The Weeknd

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
The Weeknd
FEQ July 2018 The Weeknd (44778856382) (cropped).jpg
The Weeknd biểu diễn tại hội FEQ vào tháng 7 năm 2018
SinhAbel Makkonen Tesfaye
16 tháng 2, 1990 (31 tuổi)
Toronto, Ontario, Canada
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • Nhạc sĩ
  • Nhà sản xuất âm nhạc
  • Diễn viên
Năm hoạt động2009–nay
Giải thưởngToàn bộ danh sách
Trang webtheweeknd.com
Sự nghiệp âm nhạc
Dòng nhạc
Hãng đĩa
Hợp tác với
Chữ ký
The Weeknd signature.png

Abel Tesfaye (sinh ngày 16 tháng 2 năm 1990), tên nghệ danh là The Weeknd (phát âm giống từ weekend), là một ca sĩ kiêm nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc người Canada, anh được sinh ra tại thành phố Toronto và lớn lên ở Scarborough. Tesfaye bắt đầu sáng tác âm nhạc vào năm 2009 bằng cách đăng tải một cách vô danh bài hát "Do It" lên trang mạng YouTube. Vào cuối năm 2010, một số bài hát của Tesfaye được tải lên YouTube dưới cái tên "The Weeknd". Anh đã phát hành ba bản mix (9 track) trong suốt năm 2011: House of Balloons, Thursday and Echoes of Silence và được giới chuyên môn đánh giá cao.[1] Trong năm kế tiếp, anh phát hành một album tổng hợp mang tên Trilogy, bao gồm các bản mix trước đó đã được chỉnh sửa và ba bài hát mới thêm vào. Hãng Republic Records và XO đã phát hành độc quyền album này. Album thứ hai của Tesfaye, Beauty Behind the Madness trở thành album đầu tiên đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200, với tốp 5 đĩa đơn chính bao gồm: "Earned It", "The Hills" và single số một "Can't Feel My Face". Cả ba bài hát trên đều lần lượt giữ cả ba vị trí dẫn đầu của Bảng xếp hạng Billboard Hot R&B, khiến Tesfaye trở thành người đầu tiên trong lịch sử đạt được thành tích này.[2]

Album thứ ba của Tesfaye Starboy (2016) cũng thành công tương tự như album trước với đĩa đơn trùng tên đạt vị trí quán quân bảng xếp hạng, đạt được giải thưởng Album Thành thị Đương đại Xuất sắc nhất tại lễ trao giải Grammy Awards năm 2018. Album thứ tư của Tesfaye, After Hours (2020) đem lại cho anh những đĩa đơn ở vị trí quán quân bảng xếp hạng Billboard Hot 100 "Heartless", "Save Your Tears", và "Blinding Lights". Bài hát "Blinding Lights" lần đầu tiên trong lịch sử bảng xếp hạng này dành đến hơn một năm nằm trong top 10,[3][4] và là bài hát được phát nhiều nhất trên nền tảng Spotify năm 2020.[5]

The Weeknd cũng nhận được nhiều lời khen ngợi từ một số ấn phẩm âm nhạc như Pitchfork,[6] MTV,[7] BET,[8] Rolling Stone, XXL[9] và The Source.[10]

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Abel Makkonen Tesfaye sinh ngày 16 tháng 2 năm 1990 tại thành phố Toronto, Ontario. Ba mẹ anh Makkonen and Samra Tesfaye là người Ethiopia nhập cư[11][12][13] và lớn lên tại Scarborough, Toronto.[12][14][15]Anh là con một duy nhất trong nhà, mẹ anh làm nhiều việc để nuôi gia đình, bao gồm làm y tá và phân phát thức ăn cũng như mỗi tối đi học tiếng Anh bổ túc. Sau khi ba mẹ anh chia tay, anh được bà nội và mẹ ruột nuôi dưỡng.[16][17] Trong khoảng thời gian sống với bà, anh học tiếng Amharic, ngôn ngữ của mẹ anh.[18] Anh từng nhiều lần tham gia hoạt động đền thờ Ethiopian Orthodox Tewahedo Church.[11][19] Anh kể lại người ba của mình rằng, "Tôi mơ hồ gặp ba tôi khi tôi còn sáu tuổi, và những lần tiếp theo nữa lúc tôi lên 11 và 12 tuổi, ba của tôi đã có gia đình và đứa con mới. Tôi còn không biết được ba tôi sống ở đâu, tôi chỉ được gặp ba tôi cỡ đúng một đêm. Tôi tin chắc ba là một người đàn ông tuyệt vời. Tôi không bao giờ phán quyết ba tôi. Ba không hề lạm dụng chất nghiện, không hề nghiện rượu, không phải là một tên khốn nạn. Chỉ là ba không thể ở bên mẹ con tôi."[11]

