Bước tới nội dung

Halsey (ca sĩ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Halsey
Halsey tại iHeartRadio Music Awards vào năm 2019.
SinhAshley Nicolette Frangipane
29 tháng 9, 1994 (29 tuổi)
Edison, New Jersey, Hoa Kỳ
Nghề nghiệp
Năm hoạt động2012–nay
Bạn đờiAlev Aydin
Con cái1
Giải thưởngXem phần liên quan
Websiteiamhalsey.com
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụThanh nhạc
Hãng đĩa
Hợp tác với

Ashley Nicolette Frangipane (/ˌfrænɪˈpɑːni/;[1] sinh ngày 29 tháng 9 năm 1994), thường được biết đến với nghệ danh Halsey (IPA: /ˈhɔːlzi/, /ˈhɑːlzi/),[2] là một nữ ca sĩnhạc sĩ người Mỹ. Nổi tiếng từ sản phẩm âm nhạc tự phát hành trên các nền tảng mạng xã hội, cô đã ký hợp đồng với Astralwerks vào năm 2014 và phát hành EP đầu tay của cô, Room 93, vào cuối năm đó.

Halsey đã phát hành album phòng thu đầu tay, Badlands, vao năm 2015. Nó đã đạt được 2 chứng nhận Bạch kim từ Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA) cùng với các ca khúc là "Colors" và "Gasoline". Vào năm 2016, cô góp giọng trong đĩa đơn "Closer" của The Chainsmokers, đứng đầu bảng xếp hạng của hơn 10 quốc gia. Album phòng thu thứ 2 của cô, Hopeless Fountain Kingdom (2017), gồm nhiều ca khúc "radio-friendly" hơn các album trước; các đĩa đơn của nó "Now or Never" và "Bad at Love" nằm trong Top 20 của Billboard Hot 100, với "Bad at Love" nằm trong Top 5. Album phòng thu thứ 2 của Halsey, Manic (2020), trờ thành album bán chạy nhất toàn cầu của cô, với đĩa đơn mở đầu "Without Me" trở thành đĩa đơn thành công nhất của cô với vai trò là ca sĩ chính. Album phòng thu thứ 4 của cô, If I Can't Have Love, I Want Power (2021), khác xa với các sản phẩm âm nhạc trước đó của cô với các ca khúc u tối hơn rất nhiều; được Halsey mô tả là "Album mà [cô ấy] luôn muốn làm". Được sản xuất bởi hai thành viên của Nine Inch Nails là Trent Reznor và Atticus Ross, album nhận được nhiều đánh giá tích cực.

Vào năm 2020, Billboard đã thông báo rằng Halsey đã bán được hơn 1 triệu album và đạt hơn 6 tỷ lượt streams tại Mỹ.[3][4] Cô được chú ý bởi giọng hát đặc biệt của mình.[5] Các giải thưởng và đề cử của Halsey bao gồm bốn Giải thưởng Âm nhạc Billboard, một Giải thưởng Âm nhạc Mỹ, một Giải Truyền thông GLAAD, một Giải Video Âm nhạc của MTV, ba Giải Grammy, và được vinh danh là Nhạc sĩ của năm bởi Giải thưởng BMI Film & TV năm 2021. Halsey cũng được tạp chí Time đưa vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới vào năm 2020.[6] Ngoài âm nhạc, cô còn tham gia vào các hoạt động nâng cao nhận thức về phòng chống tự tử, vận động nạn nhân bị tấn công tình dục và các cuộc biểu tình đòi công bằng chủng tộc[7].

Thời thơ ấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Ashley Nicolette Frangipane sinh ra vào ngày 29 tháng 9 năm 1994, tại Edison, New Jersey.[8] Cha mẹ cô đã bỏ học đại học sau khi mẹ cô phát hiện ra rằng bà đang mang thai cô.[9] Mẹ cô, Nicole, giờ đang làm kỹ thuật viên y tế khẩn cấp,[10] và cha của cô, Chris, là quản lý một đại lý xe hơi.[11][12] Nicole là người Hungary gốc Ý, trong khi Chris là người Mỹ gốc Phi và có tổ tiên Ailen.[13][14] Halsey có 2 em trai, Sevian và Dante.[9] Cô chơi violin, viola và cello cho đến khi chuyển sang guitar acoustic khi cô 14 tuổi.[15] Cô đã lớn lên khi nghe nhạc của Alanis Morissette, Justin BieberBrand New.[16][17]

