Người Nhện 2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Người Nhện 2

Spiderman 2 poster.jpeg
Áp phích chiếu rạp của phim
Thông tin phim
Đạo diễnSam Raimi
Sản xuất
Kịch bảnAlvin Sargent
Cốt truyện
Dựa trênSpider-Man
của Stan Lee
Diễn viên
Âm nhạcDanny Elfman
Quay phimBill Pope
Dựng phimBob Murawski
Hãng sản xuất
Phát hànhColumbia Pictures
Công chiếu
Độ dài
127 phút[1]
Quốc giaHoa Kỳ
Ngôn ngữTiếng Anh
Kinh phí200 triệu USD[2]
Doanh thu783.8 triệu USD[2]
← Phim trước
Người Nhện
Phim sau →
Người Nhện 3

Người Nhện 2 (tựa gốc tiếng Anh: Spider-Man 2) là phim điện ảnh siêu anh hùng của Mỹ năm 2004 do Sam Raimi đạo diễn và Alvin Sargent viết kịch bản từ đầu truyện của Alfred Gough, Miles MillarMichael Chabon. Là phần tiếp nối của phim Người Nhện năm 2002, tác phẩm là phần thứ hai trong trilogy Người Nhện, dựa trên nhân vật truyện tranh giả tưởng cùng tên của Marvel Comics. Các diễn viên Tobey Maguire, Kirsten Dunst, James FrancoRosemary Harris lần lượt đảm nhận những vai diễn tương ứng của họ ở phần đầu tiên, trong khi Alfred MolinaDonna Murphy mới gia nhập dàn diễn viên trong phim.

Lấy bối cảnh hai năm sau những sự kiện trong Người Nhện, nội dung phim kể về Peter Parker phải chật vật để xoay xở cả cuộc sống cá nhân và trách nhiệm làm Người Nhện của anh, trong khi tiến sĩ Otto Octavius trở thành một phản diện hiểm ác, sau khi một thí nghiệm thất bại của ông vô tình giết vợ mình và để lại cho ông một đống xúc tu máy hợp nhất với hệ thần kinh của Otto. Người Nhện buộc phải ngăn chặn ông tái tạo thành công thí nghiệm gây đe dọa phá hủy thành phố.

Quá trình quay phim chính bắt đầu vào tháng 4 năm 2003 tại thành phố New York và đồng diễn ra tại Los Angeles. Ngày 30 tháng 6 năm 2004, Người Nhện 2 công chiếu trên cả hai hệ thống rạp chiếu truyền thống và IMAX, thu về 783 triệu USD trên toàn cầu và trở thành phim điện ảnh có doanh thu cao thứ ba trong năm. Tác phẩm đã giành giải Oscar cho hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất và nhận hai đề cử khác cho hòa âm hay nhấtbiên tập âm thanh xuất sắc nhất. Phim còn nhận được năm đề cử tại lễ trao giải Sao Thổ như phim kỳ ảo hay nhấtđạo diễn xuất sắc nhất cho Raimi. Người Nhện 2 thường được coi là một trong những phim siêu anh hùng hay nhất mọi thời đại[3][4][5][6][7] và thành công của phim dẫn đến phần tiếp mang tên Người Nhện 3 (2007).

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Trong phim lần này, Peter Parker phải đấu tranh để cân bằng giữa nhiệm vụ chống tội phạm khi làm người nhện với những nhu cầu cuộc sống đời thường. Anh bị mất việc, tài chính khó khăn trong khi phải gắng sức duy trì việc học vật lý ở Đại học Columbia. Hơn nữa, anh còn bị người tình Mary Jane Watson và người bạn thân Harry Osborn xa lánh. Mary Jane rất bất mãn trong lúc hẹn hò với Peter, còn Harry lại hiểu lầm người nhện đã sát hại cha mình, Norman Osborn. Ngoài ra, Peter lại còn biết rằng dì May của mình có nguy cơ phải thế chấp tài sản để trả nợ tiền nhà.