Tesfaye mô tả quãng thời gian niên thiếu của mình trong bộ phim "Kids without the AIDS." Anh kể lại anh từng nghiện marijuana năm 11 tuổi, sau này sử dụng thuốc lắc, oxycodone, xanax, ma tuý, psilocybin, và ketamin. Anh thú nhận mình thường hay ăn trộm vặt ở siêu thị để ra ngoài bán kiếm tiền mua ma tuý sử dụng.[12][20] Anh theo học tại trường West Hill Collegiate InstituteBirchmount Park Collegiate InstituteScarborough. Năm 2007, anh bỏ học và di cư sang Parkdale, Toronto, Abel giải thích nghệ danh của mình lấy cảm hứng từ việc bỏ học, cho biết "bỏ ra đi vào ngày cuối tuần và không bao giờ trở về nữa", mặc dù nhà sản xuất Jeremy Rose nói rằng nghệ danh đó là do anh nghĩ ra. Tuy nhiên nghệ danh lại được lược bỏ nhằm tránh đụng bản quyền với ban nhạc Canada tên The Weekend.[21][22]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2009–2011: Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Vào khoảng tháng 8 năm 2009, Tesfaye đăng tải bài hát "Do It" lên nền tảng YouTube dưới tên tài khoản "AbelOfficial".[23] Sang năm tiếp theo, Tesfaye gặp gỡ nhà sản xuất âm nhạc Jeremy Rose, người đang có tham vọng cho dự án âm nhạc R&B đương đại lúc bấy giờ. Lúc ban đầu sau khi tung ý tưởng cho nhạc sĩ Curtis Santiago, Rose đồng ý làm nhạc cho Tesfaye, anh ban đầu tham gia thể loại nhạc rap freestyle quãng thời gian đầu nhưng sau này quay lại thể loại R&B. Cả hai hợp tác làm album phòng thu, Rose hoà âm và phối khí ba bài hát cho anh – "What You Need", "Loft Music", và "The Morning" – Tesfaye có nhiệm vụ là thu âm ca khúc lại, đến cuối cùng thì đem huỷ bỏ. Rose tặng lại cho Tesfaye lại ca khúc mà chính anh sáng tác với điều kiện là tên của anh phải được credit lại.[24] Vào tháng 12 năm 2010, Tesfaye đồng ý đăng tải lại miễn phí ba bài hát "What You Need", "Loft Music" và "The Morning" lên YouTube dưới một cái tên khác nữa là "xoxxxoooxo", chính kênh này về sau đổi lại thành "the Weeknd".[25] Lúc đó danh tính của anh vẫn còn mịt mờ với công chúng.[26][27] Bài hát thu hút sự chú ý từ cư dân mạng, và được nam rapper cùng thời vừa nổi tiếng Drake quảng bá trên một bài đăng blog.[24][28] Các bài hát mau chóng phủ sóng trên khắp mặt báo, bao gồm tờ tạp chí PitchforkThe New York Times. Trước khi phát sinh cái tên nghệ danh the Weeknd, anh sử dụng biệt danh của the Noise và Kin Kane.[11] Khi Tesfaye lần đầu tự sáng tác nhạc, anh gia nhập American Apparel. Bởi vì vấn đề danh tính còn bí mật, những người làm chung của anh chỉ được nghe nhạc mà không hay biết rằng là của anh.[29][30][31]

