Black Panther: Chiến binh Báo Đen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Chiến binh Báo Đen

Áp phích chính thức của bộ phim tại Việt Nam
Thông tin phim
Đạo diễnRyan Coogler
Sản xuấtKevin Feige
Dựa trênBlack Panther
của Stan Lee
Diễn viên
Âm nhạcLudwig Göransson
Quay phimRachel Morrison
Dựng phim
  • Michael P. Shawver[1]
  • Claudia Castello[1]
Hãng sản xuất
Phát hànhWalt Disney Studios
Motion Pictures
Công chiếu
  • 29 tháng 1, 2018 (2018-01-29) (Dolby Theatre)
  • 23 tháng 2, 2018 (2018-02-23) (Việt Nam)
Độ dài134 phút[2]
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữTiếng Anh
Kinh phí$200 triệu-$210 triệu[3]
Doanh thu$1.350 tỷ [4]

Chiến binh Báo Đen (tiếng Anh: Black Panther) là một phim của điện ảnh Hoa Kỳ dựa trên nhân vật siêu anh hùng cùng tên của hãng Marvel Comics, sản xuất bởi Marvel Studios và phân phối bởi Walt Disney Studios Motion Pictures. Đây là bộ phim thứ 18 trong Vũ trụ Điện ảnh Marvel (MCU), đồng thời đánh dấu bộ phim siêu anh hùng da màu đầu tiên.

Bộ phim được đạo diễn bởi Ryan Coogler, với kịch bản của Joe Robert Cole, có sự tham gia của dàn diễn viên bao gồm: Chadwick Boseman, Michael B. Jordan, Lupita Nyong'o, Danai Gurira, Martin Freeman, Daniel Kaluuya, Letitia Wright, Winston Duke, Angela Bassett, Forest WhitakerAndy Serkis. Trong phim, T'Challa trở về quê nhà thừa kế ngai vàng Wakanda, nhưng phát hiện quyền lực của mình bị thách thức bởi một kẻ thù lâu năm trong một cuộc xung đột có quy mô toàn cầu.

Chiến binh Báo Đen ra mắt tại Los Angeles vào ngày 29 tháng 1 năm 2018 và được lên lịch ra rạp tại Hoa Kỳ vào ngày 16 tháng 2 năm 2018 dưới định dạng IMAX3D. Phim cũng phá kỷ lục để trở thành phim siêu anh hùng có lượng đặt vé sớm cao nhất mọi thời đại theo trang web Fandango. Phim khởi chiếu tại Việt Nam ngày 23 tháng 2 năm 2018. Phim nhận được rất nhiều đánh giá phê bình rất tích cực, với lời khen dành cho đạo diễn, thiết kế phục trang, các pha hành động và diễn xuất của dàn diễn viên; một số nhà phê bình còn coi đây là một trong những phim hay nhất của MCU và ghi nhận ảnh hưởng văn hóa của phim. Đặc biệt, phim này đạt 7 đề cử Giải Oscar năm 2019 và nhận 3 giải trong số đó, một điều chưa từng thấy đối với những phim siêu anh hùng được chuyển thể từ truyện tranh.

Tóm tắt nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Từ nhiều thế kỉ trước, đã xảy ra cuộc chiến tranh năm tộc người châu Phi gần thiên thạch có chứa Vibranium. Đã có một chiến binh nuốt phải Tâm Hình Thảo bị ảnh hưởng bởi kim loại trên và nhận được sức mạnh siêu nhiên, trở thành Chiến binh Báo Đen đầu tiên và trở thành vua. Ông đã thống nhất các bộ tộc trừ tộc Jabari, tạo nên quốc gia mang tên Wakanda. Người Wakanda dùng Vibranium đã phát triển công nghệ, đồng thời tự cô lập mình với thế giới như một "Thế giới thứ ba".

Trong khi làm việc tại Oakland, California vào cuối thế kỉ XX, hoàng tử N'Jobu nhận ra chính sách cô lập khỏi thế giới chỉ mang đến tác động tiêu cực cho Wakanda và thề sẽ chia sẻ công nghệ đó đến với thế giới. N'Jobu bắt tay với một tay buôn bán chợ đen là Ulysses Klaue để xâm nhập vào Wakanda và lấy đi một lượng lớn Vibranium.

Năm 1992, khi biết được việc làm của em trai mình, nhà vua T'Chaka đã tìm đến N'Jobu. Trước sự đe dọa sẽ giết Zuri, người bạn trung thành của mình, T'Chaka đã miễn cưỡng giết N'Jobu, đồng thời bỏ rơi Erik, con trai của N'Jobu nhằm che đậy người dân Wakanda khỏi sự thật.

