Vũ trụ Điện ảnh Marvel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Vũ trụ Điện ảnh Marvel
Tiêu đề của Vũ trụ Điện ảnh Marvel từ Marvel Studios: Assembling a Universe (2014).
Người sáng tạo Marvel Studios
Tác phẩm gốc Người Sắt (2008)
Ấn phẩm
Truyện tranh Truyện tranh đi kèm
Vũ trụ Điện ảnh Marvel
Phim và truyền hình
Phim điện ảnh Phim của Vũ trụ Điện ảnh Marvel
Phim ngắn Marvel One-Shots
Loạt phim truyền hình Phim truyền hình của
Vũ trụ Điện ảnh Marvel
Âm thanh
Nhạc gốc Âm nhạc của Vũ trụ Điện ảnh Marvel

Vũ trụ Điện ảnh Marvel (tiếng Anh: Marvel Cinematic Universe hay viết tắt là MCU) là một thương hiệu truyền thông và một vũ trụ chia sẻ hư cấu, tập trung vào một loạt các bộ phim siêu anh hùng do Marvel Studios sản xuất độc lập và dựa trên các nhân vật trong những ấn phẩm của Marvel Comics. Thương hiệu mở rộng bao gồm những mảng truyện tranh, phim ngắn và phim truyền hình. Vũ trụ chia sẻ gần giống với Vũ trụ Marvel gốc trong truyện tranh, được thành lập bằng cách vượt qua những yếu tố cốt truyện, nội dung, diễn viên và nhân vật phổ biến. Clark Gregg xuất hiện nhiều nhất trong các thương hiệu khi đóng vai Phil Coulson, một nhân vật gốc thuộc MCU.

Vũ trụ hiện có 3 giai đoạn (Phase). Giai đoạn 1 ( còn gọi là Avengers Assemble) bắt đầu với Người Sắt (2008) và kết thúc với Biệt đội siêu anh hùng (2012). Giai đoạn 2 bắt đầu với Người Sắt 3 (2013) và kết thúc với Người Kiến (2015). Giai đoạn 3 bắt đầu với Đội trưởng Mỹ: Nội chiến siêu anh hùng (2016) và sẽ kết thúc bằng Avengers 4

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]


Phim Ngày công chiếu Đạo diễn Biên kịch Sản xuất Tình trạng
Giai đoạn 1: Anh hùng hội tụ[1]
Người Sắt 2 tháng 5, 2008 (2008-05-02) Jon Favreau[2] Mark Fergus, Hawk Ostby, Art Marcum và Matt Holloway[2][3] Avi AradKevin Feige Đã phát hành
Người khổng lồ xanh phi thường 13 tháng 6, 2008 (2008-06-13) Louis Leterrier[4] Zak Penn[5] Avi Arad, Gale Anne Hurd
và Kevin Feige
Người Sắt 2 7 tháng 5, 2010 (2010-05-07) Jon Favreau[6] Justin Theroux[7] Kevin Feige
Thor 6 tháng 5, 2011 (2011-05-06) Kenneth Branagh[8] Ashley Edward Miller, Zack StentzDon Payne[9]
Đội trưởng Mỹ: Kẻ báo thù đầu tiên 22 tháng 7, 2011 (2011-07-22) Joe Johnston[10] Christopher Markus và Stephen McFeely[11]
Biệt đội siêu anh hùng 4 tháng 5, 2012 (2012-05-04) Joss Whedon[12]
Giai đoạn 2[13][14]
Người Sắt 3 3 tháng 5, 2013 (2013-05-03) Shane Black[15] Drew Pearce và Shane Black[15][16] Kevin Feige Đã phát hành
Thor: Thế giới Bóng tối 8 tháng 11, 2013 (2013-11-08) Alan Taylor[17] Christopher Yost, Christopher Markus và Stephen McFeely[18]
Đội trưởng Mỹ: Chiến binh mùa đông 4 tháng 4, 2014 (2014-04-04) Anthony và Joe Russo[19] Christopher Markus và Stephen McFeely[20]
Vệ binh dải Ngân Hà 1 tháng 8, 2014 (2014-08-01) James Gunn[21] James Gunn và Nicole Perlman[22]
Biệt đội siêu anh hùng: Đế chế Ultron 1 tháng 5, 2015 (2015-05-01) Joss Whedon[23]
Người kiến 17 tháng 7, 2015 (2015-07-17) Peyton Reed[24] Edgar Wright, Joe Cornish, Adam McKayPaul Rudd[25]
Giai đoạn 3[13][26]
Đội trưởng Mỹ: Nội chiến siêu anh hùng 6 tháng 5, 2016 (2016-05-06) Anthony và Joe Russo[27] Christopher Markus và Stephen McFeely[27] Kevin Feige Đã phát hành
Phù thủy tối thượng 4 tháng 11, 2016 (2016-11-04) Scott Derrickson[28] Jon Spaihts, Scott Derrickson và C. Robert Cargill[29]
Vệ binh dải Ngân Hà 2 5 tháng 5, 2017 (2017-05-05) James Gunn[22]
Người Nhện: Trở về nhà 7 tháng 7, 2017 (2017-07-07) Jon Watts[30] Jonathan Goldstein, John Francis Daley, Jon Watts,