Harry bây giờ đã thành trưởng cục nghiên cứu của tập đoàn Oscorp và cậu đã tài trợ cho nhà khoa học hạt nhân lỗi lạc Otto Octavius. Otto mơ ước về một nguồn năng lượng nhiệt thạch khổng lồ hoàn chỉnh. Ộng ta mặc một bộ áo mang các cánh tay rô bốt cực khỏe có trí thông minh nhân tạo để điều khiển cuộc thí nghiệm. Nhưng một chút năng lượng đã làm mất thăng bằng cuộc thí nghiệm nhưng Octavius không chịu tắt cái máy thí nghiệm đã dẫn đến kết cục thảm khốc: vợ ông bị chết, con chíp ức chế thần kinh để ngăn các cánh tay chi phối trí óc ông cũng bị hủy và các cánh tay đó càng cắm sâu vào xương sống ông. May thay người nhện cũng xuất hiện và tắt cái máy trước khi nó gây thêm thiệt hại.

Otto Octavius bị ngất rồi được đưa đến bệnh viện. Trong lúc các bác sĩ chuẩn bị tiến hành phẫu thuật cắt bỏ các cánh máy và bộ áo xúc tu, thì các cánh tay (xúc tu) bỗng choàng tỉnh dậy và giết các y bác sĩ. Các xúc tu đã phát triển được khả năng nhận thức sau khi con chíp ức chế bị phát hủy. Khi tỉnh dậy và thấy cảnh chết chóc đó, Octavius rời bệnh viện và trốn ở một bến cảng. Và bây giờ ông được tờ báo Daily Bugle đặt cho biệt danh là Tiến sĩ Octopus (Tiến sĩ bạch tuộc). Các xúc tu thuyết phục ông thử lại cuộc thí nghiệm và để có tiền, phải đi cướp ngân hàng.

Sau khi Peter lỡ việc xem vở kịch đầu tiên Mary Jane đóng, cô ta đi đính hôn với phi hành gia John Jameson để trả đũa Peter. John Jameson chính là con trai của J. Jonah Jameson, chủ tờ báo Daily Bugle. Peter cực kì bị tổn thương, cộng thêm với các áp lực trong cuộc sống ngày càng dồn dập, anh mất sức mạnh người nhện của mình. Anh từ bỏ mặt nạ người nhện và quay về cuộc sống đời thường khi muốn nối lại mối tình với Mary Jane.

Một nhân viên vệ sinh đã nhặt được bộ áo người nhện và mang đến cho J. Jonah Jameson, Jonah trách mình đã làm người nhện biến mất. Peter tiết lộ với dì May rằng cái chết của bác Ben cách đây không lâu còn do một phần lỗi của mình. Tuy lúc đầu có hơi sốc nhưng dì May cũng mau chóng tha thứ cho Peter. Khi một cậu bé hàng xóm 9 tuổi nhắc đến chuyện người nhện biến mất và tỉ lệ tội phạm gia tăng ở New York tiếp theo sau đó, Peter lại bắt đầu ngẫm nghĩ rằng liệu việc bỏ nhân dạng người nhện có là một lựa chọn đúng đắn. Octavius cần tritium để cấp nhiên liệu cho lò phản ứng, hắn đến tìm Harry để đòi thứ đó. Lúc đầu Harry từ chối vì thí nghiệm đó có khả năng san bằng cả thành phố, rồi sau cùng thỏa thuận để đổi lấy người nhện. Harry cho biết chính Peter Parker là chìa khóa để tìm người nhện, vì Peter hay chụp ảnh người nhện đăng báo nên cho rằng Peter quen biết với người nhện. Nhưng Harry cũng căn dặn Octavius đừng làm hại Peter. Octavius tìm Peter bắt anh kiếm người nhện rồi mang luôn Mary Jane đi. Peter nhận thấy sức mạnh người nhện của mình đã khôi phục sau cú kích động vì thấy Mary Jane bị bắt cóc. Anh đi cuớp lại bộ áo người nhện từ tòa sọan Bugle và mặc nó vào.