Sau sự kiện trong Captain America: Nội chiến siêu anh hùng, khi T'Chaka chết dưới tay của Helmut Zemo, người con là T'Challa đã trở về Wakanda để tiếp tục điều hành đất nước. Sau khi làm việc với Okoye, thủ lĩnh của Đội quân Dora Milaje và người yêu cũ của mình là Nakia nhằm kí kết một hiệp định bí mật tại khu rừng Sambisa, Nigeria. Tại đây, anh được đoàn tụ với mẹ là nữ hoàng Ramonda và em gái, công chúa Shuri, đồng thời biết được rằng M'Baku, thủ lĩnh của bộ lạc Jabari đang thách đấu cho ngai vàng. Trận đấu diễn ra và T'Challa đã giành chiến thắng, giữ được ngôi vua mới.

Cũng trong thời điểm đó, Klaue và Erik Stevens (với biệt danh là Killmonger) đang trộm Vibranium ở Bảo tàng Vương Quốc Anh. Khi biết tin này, W'Baki, một người bạn của T'Challa, đồng thời mất đi người thân bởi những thương vụ trên đã thúc giục nhà vua phải đòi lại công bằng cho mình. T'Challa, Okoye và Nakia lên kế hoạch tập kích Klaue tại một sòng bài ở Busan, Hàn Quốc, nơi mà hắn sẽ bán đồ mình đã trộm cho một người mua không rõ danh tính. Kế hoạch đổ bể khi T'Challa nhận ra người mua là đặc vụ của CIA, Everett Ross. Như một điều tất yếu, Okoye buộc phải thay đổi kế hoạch, dẫn đến một vụ đấu súng xảy ra.

T'Challa, Shuri (lái chiếc Lexus tự động điều khiển ở Wakanda dưới định dạng 3 chiều), Ross, Nakia và Okoye đuổi theo Klaue dọc theo thành phố. Sau khi bắt được Klaue, T'Challa định giết hắn nhưng theo lời khuyên của Nakia và Okoye không nên manh động trước dư luận nước ngoài, anh lựa chọn bắt giam hắn tại nhà tù của CIA. Ngày hôm sau, khi đang bị tra hỏi, Klaue được cứu bởi Erik Stevens. Ross bị thương nặng khi cứu Nakia và phải đưa về Wakanda để chữa trị.

Sau khi phản bội và giết Klaue vì hắn giết bạn gái của mình, Killmonger mang xác Klaue tới Wakanda và thách đấu T'Challa nhằm giành lấy ngai vàng. Tại đây, Killmonger đã đánh bại và đẩy T'Challa xuống thác nước, rồi giết Zuri sau khi ông này khai ra nguyên nhân của vụ án năm xưa. Sau khi lên ngôi, để thực hiện kế hoạch của cha, Killmonger đã chuẩn bị vận chuyển vũ khí của Wakanda đi khắp thế giới, tới những thành phố lớn như New York, LondonHong Kong.

Nakia, Shuri, Ross và Hoàng hậu Ramonda chạy trốn đến bộ lạc Jabari để tìm kiếm cách chữa trị cho T'Challa (đã được bộ lạc Jabari tìm thấy trong tình trạng nguy kịch). Sau khi uống Tâm Hình Thảo được đưa bởi Nakia, T'Challa đã phục hồi và quay trở lại Wakanda cho trận tái đấu. Shuri, Nakia và Okoye cùng với đội quân Dora Milaje và Jabari phải chiến đấu với W'Kabi và quân đội Wakanda. Ross phải lái một chiếc phi thuyền để bắn hạ những chiếc máy bay chở Vibranium trước khi nó có thể rời khỏi đất nước.

T'Challa và Killmonger khi giao chiến đã rơi xuống miệng hố mà thiên thạch hàng triệu năm trước đã rơi xuống, nơi mà họ sử dụng sóng siêu thanh để làm phương tiện vận chuyển, nhưng cũng đồng thời làm bộ giáp của hai người trở nên vô dụng. Khi thấy áo giáp của Killmonger bị vô hiệu hóa, T'Challa đã lấy con dao găm đâm người em họ của mình. T'Challa sau đó muốn chữa trị cho Killmonger nhưng hắn từ chối, vì nếu còn sống, hắn sẽ bị cầm tù và hắn muốn chết như một người tự do. Sau đó, hắn rút dao găm khỏi ngực, chấp nhận cái chết.

Nhận ra mối hiểm họa trong chính sách tự cô lập của các đời vua trước, T'Challa đã thiết lập một Trung Tâm Cứu trợ nhân đạo ở Oakland, California tại khu căn hộ mà chính chú ruột của anh, N'Jobu đã bị giết. Anh chỉ định Shuri và Nakia để điều hành Trung Tâm Cứu trợ nhân đạo, đồng thời tiết lộ danh tính của mình với những đứa trẻ gần đó.