Christopher Ford, Chris McKenna và Erik Sommers[31]

Kevin Feige và Amy Pascal
Thor: Ragnarok 3 tháng 11, 2017 (2017-11-03) Taika Waititi[32] Eric Pearson, Craig Kyle và Christopher Yost[33] Kevin Feige
Chiến binh Báo Đen 16 tháng 2, 2018 (2018-02-16) Ryan Coogler[34]
  1. Ryan Coogler và Joe Robert Cole[35][36]
Biệt Đội Siêu Anh Hùng 3:Cuộc Chiến Vô Cực 25 tháng 4,2018 Anthony và Joe Russo Christopher Markus và Stephen McFeely Kevin Feige Đã Phát hành
Người kiến và chiến binh ong 6 tháng 7, 2018 (2018-07-06) Peyton Reed[37] Chris McKenna, Erik Sommers, Andrew Barrer,

Gabriel Ferrari và Paul Rudd[38]

Kevin Feige Sắp Phát Hành trong tương lai
Captain Marvel 8 tháng 3, 2019 (2019-03-08) Anna Boden và Ryan Fleck[39] Geneva Robertson-Dworet[40] Kevin Feige
Avengers 4 3 tháng 5, 2019 (2019-05-03)[41] Anthony và Joe Russo[42] Christopher Markus và Stephen McFeely[43] Kevin Feige
Sau Giai đoạn 3
Người Nhện: Trở về nhà phần 2 5 tháng 7, 2019 (2019-07-05)[44] Jon Watts[45] TBA Kevin Feige và Amy Pascal Tiền kỳ[46]

Diễn viên và nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật Phim
Người Sắt (2008) Người khổng lồ xanh phi thường (2008) Người Sắt 2 (2010) Đội trưởng Mỹ: Kẻ báo thù đầu tiên (2011) Thor (2011) Biệt đội siêu anh hùng (2012) Người Sắt 3 (2013) Thor: Thế giới bóng tối (2013) Đội trưởng Mỹ: Chiến binh mùa đông (2014)
Người Sắt

Tony Stark

Robert Downey Jr. Robert Downey Jr. Robert Downey Jr.
Hulk

Bruce Banner

Edward Norton Mark Ruffalo
Đội trưởng MỹSteve Rogers Chris Evans Chris Evans Chris Evans
Thor Chris Hemsworth Chris Hemworrth
Mắt Ưng

Clint Barton

Jeremy Renner
Góa phụ đen

Natasha Romanoff

Scarlett Johansson Scarlett Johansson Scarlett Johansson
Doctor Strange Doctor Strange Benedict Cumberbatch

Nội dung[47][sửa | sửa mã nguồn]

Phase One: Anh hùng hội tụ[sửa | sửa mã nguồn]

Người Sắt (2008)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Nhà thiên tài, tỉ phú, tay chơi Tony Stark bị bắt cóc và cầm tù bởi tổ chức khủng bố Ten Rings, anh đã tạo ra một bộ giáp để thoát ra. Stark sau đó trở về Hoa Kỳ và thề rằng sẽ bảo vệ mọi người trong bộ giáp Iron Man. Tuy nhiên, anh phải đối đầu với Obadiah Stane, một trụ cột trong công ty có dã tâm chiếm đoạt tập đoàn Stark bằng cách tạo ra bộ giáp Iron Monger.

Kết cục: Obadiah Stane chết. Tony Stark công bố mình chính là Iron Man.

Sự kiện lớn: Giới thiệu Tony Stark, Pepper Potts (bạn gái Tony Stark), JARVIS (trí thông minh nhân tạo của Stark), Happy Hogan, trung tá James "Rhodey" Rhodes, Obadiah Stane, đặc vụ Phil Coulson, tổ chức Ten Rings, Nick Fury.

Cảnh sau credits: Tony Stark trở về nhà và gặp Nick Fury, giám đốc S.H.I.E.L.D. Sau khi thông báo cho Stark biết anh không phải siêu anh hùng duy nhất trên thế giới, Fury đã đề cập đến chương trình Avenger.