Vào năm 2011, Tesfaye kí hợp đồng với đối tác độc quyền âm nhạc Sal SlaibyAmir Esmailian, rồi sáng lập ra hãng thu XO Records.[32] Vào 21 tháng 3 năm 2011, XO Records phát hành đĩa album phòng thu đầu tiên của anh có tên là House of Balloons.[33][34][35] Đĩa nhạc này bao gồm phần sản xuất của IllangeloDoc McKinney, và bao gồm cả phần sản xuất trước đó của Rose cho dù anh không nhận bất cứ credit nào cho sáng tác này.[24] House of Balloons nhận được lời khen từ giới phê bình.[36] Nó được xướng tên vào mười đề cử của giải Polaris Music năm 2011.[37]

Một trong số những màn trình diễn đầu tiên của anh là tại hội thảo học sinh da đen tại đại học University of Toronto vào tháng 4 năm 2011.[31][38]

Vào tháng 7 năm 2011, Tesfaye đi lưu diễn tại Toronto, màn trực tiếp công khai của anh đầu tiên là tại Mod Club Theatre kéo dài đến gần 90 phút và Drake có mặt ở đây để xem màn trình diễn này.[39] Tại đây, Drake ngỏ ý hợp tác với Tesfaye. Tesfaye đã đồng ý và tham gia phần mở đầu cho các show diễn của Drake tại Molson Canadian Amphitheatre, và tại hội OVO Fest thường niên vào tháng 7 năm 2011.[40] Vào mùa hè năm 2011, Tesfaye đóng góp phần sáng tác của mình cho bốn bài hát của Drake ở album phòng thu Take Care, vừa là nhạc sĩ vừa là ca sĩ hợp tác cho các bài hát.[41]

Tesfaye tự nhận mình là một người rất hạn chế tham gia phỏng vấn trực tiếp, anh chỉ chọn liên lạc qua đường Twitter, bởi vì tính cách của anh là rụt rè và hướng nội.[42][43] Cho đến thời điểm hiện tại, Tesfaye cực kì ít có mặt tại các buổi phỏng vấn, chỉ đồng ý nói chuyện vào những dịp rất quan trọng.

Bản thu thứ ba của Tesfaye, Echoes of Silence, ra mắt vào ngày 21 tháng 12 năm 2011, một năm sau khi debut chính thức.[44]. Noise EP gồm có mười bài hát cũng được phát hành miễn phí trên mạng xã hội vào thời điểm này, trước khi anh chính thức đi vào album phòng thu đầu tiên.[45] Vào ngày 31 tháng 10 năm 2012, Tesfaye đăng tải lên Twitter rằng "Noise EP thực chất là một chuỗi bài hát bị rò rỉ từ nhà hợp tác cũ, người ta bên ngoài phát hiện AFTER HOB bị bỏ đó. Bản viết nháp demo thực ra là hồi còn teen để ghi chú ý thôi mà. xo."[46]

2012-2014: Trilogy và Kiss Land[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4/2012, Abel bắt tour lưu diễn ở Mỹ và trình diễn ở lễ hội âm nhạc Coachella. Tour lưu diễn đa số tập trung ở New York với những đêm diễn liên tục bán hết vé và được bình luận bởi trang Rolling Stone. Abel mở rộng tour lưu diễn ra Châu Âu và biểu diễn ở các lễ hội ở Châu Âu bao gồm Primavera Soung ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và lễ hội Wireless ở London. Bằng việc hát lại ca khúc "Dirty Diana" ở London, Abel nhận được nhiều lời khen ngợi từ Katy Perry và Florence Welch vì đã chứng tỏ khả năng hát những bài hát phức tạp của mình. Tháng 6, Balloons Trilogy được phát hành và được tải hơn 8 triệu lượt, giúp cho Abel quảng bá Balloons Trilogy sau đó.