Người nhện đã đánh nhau với Octavius rồi cả bị rơi xuống mái của một tàu cao tốc đang chạy. Hai người tiếp tục đánh một trận quyết liệt. Sau đó Octavius phá hỏng bộ điều khiển của con tàu và nhảy ra khỏi đó. Người nhện chặn đứng con tàu lại trước khi nó chạy lọt ra ngoài đường ray. Khi anh ngất xỉu vì kiệt sức, hành khách trên tàu mang anh vào toa. Anh dần dần tỉnh lại và phát hiện mặt nạ người nhện của mình đã cởi ra. Nhưng hành khách rất biết ơn anh và hề sẽ không tiết lộ nhân dạng thực của anh. Rồi Octavius quay lại để đòi người nhện. Hắn khống chế các hành khách và đánh gục người nhện, rồi mang đến cho Harry.

Sau khi đưa tritium cho Octavius, Harry chuẩn bị giết người nhện. Cậu gỡ bỏ mặt nạ ra liền vô cùng sửng sốt khi thấy đó là Peter - người bạn thân của mình. Peter tỉnh lại và thuyết phục Harry rằng những thứ quan trọng hơn đang bị đe dọa (thành phố và Mary Jane). Harry tiết lộ chỗ của Octavius. Người nhện liền đến phòng thí nghiệm trên sông của tiến sĩ Octavius và lén lút cố cứu Mary Jane. Một xúc tu của Octavius đã thấy người nhện rồi cả hai lao vào đánh nhau. Người nhện đánh bại được Octavius. Anh cởi mặt nạ cho Octavius biết mặt mình và thuyết phục Octavius từ bỏ giấc mở để làm những điều tốt hơn. Octavius cuối cùng cũng chế ngự được các xúc tu để chúng tuân lệnh mình và nhấn chìm lò phản ứng nhiệt thạch cùng bản thân hắn xuống dòng sông Hudson. Sau đó, Mary Jane cũng biết được khuôn mặt thực của người nhện cũng như lý do tại sao họ không thể ở bên nhau. Peter trả Mary Jane về lại cho John và đi ngay.