The Incredible Hulk (2008)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Dựa theo những ghi chép cũ, đại tướng Thaddeus "Thunderbolt" Ross muốn gây dựng lại chương trình siêu chiến binh nhờ vào sự giúp đỡ của nhà khoa học Bruce Banner. Khi thí nghiệm thất bại và Bruce Banner bị nhiễm tia gamma, anh bị biến thành Hulk bất cứ khi nào nhịp tim của mình tăng cao. Banner bỏ trốn và Ross cho quân đội săn lùng anh, trong đó có một lính đặc nhiệm tên Emil Blonsky. Ngưỡng mộ Hulk, Blonsky tiêm máu của Banner và biến thành quái vật Abomination.

Kết quả: Blonsky bị tống giam, Bruce Banner tiếp tục ẩn mình và tạm rời xa người yêu là Betty Ross (con gái tướng Ross).

Sự kiện lớn: Giới thiệu Bruce Banner (Hulk) cùng tướng Ross, Emil Blonsky (Abomination), Betty Ross và Samuel Sterns (Leader).

Cảnh sau credits: Tony Stark tìm đến tướng Ross tại một quán rượu.

Người Sắt 2 (2010)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Là siêu anh hùng nổi tiếng toàn thế giới, Tony Stark trở thành mục tiêu của cả quân đội Hoa Kỳ và những kẻ ác muốn cướp lấy công nghệ của anh – kể cả tay kỹ sư thiên tài đối thủ Ivan Vanko (Whiplash). Nhà công nghiệp Justin Hammer tài trợ cho Vanko để tạo ra các bộ giáp đối mặt với Stark, nhưng hắn lại có kế hoạch riêng của mình. Trong khi đó, Black Widow được Nick Fury gài vào để theo dõi Stark, và bạn thân của anh là Rhodey trở thành siêu anh hùng War Machine.

Kết cục: Ivan Vanko chết, Justin Hammer vào tù, Stark trở thành người cố vấn cho S.H.I.E.L.D.

Sự kiện lớn: Giới thiệu Black Widow, thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Stern, Ivan Vanko và Justin Hammer.

Cảnh sau credits: Đặc vụ Coulson báo cáo với tổ chức sau khi tìm ra búa của Thor ở New Mexico.

Thor (2011)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Dù là một chiến binh dũng cảm và hùng mạnh của Asgard, Thor lại là một người lãnh đạo kiêu ngạo. Tính nóng nảy và hấp tấp của Thor đã khiến vua cha Odin tước bỏ sức mạnh cùng búa thần Mjolnir của con mình, trước khi đày anh xuống Trái đất (Midgard). Thor làm quen với một nhóm người phàm ở New Mexico, yêu nhà khoa học Jane Foster và dần học được sự khiêm tốn. Trong lúc đó ở Asgard, Odin chìm vào giấc ngủ còn Loki biết được mình không phải con ruột của Odin. Hắn đưa cỗ máy Destroyer đến Trái đất để sát hại anh mình.

Kết cục: Thor có lại năng lực quay về Asgard đánh nhau với Loki. Loki mất tích trong không gian, cầu Bifrost bị phá hỏng.

Sự kiện lớn: Giới thiệu nhiều nhân vật như Thor, Jane Foster, Loki, Hawkeye, tiến sĩ Erik Selvig, Odin, Frigga, Heimdall, Lady Sif, nhóm Warriors Three (Volstagg, Hogun, Fandral), cùng khái niệm về Chín Cõi Giới và cầu Bifrost.

Cảnh sau credits: Nick Fury đưa tiến sĩ Erik Selvig đi tham quan một cơ sở của S.H.I.E.L.D, nơi đang giữ khối Tesseract. Loki xuất hiện trong bóng tối và đang điều khiển tiến sĩ Erik Selvig đồng ý nghiên cứu khối lập phương.

Captain America: The First Avenger (2011)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Để tiêu diệt phe Trục trong Thế Chiến Thứ 2, quân đội Mỹ đã tạo ra dự án Siêu Chiến Binh và người được chọn lựa là Steve Rogers, một chàng trai gầy gò ốm yếu với trái tim quả cảm. Quá trình chuyển đổi thành công, Rogers trở thành Captain America - một biểu tượng cho hy vọng của phe Đồng Minh. Anh cùng các đồng đội săn lùng Red Skull, thủ lĩnh của tổ chức xấu xa HYDRA. Hắn sở hữu một khối lập phương đầy nguy hiểm có tên Tesseract, đó chính là Space Stone (Viên đá Vô cực Không gian).

Kết cục: Bạn thân của Steve Rogers là Bucky rơi xuống vực. Red Skull được xem như mất mạng. Captain America bị đóng băng ở nơi hoang vu. Tesseract (Space Stone) được Howard Stark thu giữ. Nhiều thập kỷ sau, Steve Rogers được tìm thấy và đánh thức ở thời hiện đại.

Sự kiện lớn: Giới thiệu Steve Rogers (Captain America), khối Tesseract (Space Stone), Howard Stark, James Buchanan "Bucky" Barnes, Peggy Carter, tiểu đội Howling Commandos, Red Skull, tiến sĩ Arnim Zola.