Tháng 9/2012, Abel kí hợp đồng với hãng Republic Records hợp tác với hãng thu âm XO riêng của mình. Album tập hợp được đặt tên Trilogy và được phát hành 2 tháng sau đó, bao gồm các bản làm mới của vài bài hát cũng như thêm nhiều bản phụ. Jeremy cuối cùng cũng được nhắc tới trong album với tư cách là nhà sản xuất của 3 bài hát trong House of Balloons. Trilogy đứng ở vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng Billboard 200 Mỹ với doanh thu bán ra 86 ngàn bản trong tuần đầu tiên. Album cũng đạt thứ hạng thứ 5 trên bảng xếp hạng Canadian Album với doanh thu tương tự. Trilogy nhận được chứng nhận bạch kim từ Hiệp hội thu âm Mỹ và bạch kim đôi từ Music Canada vào tháng 5/2013. Anh cũng nhận được đề cử cho giải thưởng Sound of 2013 từ BBC 1 tuần sau đó.

Ngày 16/5/2013, Abel trình làng đĩa đơn chủ đề của album phòng thu Kiss Land, và dự kiến sẽ phát hành album vào ngày 10/9. Theo sau đó là sự ra mắt của hai đĩa đơn "Belong to the World" và "Live For" hợp tác với Drake, cũng như việc Abel lên kế hoạch cho tour lưu diễn The Fall một tuần trước khi album được phát hành. Sau khi ra mắt, Kiss Land đứng ở vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Billboard 200 Mỹ và bán được 96 ngàn bản. Tổng hợp lại thì album bán được hơn 273 ngàn bản ở thị trường Mỹ cũng như nhận được nhiều ý kiến đánh giá tích cực từ các trang đánh giá âm nhạc.

Abel cũng tham gia 6 buổi trình diễn thuộc tour lưu diễn thế giới 20/20 Experience của Justin Timberlake. Ba tuần sau, anh góp giọng ca khúc "Devil May Cry" cho nhạc phim The Hunger Game: Catching Fire (2013) cũng như tham gia ca khúc "Elastic Heart" của Sia. Ca khúc "Elastic Heart" sau đó được tiết lộ cũng là ca khúc thuộc nhạc phim The Hunger Game.

Năm 2014, Abel phối lại ca khúc "Drunk in Love" nổi tiếng của Beyonce. Chỉnh sửa và chuyển đổi lại ca khúc dưới góc nhìn suy nghĩ của một người đàn ông. Bản phối lại được nhiều người yêu thích, theo sau đó Abel cũng thông báo về việc bắt đầu tour lưu diễn King of the Fall. Tour lưu diễn đi vòng quanh nước Mỹ vào tháng 9 và 10, cùng với sự tham gia của Schoolboy Q và Jhene Aiko. Theo sau đó là đĩa đơn "Often" ra mắt dẫn tới việc mọi người phỏng đoán đây là đĩa đơn từ album thứ hai của Abel. Sau đó anh hợp tác với ca sĩ Ariana Grande cho ra đời ca khúc "Love Me Harder" đứng hạng 7 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Vài ngày sau, anh ra mắt "Earned It" là ca khúc cho nhạc phim Fifty Shades of Grey (2015). Đánh dấu lần thứ 2 anh tham gia làm nhạc cho bộ phim và ca khúc đạt hạng 3 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.

2015: Beauty Behind the Madness.[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thắng giải Centric thuộc giải BET 2015, anh biểu diễn ca khúc "Earned It" với Alicia Keys và giới thiệu ca khúc "The Hills". "The Hills" sau đó đó ra mắt dưới định dạng tải nhạc số và đạt vị trí 20 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Ca khúc sau đó lên leo top đầu bảng xếp hạng trở thành ca khúc đầu tiên đứng hạng nhất của Abel. Ca khúc đạt chứng nhận bạch kim từ Hiệp hội thu âm Mỹ.

Ba bài hát bị tuồn ra ngoài trên mạng. Này 8/6, một trong những ca khúc bị rò rỉ là "Can't Feel My Face" là đĩa đơn thứ 2 và được Abel trình diễn ở Hội nghị nhà phát triển thế giới Apple. Bài hát đạt thứ hạng 24 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Hot 100, đây là ca khúc thứ 3 lọt vào top 10 và cũng là ca khúc thứ 2 đạt hạng nhất của Abel ở Mỹ. Anh cũng là nghệ sĩ chiếm 3 thứ hạng đầu trên bảng xếp hạng Billboard R&B, trở thành nghệ sĩ đầu tiên đạt được thành tựu như vậy. Anh cũng tham gia biểu diễn ở FVDED ở Park, lễ hội ở Surrey, British Columbia. Abel sau đó được tiết lộ là một trong ba gương mặt đại diện của dịch vụ nghe nhạc trực tuyếp Apple do hợp tác thường xuyên với Drake. Trong buổi trao giải MTV Music 2015, Apple cũng cho ra mắt 2 phần quảng cáo có sự tham gia của Abel và có John Travolta góp mặt. Album tiếp theo cũng anh cũng được tiết lộ có tên là Beauty Behind the Madness.