Ở cảnh mid-credits, T'Challa xuất hiện trước Liên Hợp Quốc tại toà nhà ở Vienna, tuyên bố sẽ chia sẻ tài nguyên Vbranium với thế giới, kết thúc sự tự cô lập. Trong cảnh after-credits, Bucky Barnes tỉnh dậy ở Wakanda. Với biệt danh Sói Trắng, Bucky đã thoát khỏi sự kiểm soát của HYDRA nhờ công nghệ của Shuri.

Hết phần cho biết trước nội dung của tác phẩm.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 1992, Wesley Snipes công khai ý định làm một bộ phim về Black Panther [5] và bắt đầu thực hiện nó vào tháng tám [6]. Snipes muốn làm nổi bật lên vẻ uy nghi của Châu Phi, điều mà ông thấy ít được miêu tả trong các bộ phim của Hollywood. Nguyên văn ông nói, "Tôi nghĩ Black Panther nói chuyện với tôi là vì tôi là người quý tộc, và ông là bức chân dung tương phản đại diện và miêu tả về người châu Phi, lịch sử châu Phi và những vương quốc vĩ đại của châu Phi." Ông đã bắt đầu công việc làm phim vào tháng 8. Tháng 7 kế tiếp, Snipes lên kế hoạch bắt đầu The Black Panther sau khi đóng trong Demolition Man và tháng tiếp theo ông bày tỏ sự quan tâm đến việc tiếp tục làm phim. Tháng 1 năm 1994, Snipes có cuộc đàm phán với Columbia Pictures để đóng Black Panther, và nhà đồng sáng lập Black Panther Stan Lee cũng gia nhập phim vào tháng 3; phim sau đó bước đầu phát triển vào tháng 5. Snipes có thảo luận với một vài biên kịch và đạo diễn về dự án, bao gồm Mario Van PeeblesJohn Singleton. Khi bộ phim không tiến triển vào tháng 1 năm 1996, Stan Lee giải thích rằng ông không hài lòng với kịch bản cho dự án.

Tiền kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2016, Coogler được xác nhận làm đạo diễn phim, và giải thích rằng ông lớn lên cùng với đọc truyện tranh, vì vậy Black Panther "chỉ mang tính cá nhân đối với tôi như hai bộ phim cuối cùng mà tôi có thể làm. Tôi cảm thấy thật may mắn khi có thể làm về thứ mà tôi yêu thích một lần nữa." Đồng ý đạo diễn phim sau khi bị Feige "thèm khát" trong nhiều tháng, Coogler khẳng định ông mang những cộng tác viên từ những bộ phim trước của ông để làm việc trong Black Panther để phân biệt phim so với những bộ phim khác của MCU mà thường "được quay, soạn nhạc và biên tập bởi những người cùng nhà". Những người ông mang về cộng tác cùng trong Black Panther có nhà quay phim của Fruitvale Station Rachel Morrison, cũng như nhà thiết kế sản xuất Hannah Beachler và nhà soạn nhạc Ludwig Göransson; tất cả đều từng làm việc cùng Coogler trong Fruitvale StationCreed.

Hậu kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối tháng 6 năm 2017, Sydelle Noel tiết lộ vừa được tuyển vai Xoliswa trong phim, một thành viên của Dora Milaje. Tháng 7 năm 2017, Moore nói Black Panther sẽ là một sự kết hợp giữa The Godfather và những bộ phim về James Bond.

Hiệu ứng kỹ xảo trong phim tạo ra bởi Industrial Light & Magic (ILM), Digital Domain, Double Negative, Luma Pictures, Mammal Studios, Method Studios, Rise Visual Effects Studios, Scanline VFX và Trixter.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Từ trái sang phải: NSX Kevin Feige, đạo diễn Ryan Coogler và các diễn viên Lupita Nyong'o, Michael B. Jordan, Danai Gurira, Chadwick Boseman trong buổi giới thiệu phim tại San Diego Comic-Con tháng 7/2016
  • Chadwick Boseman vai T'Challa / Báo Đen: Vua của một quốc gia châu Phi - Wakanda, người đã tăng cường sức mạnh của mình bằng cách uống Tâm Hình Thảo (Heart-Shaped Herb) - một loại thực vật chỉ có tại Wakanda kết hợp bộ giáp Báo Đen có khả năng chống đạn. Ở Đội trưởng Mỹ: Nội chiến siêu anh hùng, cha của T'Challa là T'Chaka chết trong 1 vụ đánh bom và T'Challa lên ngôi ngay khi còn chịu tang.
  • Michael B. Jordan vai N'Jadaka / Killmonger: một người rất thèm muốn ngai vàng của Wakanda và trả thù T'Challa vì T'Chaka đã giết bố của hắn là N'Jobu, em ruột của T'Chaka.
  • Lupita Nyong'o vai Nakia: người tình cũ của T'Challa và cũng là điệp viên tài năng của Wakanda.
  • Danai Gurira vai Okoye: thủ lĩnh của đội quân Dora Milaje của Wakanda, vốn có lòng trung thành tuyệt đối với mọi vua Wakanda đương nhiệm, bất kể đó là ai.
  • Letitia Wright vai Shuri: em gái của T'Challa và là thiên tài công nghệ vượt trội hơn Tony StarkBruce Banner.
  • Angela Bassett vai Hoàng hậu Ramonda: mẹ của T'Challa và Shuri.
  • Martin Freeman vai Everett Ross: 1 đặc vụ CIA, về sau thân thiết với T'Challa.
  • Forest Whitaker vai Zuri: bạn của vua T'Chaka.
  • Daniel Kaluuya vai W'Kabi
  • Andy Serkis vai Ulysses Klaue: tay buôn lậu Vibranium
  • Sterling K. Brown vai N'Jobu: cha của N'Jadaka và là em trai của T'Chaka
  • Atandwa KaniJohn Kani lần lượt vào vai vua T'Chaka lúc trẻ và lúc già

