I. hợp tác với Rihanna 80-1
(79 bậc)
18 tháng 10, 2008
"Get'cha Head in the Game" Andrew Seeley 100-23
(77 bậc)
11 tháng 2, 2006
"Crack a Bottle" Eminem, Dr. Dre & 50 Cent 78-1
(77 bậc)
19 tháng 2, 2009
"So Small" Carrie Underwood 93-17
(76 bậc)
15 tháng 9, 2007
"Lollipop" Lil Wayne hợp tác với Static Major 85-9
(76 bậc)
5 tháng 4, 2008
"When I Close My Eyes" Shanice 91-16
(75 bậc)
3 tháng 4, 1999
"Bartender" T-Pain và Akon 97-22
(75 bậc)
23 tháng 6, 2007

Nhiều tuần trong bảng xếp hạng nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Ca khúc Ca sĩ Số tuần Thời gian
"Radioactive" Imagine Dragons 87 tuần 2014
""Sail"" Awolnation 79 tuần 2008
"I'm Yours" Jason Mraz 76 tuần 2008
"How Do I Live" LeAnn Rimes 69 tuần 1997
"Party Rock Anthem" LMFAO hợp tác với Lauren BennettGoonRock 69 tuần 2012
"Counting Stars" OneRepublic 69 tuần 2014
"Foolish Games"
"You Were Meant for Me"
Jewel 65 tuần 1997
"Before He Cheats" Carrie Underwood 64 tuần 2006
"You and Me" Lifehouse 62 tuần 2005
"Macarena" Los del Río 60 tuần 1996
"Smooth" SantanaRob Thomas 58 tuần 1999
"How to Save a Life" The Fray 58 tuần 2006
"Higher" Creed 57 tuần 2000
"I Don't Want to Wait" Paula Cole 56 tuần 1998
"The Way You Love Me" Faith Hill 56 tuần 2001
"I Gotta Feeling" The Black Eyed Peas 56 tuần 2009
"Rolling in the Deep" Adele 56 tuần 2011

Đĩa đơn quán quân hai lần bởi hai nghệ sĩ khác nhau[sửa | sửa mã nguồn]

Ra mắt ở vị trí số một[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn:[18]

Nghệ sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ sĩ có nhiều ca khúc đầu bảng nhất[sửa | sửa mã nguồn]

TT Nghệ sĩ Số ca khúc
01 The Beatles 21 ca khúc
02 Mariah Carey 22 ca khúc
03 Elvis Presley 17 ca khúc
04 Rihanna 14 ca khúc
05 Michael Jackson 13 ca khúc
06 Madonna 12 ca khúc
06 The Supremes 12 ca khúc
07 Whitney Houston 11 ca khúc
08 Janet Jackson 10 ca khúc
08 Stevie Wonder 10 ca khúc

Nghệ sĩ có nhiều ca khúc đầu bảng liên tục nhất[sửa | sửa mã nguồn]

TT Nghệ sĩ Số ca khúc
(thời gian)
01 Whitney Houston 7 ca khúc
(1985-1988)
02 The Beatles 6 ca khúc
(1964-1966)
03 Bee Gees 6 ca khúc
(1977-1979)

Nghệ sĩ có nhiều tuần đầu bảng nhất[sửa | sửa mã nguồn]

TT Nghệ sĩ Số tuần
01 Elvis Presley 79 tuần
02 Mariah Carey 79 tuần
03 Rihanna 60 tuần
04 The Beatles 59 tuần
05 Boyz II Men 50 tuần
06 Usher 47 tuần

Nghệ sĩ có nhiều ca khúc Top 10 nhất[sửa | sửa mã nguồn]

TT Nghệ sĩ Số ca khúc
01 Madonna 38 ca khúc
02 Elvis Presley 36 ca khúc
03 The Beatles 34 ca khúc
04 Michael Jackson 29 ca khúc
05 Stevie Wonder 28 ca khúc
06 Mariah Carey 27 ca khúc
06 Janet Jackson 27 ca khúc
06 Elton John 27 ca khúc

Nghệ sĩ có nhiều ca khúc Top 40 nhất[sửa | sửa mã nguồn]

01 Elvis Presley 104 ca khúc
02 Elton John 56 ca khúc
03 The Beatles 51 ca khúc
04 Madonna 48 ca khúc
05 Stevie Wonder 45 ca khúc

Nghệ sĩ có nhiều ca khúc Top 100 nhất[sửa | sửa mã nguồn]

01 Glee Cast 206 ca khúc
02 Elvis Presley 151 ca khúc
03 James Brown 99 ca khúc
04 Aretha Franklin 76 ca khúc
05 Ray Charles 75 ca khúc
06 The Beatles 72 ca khúc

Nghệ sĩ có nhiều ca khúc á quân nhất[sửa | sửa mã nguồn]

01 Madonna 06 ca khúc
02 Elvis Presley 05 ca khúc
02 The Carpenters 05 ca khúc
02 Creedence Clearwater Revival 05 ca khúc

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Hot 100 Anniversary: Find Out The Top Songs Of All Time”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 10 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015.  This contains the heading of the article only, no charts.
  2. ^ This site contains the Hot 100's top 100 songs of all-time in the 50th anniversary edition in 2008.
  3. ^ “Hot 100 55th Anniversary Central”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 2 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015. 
  4. ^ “Greatest Hot 100 Songs & Artists of All Time: Chubby Checker's 'The Twist' & The Beatles Reign”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 12 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016. 
  5. ^ “Greatest of All Time: Hot 100 Songs”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 12 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016. 
  6. ^ “Greatest of All Time: Hot 100 Artists”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 12 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016. 
  7. ^ Trust, Gary (7 tháng 11 năm 2016). “The Longest-Leading Hot 100 No. 1s”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2016. 
  8. ^ Letkemann, Jessica (15 tháng 11 năm 2012). “Biggest No. 2 Hits Ever: The Top 40 Hot 100 Tunes To Not Hit No. 1”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2012. 
  9. ^ Silvio Pietroluongo (28 tháng 1 năm 2009). “Kelly Clarkson Breaks Record For Hot 100 Jump”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009. 
  10. ^ Caulfield, Keith (8 tháng 10 năm 2008). “T.I. Maintains No. 1 Album While Britney Spears Zooms to No. 1 on the Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2008. 
  11. ^ Caulfield, Keith (8 tháng 10 năm 2008). “T.I.'s 'Paper Trail' Leads To No. 1 On The Billboard 200”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2008. 
  12. ^ Pietroluongo, Silvio (11 tháng 2 năm 2009). “Eminem's 'Bottle' Breaks Digital Record”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2009. 
  13. ^ Trust, Gary (22 tháng 8 năm 2012). “Taylor Swift Scores First-Ever No. 1 on Billboard Hot 100 With 'Never'. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012. 
  14. ^ Pietroluongo, Silvio (27 tháng 8 năm 2008). “T.I. Sets New Record With Hot 100 No. 1 Jump”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2008. 
  15. ^ Silvio Pietroluongo (18 tháng 2, 2009). “Flo Rida Topples Single-Week Download Mark”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2009. 
  16. ^ Pietroluongo, Silvio (14 tháng 5 năm 2008). “Rihanna's 'Bow' Soars 52 Spots To Lead Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2008. 
  17. ^ Pietroluongo, Silvio (10 tháng 3 năm 2010). “Taio Cruz Cruises To Record No. 1 Jump on Hot 100”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2010. 
  18. ^ “Billboard Hot 100 No. 1 Debuts, a Guide”. Billboard. Prometheus Global Media. Ngày 23 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2012. 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]