Beauty Behind the Madness được phát hành vào ngày 28/8/2015 và đạt vị trí đầu tiên trên bảng xếp hạng Billboard 200, bán được hơn 412 ngàn bản trong tuần đầu tiên. Cũng như lọt vào top 10 ở hơn 10 quốc gia, và đứng hạng nhất ở Canada, Australia, Na Uy và Anh. Abel cũng quảng bá album ở các sự kiện âm nhạc mùa hè như Lollapalooza, lễ hội âm nhạc Hard Summer, và lễ hội Bumbershoot. Anh cũng thông báo tour lưu diễn quy mô lớn vòng quanh nước Mỹ bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 12. Album nhận chứng nhận bạch kim đôi và bán được 1.5 triệu bản toàn thế giới. Đây cũng là album được nghe nhiều nhất trên các trang nhạc trực tuyến với 60 triệu lượt nghe.

Vào ngày 8/9, Abel trở thành nghệ sĩ nam đầu tiên giữ vị trí top 3 với 3 bài hát của mình trên bảng xếp hạng nhạc Billboard các ca khúc R&B. Cả ba đều có chứng nhận vàng ở Mỹ. Sau khi hợp tác với Belly, Meek Mill, và Travis Scott, Abel cũng hợp tác với album "Low Life" - đĩa đơn đạt chứng nhận vàng 3 lần từ album phòng thu thứ tư của Future. Abel cũng tham gia chương trình Saturday Night Live cùng với nữ diễn viên Amy Schumer trình diễn trong phần âm nhạc vào ngày 10/10. Đây là lần đầu tiên anh trình diễn với tư cách ca sĩ solo sau khi cùng Ariana Grande trình diễn ca khúc "Love Me Harder".

2016-hiện tại: Starboy và My Dear Melancholy[sửa | sửa mã nguồn]

Abel góp giọng ca khúc FML của Kanye West nằm trong album The Life of Pablo. Đây là lần hợp tác thứ hai của cả hai, sau khi Kanye từng tham gia sản xuất và viết lời cho ca khúc "Tell your friends" trong album Beauty Behind the Madness. Anh cũng tham gia ca khúc "6 inch" của Beyonce trong album Lemonade. Trang Spotify cũng công bố anh là 1 trong số 5 ca sĩ có nhiều lượt nghe nhất trong lần hợp tác với Sony đưa dịch vụ nghe nhạc trên Playstation 4.

Ngày 24/8, trong lúc đang chuẩn bị thu âm album thứ ba, phó chủ tịch của hãng Republic Records thông báo rằng Abel sẽ bắt đầu hợp tác với ban nhạc Daft Punk từ Pháp. Một tháng sau, tựa đề album được tiết lộ là Starboy dự kiến ra mắt vào ngày 25/11. Abel cũng cho ra mắt đĩa đơn trùng tên với album là Starboy hợp tác với Daft Punk, album đạt chứng nhận bạch kim và đứng hạng nhất ở Mỹ cũng như ở nhiều quốc gia khác. Đĩa đơn thứ hai là "I Feel It Coming" được phát hành sau khi album được ra mắt cùng với hai ca khúc "Party Monster" và "False Alarm". Abel trình diễn ca khúc "Starboy" và "False Alarm" trên chương trình Saturday Night Live vào ngày 10/10. Anh cũng ra mắt bộ phim ngắn có thời lượng 12 phút tên M A N I A, vào ngày 23/11 được đạo diễn bởi Grant Singer, cùng với một trích đoạn ngắn từ "All I Know" cùng với Future, "Sidewalks" cùng với Kendrick Lamar, và ca khúc "Secrets" và "Die for You"