Trong suốt thời thơ ấu, gia đình của Halsey thường xuyên di chuyển vì cha mẹ cô làm nhiều công việc. Khi đến tuổi thiếu niên, cô đã đăng ký học qua 6 trường.[18]

Halsey đã bị bắt nạt ở trường,[12][19][20] và năm 17 tuổi, cô đã cố gắng tự tử, dẫn đến việc phải nhập viện trong gần 3 tuần. Sau đó, cô được chẩn đoán mắc chứng rối loạn lưỡng cực, thứ mà mẹ cô cũng phải vật lộn với nó.[21][22] Frangipane bắt đầu sử dụng thuốc kích thích ngay sau đó, nói rằng chứng rối loạn lưỡng cực của cô đã khiến cô trở thành một "đứa trẻ không bình thường".[18] Ngoài ra, khi cô 17 tuổi, cô có quan hệ tình cảm với một người đàn ông 24 tuổi và sống trên Halsey Street ở Brooklyn, và đó cũng là nơi mà nghệ danh của cô ra đời. Cô đã từng nói, "Đó là nơi tôi [đã] bắt đầu viết nhạc lần đầu tiên và là nơi tôi bắt đầu cảm thấy mình là một phần của một cái gì đó lớn hơn cái thị trấn hẻo lánh của tôi ở New Jersey này. Halsey giống như một biểu hiện của tất cả những phần phóng đại trong tôi, vì vậy nó giống như một bản ngã khác."[23] Vào năm 2012, cô tốt nghiệp trường trung học Warren Hills Regional ở Washington, New Jersey.[24]

Sau khi tốt nghiệp, cô đăng ký vào Trường thiết kế Rhode Island; tuy nhiên, cô đã rút lại do khó khăn tài chính và thay vào đó theo học trường cao đẳng cộng đồng.[9] Cuối cùng, cô đã bỏ học cao đẳng cộng đồng và bị đuổi khỏi nhà, nói rằng, "Họ chỉ không đồng ý với nhiều điều về tôi". Ngay sau đó, cô sống trong một tầng hầm ở khu hạ Manhattan với một nhóm "những kẻ phá hoại biến chất", những người mà cô biết thông qua bạn trai khi đó của mình.[25] Khi không sống ở đó, cô thỉnh thoảng sống ở một trong nhiều nơi trú ẩn cho người vô gia cư ở New York và cô đã cân nhắc tới việc làm mại dâm để kiếm tiền.[26][27] Khi mô tả về giai đoạn này của cuộc đời mình, Halsey đã nói, "Tôi nhớ có thời điểm tôi có 9$ trong tài khoản ngân hàng, tôi đã mua 1 lốc 4 lon Red Bull và uống nó để thức liền 2 hoặc 3 ngày, bởi vì sẽ ít nguy hiểm khi không ngủ hơn là ngủ ngẫu nhiên đâu đó và có thể bị hãm hiếp hoặc bắt cóc." Thỉnh thoảng cô sẽ ở với bà ngoại của mình.[9]

Đời tư

[sửa | sửa mã nguồn]

Mối quan hệ

[sửa | sửa mã nguồn]

Halsey công khai là người song tính.[28] Trước khi theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, cô từng hẹn hò với một người phụ nữ.[29] Vào tháng 3 năm 2021, Halsey thông báo rằng cô sử dụng cả hai danh xưng là "she/her" và "they/them".[30] Kể từ năm 2015 đến năm 2016, cô hẹn hò với nhà sản xuất người Na Uy Lido, người đã giúp sản xuất Badlands và được truyền cảm hứng từ Hopeless Fountain Kingdom.[31]

Vào năm 2017, cô bắt đầu hẹn hò với nam rapper người Mỹ G-Eazy. Họ gặp nhau tại một bữa tiệc vào năm 2017 và mặc dù theo đuổi dòng nhạc khác nhau nhưng họ đã tìm thấy điểm chung cho sự hợp tác "Him & I", trong đó thảo luận về tình yêu và lối sống của họ.[32] Cặp đôi chia tay vào tháng 7 năm 2018; mối quan hệ của họ đã rạn nứt và tiếp tục hẹn hò cho đến khi kết thúc vào tháng 9 năm đó.[33] Halsey xác nhận trong một cuộc phỏng vấn năm 2019 với Glamour rằng đĩa đơn tháng 10 năm 2018 "Without Me" của cô được viết về mối quan hệ này.[34]