Cảnh sau credits: Nick Fury mời Steve Rogers tham gia Biệt đội Avengers (Biệt đội Siêu Anh hùng).

The Avengers (2012)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Nhận lệnh của Thanos, Loki đến Trái Đất qua cánh cổng do khối Tesseract (Space Stone) mở ra. Hắn chiếm Tesseract và âm mưu mở ra một cánh cổng lớn hơn để đưa binh đoàn Chitauri đến. Để đối đầu mối hiểm họa, Nick Fury tập hợp Biệt đội Avengers (Biệt đội Siêu Anh hùng) gồm: Iron Man, Captain America, Hulk, Thor, Black Widow và Hawkeye. Vượt qua các bất đồng, những anh hùng hùng mạnh nhất Trái đất đã sát cánh cùng nhau để chống lại đội quân của Loki.

Kết quả: Đặc vụ Coulson hy sinh. Loki bị Thor bắt giải về Asgard. Biệt đội Avengers chính thức được thành lập.

Sự kiện lớn: Giới thiệu Thanos và Maria Hill. Trận chiến ở New York sẽ là sự kiện tiếp nối đến giai đoạn 2, cùng với việc Thanos tìm kiếm các Viên đá Vô cực.

Cảnh giữa credits: 1 người của Black Order báo cáo với Thanos về thất bại của Loki.

Cảnh sau credits: Sau trận chiến ở New York, Biệt đội Avengers cùng nhau ăn món shawarma.

Phase Two[sửa | sửa mã nguồn]

Iron Man 3 (2013)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Tony Stark vẫn còn bị ám ảnh bởi sự kiện trong The Avengers (2012) và miệt mài chế tạo các bộ giáp để bảo vệ mình và những người thân yêu. Cùng lúc đó, tên khủng bố Mandarin liên tục thực hiện các vụ đánh bom bằng công nghệ Extremis và làm bị thương Happy Hogan, bạn thân của Stark. Stark thách thức Mandarin và bị hắn cho người đánh sập nhà. Sau khi thoát chết, Tony Stark điều tra và biết kẻ đứng sau tất cả là khoa học gia Aldrich Killian, còn Mandarin kia chỉ là một diễn viên đóng giả.

Kết cục: Aldrich Killian chết, tên Mandarin giả vào tù, Stark phẫu thuật để lấy hết các mảnh vỡ gần tim từ vụ đánh bom trong phần một.

Sự kiện lớn: Giới thiệu Mandarin, Aldrich Killian, nữ khoa học gia Maya Hansen, tổ chức Advanced Idea Mechanics, virus Extremis, War Machine được đổi tên thành Iron Patriot (trong một thời gian ngắn), Stark không còn phải mang lò phản ứng ở ngực nữa.

Cảnh cuối credits: Tony Stark kể lại chuyện cho Bruce Banner nhưng anh này ngủ gục.

Thor: The Dark World (2013)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Sau thất bại, Loki bị nhốt trong buồng giam ở Asgard. Trong lúc đó, một mối đe dọa từ thời cổ đại lại trỗi dậy, những người Dark Elf do Malekith lãnh đạo. Malekith tìm lại được Aether, đó chính là Reality Stone (Viên đá Vô cực Thực tại) và âm mưu sử dụng nó để phá hủy Chín Cõi Giới. Thor phải hợp tác với Loki và những người bạn ở Trái đất để ngăn chặn hắn.

Kết cục: Malekith chết, Loki giả chết rồi quay về Asgard, giả dạng Odin để làm vua, Thor quyết định ở lại Trái đất với Jane Foster.

Sự kiện lớn: Giới thiệu Malekith và khối Aether (Reality Stone). Frigga (mẹ Thor) chết, Odin được cho là đã chết.

Cảnh giữa credits: Volstagg và Sif đưa Aether đến gửi ở chỗ The Collector (một người sống ở một hành tinh xa trong vũ trụ, thích sưu tầm các vật quý hiếm).

Cảnh sau credits: Thor trở về Trái đất với Jane. Ở London, một con quái vật bị sổng ra trong trận chiến đang tung hoành.

Captain America: The Winter Soldier (2014)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Captain America (giờ là một chỉ huy của S.H.I.E.L.D) cùng với Black Widow thực hiện thành công nhiều nhiệm vụ. Thế nhưng sau khi Nick Fury bị tấn công, Steve Rogers nhận ra S.H.I.E.L.D đã bị các đặc vụ của HYDRA thâm nhập hàng chục năm nay. Sát thủ nguy hiểm nhất của HYDRA là Winter Soldier (nguyên là bạn cũ Bucky của Steve Rogers). Bucky đã không chết hồi Thế chiến thứ 2 mà bị HYDRA bắt về để lập trình lại. Cùng với Black Widow và người bạn mới quen Falcon, Captain America quyết tâm thanh lọc S.H.I.E.L.D.