Ảo ảnh của cha Harry hiện về trong 1 chiếc gương và yêu cầu cậu giết người nhện để trả thù cho cái chết của ông ta. Harry từ chối làm hại Peter và đập vỡ cái gương. Anh phát hiện một căn phòng bí mật sau chiếc gương. Căn phòng chứa các thiết bị của Green Goblin và vài ống thuốc tăng lực. Còn Mary Jane trong ngày cưới đã bỏ lại John ngay trước bệ thờ của thánh đường và chạy về căn hộ của Peter. Cô thú nhận tình cảm thực của mình với Peter. Cả hai hôn nhau rồi nghe thấy tiếng rượt đuổi tội phạm của cảnh sát. Cô khuyến khích anh hãy phản ứng lại điều đó với tư cách của người nhện.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Dàn diễn viên của Người Nhện 2 (từ trên xuống): Tobey Maguire vào vai Người Nhện, Kirsten Dunst vào vai Mary Jane WatsonAlfred Molina vào vai phản diện Otto Octavius.
Dàn nhân vật chính
  • Tobey Maguire vai Peter Parker / Người Nhện:
    Peter là vừa là một siêu anh hùng, vừa là một sinh viên ngành vật lý ưu tú của Đại học Columbia kiêm nhiếp ảnh gia cho báo Daily Bugle. Việc chấp nhận cuộc sống nhiều mặt này đồng nghĩa anh phải tạm từ bỏ trách nhiệm làm siêu anh hùng trong một khoảnh khắc nghịch cảnh. Khi Maguire ký hợp đồng đóng Người Nhện vào năm 2000, anh đã nhận được một bản hợp đóng ba phim.[8] Trong lúc ghi hình Seabiscuit vào cuối năm 2002, Maguire gặp phải chấn thương ở lưng và Sony đối mặt với khả năng tuyển lại một diễn viên mới cho vai Người Nhện.[9] Vì thế đã nảy sinh nhiều cuộc đàm phán liên lạc với Jake Gyllenhaal, nam diễn viên đang hẹn hò với Kirsten Dunst (Mary Jane Watson) ờ thời điểm đó để thay thế Maguire. Tuy nhiên, Maguire đã hồi phục và có thể đảm nhận vai diễn của mình với mức lương 17 triệu USD.[10] Sau này Maguire và Gyllenhaal sẽ thủ vai hai người anh em trong phim điện ảnh Brothers năm 2009.
  • Kirsten Dunst vai Mary Jane Watson:
    Watson là người bạn mà Peter phải lòng từ khi anh còn nhỏ, nhưng anh buộc phải từ bỏ cơ hội ở bên cô vì bổn phận làm siêu anh hùng của mình.
  • James Franco vai Harry Osborn:
    Harry là người lãnh đạo của tập đoàn Oscorp, con trai của Norman Osborn và người bạn thân Peter. Anh oán giận Người Nhện vì đã gây ra cái chết của cha mình.
  • Alfred Molina vai Otto Octavius / Doctor Octopus:
    Octavius là một nhà khoa học và hình mẫu lý tưởng của Peter. Ông phát điên sau khi thất bại trong việc tạo ra một phản ứng nhiệt hạch tự duy trì. Cơ thể Octavius được gắn với thiết bị do ông điều khiển là bốn chiếc xúc tu trí tuệ nhân tạo bằng máy. Molina nhận vai Octavius vào tháng 2 năm 2003 và ngay lập lức bắt đầu tập luyện thể chất cho vai diễn.[11] Raimi từng bị ấn tượng bởi diễn xuất của ông trong Frida và cũng thấy rằng ông có thể chất tốt.[12] Molina chỉ bàn luận ngắn gọn về vai diễn mà không biết rằng ông là một ứng viên tiềm năng, vì thế ông rất hào hứng khi nhận vai bởi bản thân Molina là một người hâm mộ lớn của Marvel Comics.[13] Mặc dù Molina không hề quen thuộc với Doc Ock, ông tìm thấy một yếu tố trong truyện tranh mà ông muốn duy trì, đó là khiếu hài hước độc ác và mỉa mai của nhân vật.[14]
Dàn nhân vật phụ
  • Rosemary Harris vai May Parker, góa phụ của Ben Parker và người dì của Peter.
  • J. K. Simmons vai J. Jonah Jameson, nhà quản lý và chủ tòa soạn hà tiện của tờ Daily Bugle. Jameson mang mối thù ghét cá nhân với Người Nhện khi ông coi anh là một tội phạm và không muốn để anh làm người hùng của thành phố.
  • Donna Murphy vai Rosalie Octaviu, vợ và trợ lý của Otto Octavius. Bà đã mất mạng vì tai nạn khi giới thiệu thí nghiệm của chồng mình.
  • Daniel Gillies vai John Jameson, con trai của J. Jonah Jameson và hôn phu của Mary Jane. Anh còn là một phi hành gia và anh hùng quốc gia.
  • Dylan Baker vai Tiến sĩ Curt Connors, một trong những giáo sư dạy vật lý tại đại học của Peter và đồng nghiệp của Octavius.
  • Willem Dafoe vai Norman Osborn, người cha đã qua đời của Harry, xuất hiện giống một ảo giác. Dafoe đưa ra ý tưởng này trong lúc quảng bá Người Nhện, khi ông so sánh ý tưởng với hình ảnh Vua Hamlet hiện hồn về ám ảnh con trai ông để trả thù cho ông.
  • Mageina Tovah vai Ursula Ditkovich, con gái của người chủ căn hộ của Peter.