Cô bắt đầu hẹn hò với nhạc sĩ nhạc alternative rock người Anh Yungblud vào tháng 11 năm 2018.[35][36] Họ gặp nhau tại một quán bar ở Los Angeles và cuối cùng hợp tác trong bài hát "11 Minutes",[37][38] dẫn đến tin đồn về một mối quan hệ lãng mạn có thể xảy ra. Halsey lần đầu tiên xác nhận rằng họ đã gặp nhau trong một cuộc phỏng vấn với Capital FM vào tháng 3 năm 2019.[39][40][41] Họ chia tay vào tháng 9 năm 2019.[42]

Halsey bắt đầu hẹn hò với nam diễn viên Evan Peters vào tháng 9 năm 2019.[43][44] Đầu năm 2020, cô đã nhấn thích một tweet xác nhận họ đã chia tay.[45][46]

Vào tháng 1 năm 2021, Halsey thông báo cô đang mang thai đứa con đầu lòng với bạn trai của cô, nhà biên kịch Alev Aydin.[47][48] Vào ngày 19 tháng 7, Halsey xác nhận rằng cô đã sinh con 5 ngày trước vào ngày 14 tháng 7.[49][50]

Hình xăm

[sửa | sửa mã nguồn]

Halsey có 29 hình xăm được xác nhận, trong đó nổi bật nhất là hình móng ngựa trên vai phải.[51] Cô đã có một hình xăm lời bài hát "Him & I" thực hiện cho G-Eazy. Cô có một hình xăm trên mặt.[52] Cô cũng có một hình xăm khuôn mặt của Marilyn Manson ở một bên thân và một trong những lời bài hát "Loser" của Beck trên cổ.[53]

Danh sách album

[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyến lưu diễn

[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn chính

Đồng diễn chính

Diễn mở màn

Giải thưởng và đề cử

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Giải thưởng Hạng mục Đối tượng đề cử Kết quả
2015 Giải thưởng Âm nhạc MTV châu Âu Artist on the Rise (Chính mình) Đề cử
2016 People's Choice Awards Favorite Breakout Artist
NME Awards[54] Best New Artist
Billboard Women in Music[55] Rising Star Đoạt giải
2017 Giải Grammy Best Pop Duo/Group Performance "Closer" (với The Chainsmokers) Đề cử
Album of the Year Purpose (với tư cách nghệ sĩ hợp tác)
iHeartRadio Music Awards[56] Song of the Year "Closer" (với The Chainsmokers)
Dance Song of the Year Đoạt giải
Best Lyrics Đề cử
Best Collaboration
Giải thưởng âm nhạc Billboard[57] Top Hot 100 Song Đoạt giải
Top Selling Song Đề cử
Top Radio Song
Top Streaming Song (Audio)
Top Streaming Song (Video)
Top Collaboration Đoạt giải
Top Dance/Electronic Song
Teen Choice Awards Choice Pop Song Đề cử
Choice Breakout Artist (Chính mình)
Choice Summer Female Artist
TRL Awards Best Video "Closer" (với The Chainsmokers) Đoạt giải
Myx Music Awards[58] Best International Video Đoạt giải
Giải thưởng Âm nhạc Mỹ Favorite Pop/Rock Song Đề cử
Collaboration of the Year
2018 iHeartRadio Music Awards[59] Female Artist of the Year (Chính mình) Chưa công bố