Kết cục: Lãnh đạo HYDRA là Alexander Pierce bỏ mạng, một đặc vụ quan trọng của HYDRA là Brock Rumlow (Crossbones) trọng thương. S.H.I.E.L.D tạm thời giải thể, Bucky dần nhớ ra người bạn cũ của mình. Nick Fury tạm ẩn thân.

Sự kiện: Giới thiệu Falcon, Brock Rumlow và Sharon Carter (cháu của Peggy Carter).

Cảnh giữa credits: Wolfgang von Strucker thăm một phòng thí nghiệm của HYDRA nơi giam giữ Quicksilver và Scarlet Witch.

Cảnh sau credits: Bucky thăm viện bảo tàng Thế chiến và dần nhớ về mình.

Guardians Of The Galaxy (2014)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Peter Quill bị bắt khỏi Trái đất năm 1988, từ đó anh trở thành một tên hải tặc không gian với biệt danh Star-Lord. Trong một nhiệm vụ, Quill tìm được một quả cầu, bên trong là Power Stone (Viên đá Vô cực Sức mạnh), nhưng rồi anh lại bị bắt ở hành tinh Xandar của Nova Corps (một tổ chức gìn giữ hòa bình trong vũ trụ). Quill cùng các bạn tù Gamora, Rocket Racoon, Groot, Drax cùng thoát ra. Họ phải ngăn cản âm mưu của tên chiến binh Kree là Ronan, kẻ muốn dùng quả cầu để hủy diệt Xandar.

Kết cục: Groot hy sinh, Ronan chết, Power Stone được tập đoàn Nova Corps cất giữ. Quill và các bạn trở thành nhóm Vệ binh dải Ngân hà. Rocket lấy cành cây của Groot trồng và sinh ra Baby Groot.

Sự kiện: Giới thiệu Quill, Rocket Raccoon, Groot, Drax the Destroyer, Yondu Udonta và Nova Prime, cùng hai con gái của Thanos là Gamora và Nebula. The Collector tái xuất để tiết lộ quả cầu là Power Stone.

Cảnh sau credits: The Collector ngồi trong đống đổ nát với Cosmo the Spacedog và Howard the Duck.

Avengers: Age Of Ultron (2015)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Đội Avengers săn lùng tàn dư HYDRA và thu giữ cây trượng của Loki, bên trong là Mind Stone (Viên đá Vô cực Tâm trí). Tony Stark sử dụng cây trượng cho chương trình gìn giữ hòa bình Ultron mà anh tạo ra. Thế nhưng thử nghiệm này lại tạo ra một trí tuệ nhân tạo hung ác muốn thanh trừng cả thế giới. Ultron hợp tác với hai kẻ có siêu năng lực là Scarlet Witch và Quicksilver để thực hiện kế hoạch của mình.

Kết cục: Ultron bị tiêu diệt, Vision được tạo ra với Mind Stone trên trán. Quicksilver chết, Scarlet Witch tham gia đội Avengers. Thành phố Sokovia nơi diễn ra trận chiến cuối cùng bị phá hủy. Thor trở về Asgard còn Hulk bỏ đội Avengers để ẩn thân.

Sự kiện: Giới thiệu các nhân vật Ultron, Scarlet Witch, Quicksilver, Vision.

Cảnh giữa credits: Thanos quyết định tự mình ra tay và mang Infinity Gauntlet (Găng tay Vô cực) nhưng chưa gắn viên đá nào.

Người Kiến (2015)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Tên trộm hoàn lương Scott Lang vừa được thả khỏi tù, nhưng không thể kiếm một việc làm ổn định. Tình cờ anh gặp được nhà khoa học Hank Pym và được ông trao cho bộ giáp Ant-Man có khả năng thu nhỏ. Cùng con gái Hank Pym là Hope van Dyne, Scott Lang tìm cách cướp một vũ khí nguy hiểm từ tay Darren Cross (Yellowjacket), học trò cũ của Pym.

Kết cục: Darren Cross chết, Hope được cha giao cho bộ giáp The Wasp.

Sự kiện: Giới thiệu Pym, Lang, Hope van Dyne, tay trộm Luis. Giới thiệu về Quantum Realm.

Phase Three[sửa | sửa mã nguồn]

Đội trưởng Mỹ: Nội Chiến Siêu Anh Hùng (2016)[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt: Do các sự kiện trước đó, chính phủ đưa ra Hiệp ước Sokovia để kiểm soát các siêu anh hùng. Captain America (phe tự do) và Iron Man (phe chính phủ) mâu thuẫn sâu sắc trong vấn đề này. Có một vụ nổ bom ở Liên Hiệp Quốc và đối tượng tình nghi là Winter Soldier. Khi bảo vệ bạn mình, Captain America phát hiện ra một âm mưu to lớn hơn. Một trận chiến nổ ra giữa nhóm của Captain America bao gồm Captain America, Winter Soldier, Falcon, Ant-Man, Scarlet Witch, Hawkeye và nhóm của Iron Man gồm Iron Man, War Machine, Vision, Spider-Man, Black Panther, Black Widow. Thế nhưng tất cả chỉ là âm mưu của kẻ phản diện Zemo để các siêu anh hùng đấu đá lẫn nhau.