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ludwig Göransson được thuê sáng tác cho phần nhạc nền phim vào tháng 4 năm 2017. Sau khi đọc kịch bản, Ludwig Göransson quyết định đến châu Phi để nghiên cứu cho bộ phim [7]. Göransson đã tới Senegal và Nam Phi để thu âm từ các nhạc sĩ địa phương để hình thành phần "cơ bản" cho nhạc phim của mình. Kendrick Lamar sản xuất nhạc phim tuyển tập, mang tên Black Panther: The Album bên cạnh nhà sáng lập Top Dawg Entertainment Anthony Tiffith. Coogler chọn Lamar vào dự án vì "chủ đề nghệ thuật của tôi phù hợp với những gì chúng tôi khám phá trong phim." Ba đĩa đơn từ album được phát hành từ tháng 1 đến tháng 2, "All the Stars", "King's Dead" và "Pray for Me". The Album dự kiến được phát hành vào ngày 9 tháng 2 năm 2018.

Công chiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Phim có buổi ra mắt toàn cầu tại nhà hát Dolby Theatre ở Los Angeles vào ngày 29 tháng 1 năm 2018. Trước khi buổi chiếu ra mắt bắt đầu, Coogler đã nhận một sự hoan nghênh nồng nhiệt trước khi ông công bố dàn diễn viên của phim. Phim dự kiến công chiếu tại Anh Quốc vào 12 tháng 2 năm 2018, tại Hàn Quốc vào ngày 14 tháng 2 năm 2018, tại Hoa Kỳ ngày 16 tháng 2 năm 2018 và tại Việt Nam ngày 23 tháng 2 năm 2018 với định dạng IMAX3D. Bộ phim cũng sẽ được "phát hành xuyên quốc gia" tại châu Phi, lần đầu tiên với một bộ phim của Disney.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Strom, Marc (ngày 26 tháng 1 năm 2017). “Marvel Studios Begins Production On 'Black Panther'. Marvel.com. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017. 
  2. ^ Black Panther (12A)”. British Board of Film Classification. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2018. 
  3. ^ Setoodeh, Ramin (ngày 5 tháng 2 năm 2018). “Chadwick Boseman and Ryan Coogler on How ‘Black Panther’ Makes History”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2018. 
  4. ^ Black Panther tại Box Office Mojo
  5. ^ Carr, Jay (ngày 21 tháng 6 năm 1992). “Can penguin cones be far behind?”. The Boston Globe. 
  6. ^ Carr, Jay (ngày 30 tháng 8 năm 1992). “Tolkin to sit in director's chair”. The Boston Globe. 
  7. ^ Pearce, Sheldon (7 tháng 2 năm 2018). “How Black Panther Composer Ludwig Göransson Found the Sound of Wakanda”. Pitchfork. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018. 

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “VTV lần 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “SGGP” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “chiếu phim quốc gia” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Synopsis” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Snipes” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “PersallAug93” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “BrodieJan94” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “PittsMar94” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “LoveceMay94” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “SnipesTHRJan2018” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “NyeJan96” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Coogler2” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “CooglerReaction” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “CooglerReaction2” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “BeachlerMorrison” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “VultureApril2017” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Noel” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Noel2” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “EWCoverJuly2017” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “ArtofVFX” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “LamarSoundtrack” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “KingsDead” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “PrayForMe” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “USATodayJan2018” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “LAPremiere” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “THRLAPremiere” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “UKRelease” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “SKRelease” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Phase3Update” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “IMAXRelease” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “3DRelease” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “BlackCaucusPanel” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “HeartShapedHerb” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “ColeAug2016” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Oct2014Event” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Boseman” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “ColliderJan2018” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Black Panther

Bản mẫu:Ryan Coogler