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Halsey Tells Us How To Pronounce Her Last Name & Singing w/ Katy Perry. Part 1" trên YouTube
  2. ^ “Kids Interview Bands – Halsey”. YouTube. ngày 13 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  3. ^ “Halsey's Album Sales & Most-Streamed Songs, From 'Closer' to 'Without Me' & More: Ask Billboard Mailbag”. Billboard. 25 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2020.
  4. ^ “Eminem Scores Historic 10th No. 1 Album on Billboard 200 Chart With 'Music to Be Murdered By'. Billboard. 26 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2020.
  5. ^ “Halsey says using her "weird voice" to play Wonder Woman in "Teen Titans Go! to the Movies" is "her calling". 101 WIXX. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2020.
  6. ^ “Halsey: The 100 Most Influential People of 2020”. Time. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2020.
  7. ^ Gill, Cassie (31 tháng 5 năm 2020). “Halsey Reunites With Ex Yungblud At L.A. Protest After Death Of George Floyd — Pics”. Hollywood Life (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2020.
  8. ^ Olivier, Bobby (ngày 15 tháng 10 năm 2017). “N.J. pop star Halsey was magnetic in her largest home-state concert yet”. NJ.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2017.
  9. ^ a b c d Morris, Alex (ngày 28 tháng 7 năm 2016). “Inside Halsey's Troubled Past, Chaotic Present”. Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017.
  10. ^ Halsey [@iamhalsey] (ngày 2 tháng 6 năm 2020). “It's become very clear to me that some of you need to see what I've seen. Please swipe through this. These pictures and videos don't even…” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020 – qua Instagram.
  11. ^ Lustig, Jay (ngày 14 tháng 8 năm 2016). “Concert review: Halsey at Madison Square Garden”. The Record (Bergen County). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2016. Halsey – who grew up as Ashley Frangipane in Clark, and is now 21 – wiped a tear from her eye as she told the story, standing on the Garden's stage herself, Saturday night.
  12. ^ a b Ringen, Jonathan. “Billboard Cover: How Halsey Became the Voice of Her Generation Through Tweets, Tumblr and Truth-Telling”. Billboard.com. Billboard-Hollywood Reporter Media Group. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2017.
  13. ^ @halsey (ngày 20 tháng 4 năm 2014). “@wishuponaLAUR my dad is black and a little Irish and my mom is Italian and Hungarian!” (Tweet) (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2017 – qua Twitter.
  14. ^ “Halsey–A biography”. Paradigm Talent Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2015.
  15. ^ “Halsey”. Paradigm Talent Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2019.
  16. ^ Garibaldi, Christina. “Halsey Has A Response To Those 'F--k Yous' She Got For Working With Justin Bieber”. MTV News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2020.
  17. ^ “halsey (@iamhalsey) • Instagram photos and videos”. ngày 29 tháng 9 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2020.
  18. ^ a b “Art-Pop Singer Halsey on Being Bipolar, Bisexual and an 'Inconvenient Woman'. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2019.
  19. ^ Gomez, Luis. “The untold truth of Halsey”. TheList.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2019.
  20. ^ “Brendon Urie had an amazing response to Halsey being bullied at school”. Alternative Press (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2019.
  21. ^ Fredette, Meagan (ngày 15 tháng 7 năm 2018). “Halsey Opens Up About Juggling Her Career & Bipolar Disorder”. refinery29.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  22. ^ Gharnit, Yasmeen (ngày 28 tháng 5 năm 2015). “Halsey Talks About Her Bipolar Disorder”. Nylon (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  23. ^ Brow, Jason (ngày 22 tháng 5 năm 2018). “Halsey: 5 Things To Know About Singer Hitting The Stage For 'The Voice' Finale”. Hollywood Life (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2019.
  24. ^ Buffum, Joanna; and Kortebein. "Fetty Wap, Halsey & Charlie Puth: New Jersey's Young Pop Heavyweights; Three New Jersey musicians are dominating the pop charts and breaking records—and they were all born in the '90s." Lưu trữ 2018-02-09 tại Wayback Machine, New Jersey Monthly, ngày 30 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018. "Halsey; Hometown: Washington... She graduated from Warren Hills Regional High School in 2012 and worked on songwriting until she self-released her first single, 'Ghost', on SoundCloud in January 2014."
  25. ^ “Halsey Opened Up to 'Rolling Stone' About Her Life”. Time (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
  26. ^ Reilly, Phoebe (tháng 6 năm 2017). “What it Means to Be Halsey”. Vulture. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2018.
  27. ^ Sager, Jessica (ngày 8 tháng 4 năm 2019). “Halsey considered prostitution, sex work before she got a record deal”. Fox News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2019.
  28. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên advocate.com
  29. ^ Mazurek, Brooke (ngày 24 tháng 8 năm 2017). “Halsey and Charli XCX, Fall's Wildest Tourmates, Talk Partying, Sexism and Songwriting: 'We're Helping Each Other Win'. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2020.
  30. ^ Neale, Matthew (ngày 14 tháng 3 năm 2021). “Halsey thanks fans after announcing she/they pronouns”. NME (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2021.