Kết cục: Zemo bị bắt giữ, War Machine bị liệt. Đội Avengers bị chia rẽ, nhóm của Captain America trở thành các siêu anh hùng hoạt động ngầm. Bucky tình nguyện đóng băng ở chỗ Black Panther cho đến khi có cách chữa trị khỏi sự khống chế của HYDRA.

Sự kiện: Giới thiệu Black Panther và Spider-Man. Tướng Ross quay trở lại.

Phù Thuỷ Tối Thượng (2016)[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Kathmandu, Nepal, Kaecilius và đám học trò đột nhập vào thư viện chặt đầu người thủ thư và lấy vài trang sách của Cổ Lão Nhân, một nữ pháp sư già đã dạy cho mọi học trò ở Kamar-Taj, trong đó có Kaecilius. Khi bị bà phát hiện, cả nhóm chạy ra ngoài và đã trốn thoát khỏi tay bà.

Tại New York, Stephen Strange, một bác sĩ giải phẫu thần kinh nổi tiếng nhưng hay tự cao, bị tai nạn ô tô khiến anh ta bị hỏng đôi tay. Các bác sĩ đã phẫu thuật thành công và nói rằng Strange cần thời gian để hồi phục nhưng anh ta không đồng ý. Một ngày nọ, khi đi trị liệu vật lý, Strange được kể về trường hợp của bệnh nhân tên là Jonathan Pangborn, anh ta từng là một người tàn phế, "chỉ lành lặn chắc cái đầu" nhưng đã được chữa lành bằng một phương pháp kì diệu. Strange đến gặp Pangborn, anh ta kể về một nơi có tên là Kamar-Taj, nơi tồn tại những thánh nhân cùng với phép thuật tâm linh. Strange lên đường đi tìm Kamar-Taj, trên đường đi, anh ta bị tấn công bởi một băng cướp trước khi được pháp sư Mordo cứu. Sau đó, Mordo dẫn Strange đến Kamar-Taj, nơi anh được gặp Cổ Lão Nhân. Strange được truyền dạy rất nhiều kiến thức về võ thuật cũng như phép thuật và kĩ năng của anh ngày một tiến bộ. Trong một lần vào thư viện, Strange tìm đọc quyển sách của Cagliostro, trong đó có trang viết về con mắt của pháp sư tên là Agamotto và con quỷ Dormammu, kẻ được Kaecilius tôn thờ. Strange thử đeo vòng cổ gắn con mắt lên, Con mắt của Agamotto (Viên đá vô cực Thời Gian) phát ra ánh sáng xanh lá , nó có khả năng điều khiển hiện thực và thời gian theo ý muốn. Dùng được một lúc thì anh bị Mordo và Wong phát hiện, họ cho anh biết về 3 Thánh đường New York, London và Hong Kong, và cả Dormammu. Bất ngờ, Kaecilius tấn công Thánh đường London, giết sư phụ cai quản Drumm. Trong cuộc chiến đó, Strange mặc chiếc áo choàng bay và tạm khuất phục Kaecilius, trong cuộc trò chuyện, hắn ta nói về Dormammu, về sự sống bất tử mà Strange sẽ có được khi theo chân tên quỷ đó. Bất ngờ, Strange bị đồ đệ của Kaecilius đâm ở ngực trái, anh đến bệnh viện và nhờ bác sĩ Palmer phẫu thuật cho mình, tại bàn mổ, anh tách hồn mình ra chiến đấu với tên đồ đệ đó và đã giết chết hắn, trong khi ở thế giới thực, Palmer đã cứu anh thành công. Ngay lập tức anh đến London và đã gặp được Cổ Lão Nhân và Mordo, Strange nói rằng Cổ Lão Nhân sống được lâu vì bà ta đã sử dụng năng lượng hắc ám. Kaecilius lại xuất hiện, anh cùng Mordo chiến đấu và sau đó Strange bị dồn vào đường cùng, may cho anh là Cổ Lão Nhân ra tay kịp thời, cuộc chiến lại tiếp tục diễn ra với kết cục là Kaecilius đẩy Cổ Lão Nhân rơi từ trên cao xuống. Mặc dù sau đó Strange và các cộng sự đã cố gắng hết sức, họ vẫn không cứu được bà ấy.