Năm 2017, Abel tham gia album thứ sáu của Future cũng như tham gia sản xuất cho đĩa đơn ra mắt của Nav là nghệ sĩ kí hợp đồng với hãng XO của Abel vào tháng 1. Anh cũng góp giọng cho ca khúc "Lust for Life" của Lana Del Rey trong album thứ năm của cô. Ngoài ra còn có ca khúc "A Lie" của French Montana từ album thứ hai Jungle Rules và đĩa đơn ra mắt "Wild Love" của Cashmere Cat trong album tên 9. Anh cũng xuấy hiện trong clip "XO Tour Lif3" của Lil Uzi Vert so Virgil Abloh đạo diễn cùng với ca sĩ Nav. Sau đó Abel cũng hợ tác với alum đầu tay của Lil Uzi Vert và album thứ 11 tên Mr. Davis của Gucci Mane. Abel nhận đề cử Grammy cho giải Album đương đại xuất sắc nhất cho album Starboy và thắng giải.

Ngày 31/1/2018, Top Dawg Entertainment tiết lộ bản list nhạc đầy đủ cho bộ phim Black Panther của Kendrick Lamar hợp tác với Abel ca khúc "Pray for Me". Ngày 2/2/2018, ca khúc được phát hành đánh dấu lần hợp tác thứ hai của cả hai sau ca khúc "Sidewalks" trong album Starboy.

Vào ngày 27/3/2018, Abel bắt đầu quảng bá album mới trên trang Instagram của mình. Ngày 29/3/2018, album mới của Abel được tiết lộ bằng bảng hiệu lớn ở London album có tự đề My Dear Melancholy cùng ngày hôm đó album cũng được công bố rộng rãi. Ngày 30/3/2018, phiên bản mở rộng của My Dear Melancholy cũng được công bố. Tháng 5/2018, Abel thông báo sẽ cho ra mắt phần tiếp the của My Dear Melancholy tên We're Alone Together và nói rằng đây là phần thuộc 3 phần của album.

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Abel nói rằng Michael Jackson, Prince và R. Kelly là nguồn cảm hứng cho âm nhạc của mình. Anh cũng xem Michael Jackson là cảm hứng chính trong sự nghiệp âm nhạc của mình theo ca khúc "Dirty Diana" là một ví dụ. Anh cũng nói rằng giọng hát cao thé cũng mình là bị ảnh hưởng từ ca sĩ Aster Aweke. Anh nghe rất nhiều thể loại âm nhạc khác nhau bao gồm nhạc soul, quiet storm, hip-hop, funk, indie rock và post-punk.

Hầu hết các bài hát của Abel được sản xuất với phong cách nhạc tempo chậm rãi, bass nặng và nhiều âm hưởng vang. Abel nói rằng phong cách của mình bị ảnh hưởng từ Michael Jackson rất nhiều. Cũng như khơi gợi rất nhiều trí tò mò từ các nhà phê bình âm nhạc, anh chủ yếu hợp tác với nhà sản xuất nhạc Illangelo và Doc McKinney.

Lời ca khúc đơn giản nhưng sâu lắng của anh thường có chủ đề về việc tổn thương cũng như đương đầu với những vấn đề như tình dục, thuốc phiên và tiệc tùng. Paul MacInnes của tờ The Guardian cũng cho rằng bộ ba EP của anh là "về lúc tiệc tùng, tới sau buổi tiệc và buổi sáng hôm sau".

Abel cũng quảng bá rộng rãi các phong cách nhạc khác nhau và xem đó là nguồn cảm hứng cho âm nhạc của mình. Trong lúc làm album Starboy, Abel nói rằng David Bowie, Prince, The Smiths, Bad Brains, Talking Heads, DeBarge, 50 Cent, The Wu-Tang Clan và Eminem là nguồn cảm hứng cho album Starboy.

Những dự án khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt tour lưu diễn vòng quanh nước Mỹ của mình quảng bá cho Kiss Land, Abel hợp tác với hãng sản xuất bao cao su ONE phát tặng miễn phí phiên bản đặc biệt giới hạn ở những buổi biểu diễn của mình. Vỏ bao cao su in hình album cùng với hình đại diện Oxcy được in mặt còn lại.