  31. ^ “Halsey's Complete Dating History: All Her Ex-Boyfriends From G Eazy To Machine Gun Kelly & More”. Capital FM (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2019.
  32. ^ Czachor, Emily Mae. “Halsey & G-Eazy May Have Met In A Completely Normal Way”. Bustle (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2019.
  33. ^ “Halsey and G-Eazy Break Up Again”. E! Online (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2019.
  34. ^ “Halsey Opens Up About 'Without Me' & G-Eazy Split in 'Glamour'. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2019.
  35. ^ Halsey [@iamhalsey] (ngày 5 tháng 8 năm 2019). “darling dom. everyone who has met you in this life, for any amount of time at all, will be changed forever because of it. for some, in…”. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2019 – qua Instagram.
  36. ^ Wright, JoJo (ngày 9 tháng 3 năm 2019). “ICYMI: JoJo Talks With Halsey and YUNGBLUD | JoJo Wright | iHeartRadio”. iHeart Radio. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2019.
  37. ^ BUILD Series LDN (ngày 27 tháng 3 năm 2019), YUNGBLUD Speaks With Us About His New Single '11 Minutes'
  38. ^ Sang, Zach (ngày 6 tháng 3 năm 2019), YUNGBLUD Talks 11 Minutes, Working with Halsey and Travis Barker & New Album (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2019, truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2019 – qua YouTube
  39. ^ “Halsey Fangirls Over Her Collaboration With BTS 💕 | Full Interview”, Capital FM (bằng tiếng Anh), ngày 29 tháng 4 năm 2019, lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2019, truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2019 – qua YouTube
  40. ^ @halsey (ngày 5 tháng 8 năm 2019). “happy birthday squish @yungblud” (Tweet). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2019 – qua Twitter.
  41. ^ “Halsey and Rocker Boyfriend Yungblud Pack On the PDA During Cutesy Coffee Date”. Life & Style (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 3 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2019.
  42. ^ Murphy, Helen (ngày 29 tháng 10 năm 2019). “Halsey Addresses Yungblud Split as She Makes Things Official with Evan Peters: 'It Just Happens'. People. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2020.
  43. ^ “Halsey and Evan Peters Are Dating After Romances With Yungblud and Emma Roberts”. ngày 28 tháng 9 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2019.
  44. ^ “Halsey Was Legit Scared Into Confirming Her Relationship With Evan Peters”. 106.1 KISS FM Seattle. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2019.
  45. ^ Josh, Milton (ngày 3 tháng 6 năm 2020). “Evan Peters makes grovelling apology after retweeting video calling Black Lives Matters protestors 'piece of s**t looters'. Pink News. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2020.
  46. ^ Aderoju, Darlene (ngày 23 tháng 3 năm 2020). “Have Halsey and Evan Peters Split? Singer Deletes Almost All Photos with Her Actor Beau”. People. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2020.
  47. ^ Kirkpatrick, Emily. “Halsey Announces She's Pregnant: "I Love This Mini Human Already!". Vanity Fair (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2021.
  48. ^ “Halsey's Pregnant! Everything to Know About Her Screenwriter Boyfriend Alev Aydin”. People (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2021.
  49. ^ Mamo, Heran (19 tháng 7 năm 2021). “Halsey Gives Birth to Her First Child With Alev Aydin: See the Announcement”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2021.
  50. ^ NJ.com, Amy Kuperinsky | NJ Advance Media for (ngày 19 tháng 7 năm 2021). “Halsey welcomes baby Ender Ridley with boyfriend Alev Aydin”. nj.
  51. ^ “The meaning behind these celebrity tattoos”. Page Six. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2019. Halsey told iHeart Radio about her upside-down horseshoe's meaning, saying, "I got an upside-down horseshoe to signify that I don't need luck. I work really, really hard, and I believe in the stars aligning, but I don't believe that anything happens to anyone based out of sheer luck. I believe people work really hard, and they manifest what they want, and what they need, and what they're hopeful for, and that's what this is – a reminder."
  52. ^ “Halsey Reveals New Face Tattoo on Instagram”. Teen Vogue. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2019. As for the design? Halsey opted for the letter 'Q' in red ink, accompanied by a small diamond, which resembled the suit of a Queen of Diamonds playing card. "Headed straight for the castle. @nal.tattoo 💉💉 thanks for my first (and only hopefully lol) face tattoo ♦️♦️♦️♦️," she captioned the shot.
  53. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên mm
  54. ^ “One Direction está entre os indicados ao prêmio de Pior Banda do Ano da NME”. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2016.
  55. ^ “Shania Twain to Receive 'Icon' Award, Halsey Named 'Rising Star' at Billboard Women In Music 2016”. Billboard. ngày 26 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2016.
  56. ^ “2017 iHeartRadio Music Awards: Complete List of Nominations”. E! Online. ngày 3 tháng 1 năm 2017.
  57. ^ “Drake, The Chainsmokers Lead Nominees for the 2017 Billboard Music Awards”. Billboard. ngày 10 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2017.
  58. ^ “Here Are The #MYXMusicAwards2017 List Of Winners!” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2017.
  59. ^ “2018 iHeartRadio Music Awards: See The Full List of Nominee”. iHeartRadio. ngày 10 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2018.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]