Sau đó, Mordo và Strange đến Thánh đường Hong Kong nhưng nó bị phá hủy bởi Kaecilius. Với sức mạnh của Con mắt của Agamotto, Strange quay ngược thời gian lúc Kaecilius sắp tấn công anh và để cho mọi vật tự phục hồi như cũ và cứu Wong. Bất ngờ thay, Kaecilius và đám học trò tự thoát khỏi sức mạnh của Strange để chiến đấu và phá hủy vòng thời gian. Không còn cách nào khác, Strange bay lên chỗ Chiều Không Gian Tối (Dark Dimension) để thương lượng với Dormammu. Sau cuộc chiến nhỏ với hắn với sự trợ giúp của Con mắt của Agamotto, Strange nói anh sẽ tắt vòng lặp với điều kiện là đưa bọn cuồng tín ra khỏi Trái Đất và không được đến đây lần nữa. Mọi việc kết thúc, Mordo từ bỏ con đường phép thuật, chỉ còn Wong và Strange. Wong giao cho anh làm chủ trì Thánh đường New York.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lee, Jason (6 tháng 6 năm 2012). 'Marvel Cinematic Universe' 10-disc Blu-ray set announced”. HD-Report. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  2. ^ a ă McClintock, Pamela (ngày 27 tháng 4 năm 2006). “Marvel Making Deals for Title Wave”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2008. 
  3. ^ Jensen, Jeff (ngày 17 tháng 4 năm 2008). Iron Man: Summer's first Marvel?”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2008. 
  4. ^ Cairns, Bryan (ngày 3 tháng 10 năm 2011). “Director Louis Leterrier Talks Incredible Hulk”. Newsarama.com. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013. 
  5. ^ Juarez, Vanessa (ngày 26 tháng 7 năm 2008). “Comic-Con: 'Incredible Hulk' screenwriter Zak Penn discusses strife with Edward Norton”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2013. 
  6. ^ Finke, Nikki (ngày 9 tháng 7 năm 2008). “So What Was All The Fuss About? Marvel Locks In Jon Favreau For 'Iron Man 2′”. Deadline.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012. 
  7. ^ Graser, Marc (ngày 15 tháng 7 năm 2008). “Theroux to write 'Iron Man' sequel”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2008. 
  8. ^ Fleming, Michael (ngày 28 tháng 9 năm 2008). “Branagh in talks to direct 'Thor'. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2008. 
  9. ^ “Thor Movie: New Release Date! ngày 6 tháng 5 năm 2011”. Marvel.com. Ngày 7 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  10. ^ Kit, Borys (ngày 9 tháng 11 năm 2008). 'Captain America' recruits director”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2008. 
  11. ^ Kit, Borys; Fernandez, Jay A. (ngày 18 tháng 11 năm 2008). 'Captain America' enlists two scribes”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2008. . (First paragraph; subscription required for full story.)
  12. ^ Graser, Marc (ngày 13 tháng 4 năm 2010). “Whedon to head 'Avengers'. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2010. 
  13. ^ a ă Sciretta, Peter (28 tháng 10 năm 2014). “Watch: All Of Your Marvel Phase 3 Questions Answered By Marvel Head Kevin Feige”. /Film. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  14. ^ Plumb, Ali (4 tháng 3 năm 2013). “Marvel Boss Kevin Feige On Phase 2”. Empire. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  15. ^ a ă “Shane Black talks direction of Iron Man 3 and whether or not to expect more Marvel cameos!”. Ain't It Cool News. Ngày 7 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2012. 
  16. ^ Fleming, Mike (ngày 31 tháng 3 năm 2011). “Marvel Taps Its 'Runaways' Scribe Drew Pearce To Write 'Iron Man 3′ Script”. Deadline.com. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2012. 
  17. ^ Fleming Jr., Mike (ngày 24 tháng 12 năm 2011). 'Thor 2′ Director Will Be 'Game Of Thrones' Helmer Alan Taylor”. Deadline.com. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2013. 
  18. ^ 'Thor: The Dark World' Official Synopsis Released”. StitchKingdom.com. Ngày 12 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2012. 
  19. ^ Sneider, Jeff (ngày 6 tháng 6 năm 2012). “Russo brothers tapped for 'Captain America 2': Disney and Marvel in final negotiations with 'Community' producers to helm pic”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  20. ^ Marshall, Rick (ngày 14 tháng 4 năm 2011). 'Captain America' Writers Talk Sequel, Post-'Avengers' Plans, And The Marvel Movie-Verse”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011. 
  21. ^ “Marvel Studios Begins Production on Guardians of the Galaxy”. Marvel.com. Ngày 20 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2013. 
  22. ^ a ă Graser, Marc (ngày 25 tháng 7 năm 2014). “James Gunn to Write, Direct 'Guardians of the Galaxy' Sequel”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2014. 
