Ma tốc độ: Linh hồn báo thù

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ma tốc độ: Linh hồn báo thù
Tập tin:Ghost Rider 2 Poster.jpg
Theatrical release poster
Đạo diễnNeveldine/Taylor
Sản xuất
Kịch bản
Cốt truyệnDavid S. Goyer
Dựa trênJohnny Blaze
của 
Diễn viên
Âm nhạcDavid Sardy
Quay phimBrandon Trost
Dựng phimBrian Berdan
Hãng sản xuất
Phát hànhColumbia Pictures[2] (thông qua Sony Pictures Releasing[4])
Công chiếu
  • 11 tháng 12 năm 2011 (2011-12-11) (Butt-Numb-A-Thon)
  • 17 tháng 2 năm 2012 (2012-02-17) (Hoa Kỳ)
Độ dài
95 phút[5]
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữTiếng Anh[2]
Kinh phí57–75 triệu đô la Mỹ[4][6]
Doanh thu132.6 triệu đô la Mỹ[4]

Ma tốc độ: Linh hồn báo thù (tựa gốc tiếng Anh: Ghost Rider: Spirit of Vengeance) là một bộ phim siêu anh hùng của Mỹ năm 2012 dựa trên phản anh hùng Ghost Rider của Marvel Comics. Đây là phần tiếp theo độc lập của bộ phim Ma tốc độ năm 2007[7] và có sự tham gia của Nicolas Cage vào vai Johnny Blaze / Ghost Rider[8] với các vai phụ do Ciarán Hinds, Violante Placido, Johnny Whitworth, Christopher Lambert, và Idris Elba. Phim do Mark Neveldine và Brian Taylor làm đạo diễn, kịch bản do Scott M. Gimple, Seth Hoffman và David S. Goyer. Được phát hành công khai trong một đêm vào ngày 11 tháng 12 năm 2011, Ma tốc độ: Linh hồn báo thù đã phát hành thương mại rộng rãi vào ngày 17 tháng 2 năm 2012 ở định dạng 2D và 3D. Đây là bộ phim thứ hai trong số hai bộ phim được sản xuất theo biểu ngữ sản xuất của Marvel Knight, tập trung vào các bộ phim dành cho khán giả trưởng thành.

Bộ phim trải qua sự đón nhận của giới phê bình kém hơn bộ phim đầu tiên, với những lời chỉ trích nhắm vào kịch bản, CGI và diễn xuất.  Phim thu về hơn 132 triệu đô la, so với kinh phí sản xuất 57–75 triệu đô la.[4]

Nicolas Cage nói rằng anh đã "xong việc" với các bộ phim Ghost Rider và phần tiếp theo đã được lên kế hoạch bị hủy bỏ. Quyền làm phim đối với nhân vật này đã được hoàn lại cho Marvel Studios ngay sau đó,[9] và phiên bản Robbie Reyes của Ghost Rider xuất hiện trong Agents of S.H.I.E.L.D.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Johnny Blaze (hay còn gọi là Ghost Rider) đến vùng Đông Âu ở ẩn và đấu tranh để trấn áp lời nguyền anh phải chịu trong phần 1 - là thợ săn linh hồn của quỷ dữ. Tại đây, Johnny được một giáo phái bí mật của nhà thờ tuyển dụng để cứu một cậu bé(Danny Ketch) thoát khỏi ma quỷ,cậu bé là con của Quỷ dữ vì vậy nếu hắn nhập được hồn vào thân xác cậu thì hắn sẽ trở nên bất bại. Ban đầu, Johnny miễn cưỡng trở lại với sức mạnh của Ghost Rider. Nhưng rồi anh nhận ra, đây là cách duy nhất để bảo vệ cậu bé, đồng thời có thể giải thoát bản thân khỏi lời nguyền mãi mãi nhưng rồi cuối cùng anh cũng nhận ra lời nguyền của anh là sức mạnh của trời phú ban cho anh và anh sẽ giữ lại nó để có thể bảo vệ những người vô tội. Nhân vật Danny Ketch chính là Ghost Rider thứ 2 khi cậu lớn lên.

Các Rider trong phim sử dụng một chiếc xe đặc biệt: Bagger 288, xe đất lớn nhất thế giới.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ghost Rider: Spirit of Vengeance”. AllMovie. Truy cập 29 Tháng sáu năm 2018.
  2. ^ a b c d “Ghost Rider: Spirit of Vengeance”. American Film Institute. Truy cập 3 Tháng sáu năm 2017.
  3. ^ “Ghost Rider: Spirit of Vengeance”. Variety. 17 Tháng 2 năm 2012. Truy cập 31 Tháng tám năm 2018.
  4. ^ a b c d Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên mojo
  5. ^ GHOST RIDER – SPIRIT OF VENGEANCE (12A)”. British Board of Film Classification. 10 Tháng 1 năm 2012. Truy cập 26 Tháng Một năm 2015.
  6. ^ “Leaner Budget for 'Ghost Rider 2' Gets Greenlight from Sony and Hyde Park”. The Wrap. 10 Tháng 10 năm 2010. Truy cập 16 tháng Mười năm 2011.
  7. ^ Stewart, Andrew (12 Tháng 2 năm 1012). 'Ghost Rider' expected to spark B.O.”. Variety. Truy cập 15 Tháng hai năm 2018.
  8. ^ 'Ghost Rider: Spirit of Vengeance' Set for February 17, 2012”. SuperheroHype.com. CraveOnline. 17 Tháng 9 năm 2010. Truy cập 17 Tháng hai năm 2012.
  9. ^ Shaw-Williams, Hannah (6 Tháng 5 năm 2013). 'Ghost Rider' Movie Rights Return to Marvel - Will We See a Reboot Soon?”. Screen Rant. Truy cập 29 Tháng sáu năm 2018.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]