Tháng 11/2015, để quảng bá tích cực cho Beauty Behind the Madness, anh hợp tác với PAX Labs cho ra đời thuốc lá điện tử PAX 2 được phép sử dụng ở các buổi biểu diễn của mình. Nhãn hiệu "XO" được in trên thân cũng như phát bài "The Hills" mỗi khi mở để sử dụng. Với giá 279 đô Mỹ cho bản bình thường thì bản giới hạn có giá 324 đô Mỹ. PAX cũng là nhà tài trợ cho tour lưu diễn và logo được đặt ở vị trí VIP. CMO của PAX là Richard Murphy cho biết "Âm nhạc và thời trang luôn đi song song với nhau ở PAX. Đây là cơ hội tuyệt vời để đưa phong cách của The Weeknd hợp nhất với công nghệ của chúng tôi".

Năm 2016, Abel thông báo về việc hợp tác với Puma với tư cách là đại sứ thương hiệu cho chiến dịch "Run the Streets" được ra mắt vào đầu tháng 11 với bộ sưu tập đặc biệt được ra mắt cùng thời điểm với album Starboy. Anh cũng dẫn chương trình khai trương một số cửa hàng pop-up cho bộ sưu tập "Starboy: Limited Capsule" được bày bán ở thị trường Bắc Mỹ bao gồm New York, Los Angeles, và Toronto. Với sự hợp tác này, Abel cũng cho ra mắt 3 bộ sưu tập tên PUMA X XO bao gồm áo thun, nón, quần nỉ, áo bomber và giày tên the Parallels.