  23. ^ Graser, Marc (ngày 7 tháng 8 năm 2012). “Joss Whedon will return for 'The Avengers 2'. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  24. ^ “Director Peyton Reed and Writer Adam McKay Join Marvel's Ant-Man”. Marvel.com. Ngày 7 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2014. 
  25. ^ Sneider, Jeff (ngày 22 tháng 4 năm 2015). “Marvel's 'Ant-Man' Resolves Writing Credit Dispute (Exclusive)”. The Wrap. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  26. ^ Strom, Marc (28 tháng 10 năm 2014). “Marvel Studios Announces Full Phase 3 Slate at Special Event”. Marvel.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  27. ^ a ă Weintraub, Steve (ngày 11 tháng 3 năm 2014). “Directors Joe & Anthony Russo Confirm They'll Direct Captain America 3; Say They're Breaking the Story Now with Screenwriters Christopher Markus & Stephen McFeely”. Collider.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2014. 
  28. ^ Siegel, Tatiana; Kit, Borys (ngày 3 tháng 6 năm 2014). “Scott Derrickson to Direct Marvel's 'Doctor Strange'. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2014. 
  29. ^ “Doctor Strange” (PDF). Walt Disney Studios Motion Pictures. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 30 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  30. ^ “Sony Pictures and Marvel Studios Find Their 'Spider-Man' Star and Director” (Thông cáo báo chí). Marvel.com. Ngày 23 tháng 6 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2015. 
  31. ^ Strom, Marc (ngày 23 tháng 7 năm 2016). “SDCC 2016: 'Spider-Man: Homecoming' Introduces Its Villain”. Marvel.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2016. 
  32. ^ Fleming, Mike (ngày 15 tháng 10 năm 2015). “Mark Ruffalo Bringing Hulk Into 'Thor: Ragnarok'. Deadline.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2015. 
  33. ^ Keyes, Rob (ngày 16 tháng 10 năm 2017). “Why Isn’t Lady Sif in Thor: Ragnarok?”. Screen Rant. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  34. ^ Strom, Marc (ngày 11 tháng 1 năm 2016). “Ryan Coogler to Direct Marvel's 'Black Panther'. Marvel.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2016. 
  35. ^ Patterson, Brandon Ellington (ngày 6 tháng 2 năm 2016). “Oscars So White? Black Panther to the Rescue.”. Mother Jones. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2016. 
  36. ^ Foutch, Haleigh (ngày 11 tháng 4 năm 2016). “‘Black Panther': Kevin Feige Reveals Ryan Coogler Is Co-Writing; Talks Filming Dates”. Collider.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2016. 
  37. ^ Cabin, Chris (ngày 13 tháng 11 năm 2015). 'Ant-Man and the Wasp': Michael Douglas Eyeing Return for Sequel”. Collider. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2015. 
  38. ^ Perry, Spencer (ngày 1 tháng 8 năm 2017). “Production Officially Begins on Ant-Man and the Wasp!”. ComingSoon.net. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  39. ^ Kroll, Justin (ngày 19 tháng 4 năm 2017). “‘Captain Marvel’ Finds Directors in Anna Boden, Ryan Fleck (EXCLUSIVE)”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2017. 
  40. ^ Fleming Jr., Mike (ngày 15 tháng 8 năm 2017). “Marvel Taps Geneva Robertson-Dworet To Script ‘Captain Marvel’”. Deadline.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  41. ^ Siegel, Lucas (28 tháng 10 năm 2014). “Marvel Announces Black Panther, Captain Marvel, Inhumans, Avengers: Infinity War Films, Cap & Thor 3 Subtitles”. Newsarama. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  42. ^ Strom, Marc (ngày 7 tháng 4 năm 2015). “Joe & Anthony Russo to Direct 2-Part Marvel's 'Avengers: Infinity War' Event”. Marvel.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2015. 
  43. ^ Strom, Mark (ngày 7 tháng 5 năm 2015). “Christopher Markus & Stephen McFeely to Write Marvel's 2-Part 'Avengers: Infinity War' Event”. Marvel.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2015. 
  44. ^ D'Alessandro, Anthony (ngày 9 tháng 12 năm 2016). “‘Spider-Man: Homecoming 2’ Shoots Web Around Independence Day 2019 Frame; ‘Bad Boys 4’ Moves To Memorial Day”. Deadline.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2016. 
  45. ^ Hood, Cooper (ngày 9 tháng 12 năm 2017). “Kevin Feige Confirms Jon Watts Will Direct Spider-Man: Homecoming 2”. Screen Rant. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  46. ^ Chitwood, Adam (ngày 26 tháng 6 năm 2017). “‘Spider-Man: Homecoming 2’ Filming Dates, Title Details Revealed”. Collider. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  47. ^ “Cẩm nang dành cho người mới làm quen với Vũ trụ Điện ảnh Marvel”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]