Danh sách album[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “House of Balloons – The Weeknd”. Metacritic. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2012.
  2. ^ "Alone on the podium: The Weeknd becomes first artist to take over Billboard R&B chart". CBC Music, ngày 17 tháng 7 năm 2015.
  3. ^ “After Hours by The Weeknd reviews”. AnyDecentMusic?. Lưu trữ bản gốc 21 Tháng Ba năm 2020.
  4. ^ Trust, Gary (ngày 8 tháng 3 năm 2021). “Olivia Rodrigo's 'Drivers License' Leads Hot 100 for 8th Week, The Weeknd's 'Blinding Lights' Marks a Year in Top 10”. Billboard.
  5. ^ Aswad, Jem (ngày 30 tháng 11 năm 2020). “Bad Bunny, The Weeknd Top Spotify's Year-End 'Wrapped' Lists”. Variety.
  6. ^ Colly, Joe (ngày 29 tháng 3 năm 2011). “Album Reviews – The Weeknd – House of Balloons. Pitchfork Media. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2011.
  7. ^ Rob Markman (ngày 8 tháng 12 năm 2011). “Drake's Boy The Weeknd Drops My Favorite 2011 Album”. MTV. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2012.
  8. ^ “The Weeknd”. Bet.com. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2012.
  9. ^ “The Weeknd Partners With Republic Records”. Xxlmag.com. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2012.
  10. ^ “The Weeknd – Initiation”. Thesource.com. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2012.[liên kết hỏng]
  11. ^ a b c d Eells, Josh (ngày 21 tháng 10 năm 2015). “Sex, Drugs and R&B: Inside The Weeknd's Dark Twisted Fantasy”. Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2018.
  12. ^ a b c Caramanica, Jon (ngày 27 tháng 7 năm 2015). “Can The Weeknd Turn Himself into the Biggest Pop Star in the World?”. The New York Times Magazine. Lưu trữ bản gốc 13 tháng Mười năm 2015.
  13. ^ Mistry, Anupa (ngày 23 tháng 12 năm 2011). “Daily Disc: The Weeknd's 'Echoes Of Silence'. Toronto Standard. MeshSquared Ventures. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2019.
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên allmusicbio
  15. ^ Rivera, Joe (ngày 7 tháng 2 năm 2021). “Who is The Weeknd? Super Bowl 55 halftime show performer's songs, lyrics & more to know”. Sporting News. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2021.
  16. ^ “Is The Weeknd Ethiopian?”. Capital Xtra.
  17. ^ Ledbetter, Carly (ngày 11 tháng 2 năm 2016). “9 things You Need To Know About The Weeknd”. HuffPost. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  18. ^ Lamb, Karas (ngày 16 tháng 9 năm 2013). “The Weeknd Reveals The Origin Of His Name + More”. Okayplayer. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  19. ^ Ehrlich, Brenna (ngày 13 tháng 9 năm 2013). “The Weeknd Reveals How He Got His Name... And Where The 'E' Went”. MTV News. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  20. ^ Wagstaff, Keith; Swanson, David (ngày 26 tháng 10 năm 2015). “10 Things You Should Know About the Weeknd”. GQ. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2018.
  21. ^ HATHERLY, TARA (ngày 7 tháng 12 năm 2015). “Scarborough native The Weeknd scores seven Grammy nominations”. Metroland Media Group. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  22. ^ Mistry, Anupa (ngày 30 tháng 10 năm 2015). “Why The Weeknd is truly Toronto's very own”. The Globe and Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  23. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Abel - Do It
  24. ^ a b c Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Screwed
  25. ^ Caramanica, Jon (ngày 31 tháng 12 năm 2010). “Screams That Charmed, and Other Overlooked Highlights”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2015.
  26. ^ Fitzmaurice, Larry (ngày 4 tháng 3 năm 2011). “The Weeknd – What You Need. Pitchfork. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2011.
  27. ^ Stewart, Allison (ngày 14 tháng 3 năm 2011). “Singles File: Da Phuture, The Weeknd, Fever Ray”. The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2013.
  28. ^ Shepherd, Julianne Escobedo (ngày 23 tháng 3 năm 2011). “Love and Other Drugs: The Weeknd's Altered-State R&B”. WNET. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2020.
  29. ^ Leight, Elias (ngày 27 tháng 7 năm 2015). “9 Things We Learned From The New York Time Story On The Weeknd”. The Fader.
  30. ^ COX, CAILYN (ngày 5 tháng 12 năm 2016). “The Weeknd is hugely successful now but that wasn't always the case”. SHE Media.
  31. ^ a b MARSH, CALUM (ngày 16 tháng 2 năm 2021). “Everything We Know About The Weeknd Before He Blew Up”. Complex Networks.
  32. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :0
  33. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên house
  34. ^ Ramirez, Erika (ngày 21 tháng 3 năm 2011). “Say Hello to The Weeknd, Drake Co-Signs”. MTV News. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  35. ^ “25 best Canadian debut albums ever”. CBC Music. ngày 16 tháng 6 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2017.
  36. ^ “House of Balloons Reviews”. Metacritic. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  37. ^ “Polaris Music Prize”. Polaris Music Prize. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2014.
  38. ^ GlowRadio.ca presents: The Weeknd - what you need @ black student Association, University of Toronto. GlowRadio. ngày 7 tháng 4 năm 2011 – qua YouTube.
  39. ^ Ritchie, Kevin (ngày 25 tháng 7 năm 2011). “The Weeknd's perfect premiere”. NOW Toronto. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2011.
  40. ^ Fitzmaurice, Larry (ngày 3 tháng 7 năm 2011). “The Weeknd to Play Drake's OVO Festival”. Pitchfork. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  41. ^ Berry, Peter A. (ngày 16 tháng 11 năm 2017). “Drake Sets The Record Straight On How Much The Weeknd Wroteon Take Care Album”. XXL. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  42. ^ Lau, Melody (ngày 25 tháng 7 năm 2011). “Mysterious R&B singer sells out first show”. Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  43. ^ Cooper, Leonie (ngày 15 tháng 7 năm 2013). “The Weeknd says he's 'boring' in first ever interview”. NME.
  44. ^ Dunlevy, T'Cha (ngày 23 tháng 3 năm 2012). “365 days of Weeknd: We chart Abel Tesfaye's rise to fame a year after House of Balloons”. National Post. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2012.
  45. ^ “The Weeknd - The Noise”. Last.fm.
  46. ^ @theweeknd. “noise ep was bunch of songs leaked by salty producers and found AFTER HOB dropped. demo's written as a teen to get recognition. xo” (Tweet) – qua Twitter.