Cũng giống như phần trước, diễn viên Bruce Campbell có một vai khách mời, lần này trong vai một người chỉ chỗ ngồi trong chương trình của MJ. Nhiều năm sau, Jeffrey Henderson, người từng làm việc cho bộ phận storyboard của dự án điện ảnh Spider-Man 4 đã bị hủy, đã phát hành thông tin liên quan đến những kẻ phản diện sẽ xuất hiện trong bộ phim. Một trong những nhân vật như thế là nhân vật của Bruce Campbell phát triển thành Quentin Beck / Mysterio. Nhà đồng sáng tạo Người NhệnStan Lee thủ vai một người đàn ông trên phố cứu một người phụ nữ khỏi các mảnh vụn đổ nát trong một trận chiến giữa Người Nhện và Doctor Octopus. Scott Spiegel xuất hiện trong vai một người đàn ông cố gắng ăn một chút bánh pizza mà Người Nhện giao hàng. Phim còn có sự tham gia của rất nhiều diễn viên khác: Joel McHale vai một nhân viên giao dịch ngân hàng; Hal Sparks đóng một hành khách trong thang máy có một cuộc trò chuyện với Người Nhện; Donnell Rawlings vai một người dân New York la lớn rằng Người Nhện "đã ăn cắp bánh pizza của anh chàng" và Emily Deschanel vai một nhân viên lễ tân. Elizabeth Banks một lần nữa thủ vai Betty Brant, một trong những nhân viên của Bugle kiêm thư ký của J. Jonah Jameson. Daniel Dae Kim đóng một trợ lý của Doctor Octavius làm việc trong phòng thí nghiệm của ông. Aasif Mandvi xuất hiện trong vai Aziz, chủ một cửa hàng pizza địa phương; Joey Diaz đóng một khách hàng tương tự; Vanessa Ferlito vai một trong những người bạn diễn của Mary Jane. Joy Bryant xuất hiện trong vai một khán giả chứng kiến cảnh Người Nhện hành động; John Landis đóng một trong những bác sĩ phẫu thuật Doctor Octopus; Phil LaMarr vai một khách hàng trên tàu dễ dàng nhìn thấy ở bên trái Người Nhện (bên phải theo hướng người xem) trong khi người hùng sử dụng lưới nhện để làm chậm đoàn tàu; và Gregg Edelman thủ vai Bác sĩ David, bác sĩ tại Đại học của Peter và Peter đã tới gặp ông để nói về việc mất đi siêu năng lực của mình. Như từng tiết lộ trong cuốn phim blooper trong bản phát hành tại gia của Người Nhện 2, đạo diễn Sam Raimi có một vai khách mời (dù khuôn mặt của ông bị che đi), một trong những sinh viên làm túi rơi trúng đầu Peter khi anh đang nhặt bài tập về nhà của mình.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi hoàn thành Người Nhện, đạo diễn Sam Raimi với sự giúp đỡ từ James Keltie đã tiến hành đạo diễn một phần tiếp nối.[15] Vào tháng 4 năm 2002, Sony thuê bộ đôi biên kịch là Alfred GoughMiles Millar để viết một kịch bản với các nhân vật phản diện là Doctor Octopus, Lizard[16]Black Cat.[9] Ngày 8 tháng 5 năm 2012, sau khi Người Nhện phá kỷ lục 115 triệu USD dịp cuối tuần mở màn, Sony Pictures cũng công bố một phần tiếp nối vào năm 2004.[17] Với tựa đề The Amazing Spider-Man, dựa theo tựa truyện tranh chính của nhân vật,[18] phim nhận được kinh phí 200 triệu USD[19] và nhắm lịch chiếu vào ngày 7 tháng 5 năm 2004. Tháng sau, các nhà làm phim đã tuyển thêm David Koepp để đồng viết kịch bản với Gough và Millar.[9]

Tháng 9 năm 2002, Michael Chabon được thuê để viết lại kịch bản. Phần kịch bản nháp của ông có một nhân vật Doc Ock trẻ hơn và say mê Mary Jane. Những cánh tay bằng máy của y sử dụng chất endorphin để kháng lại cơn đau bị những cánh tay gắn vào cơ thể, khiến y thấy hưng phấn. Khi Doc Ock gây thương tích cho hai kẻ cướp thì Mary Jane bắt đầu hoảng sợ, dẫn đến cuộc chiến với Người Nhện. Sau đó những xúc tu của y bị rối vào nhau và bắt đầu giết hắn. Trong kịch bản, Octavius là người tạo ra con nhện biến đối gen từ phần phim đầu tiên và tặng cho Peter một liều thuốc giải độc để loại bỏ sức mạnh của anh: điều này được lý giải khi Octavius đang dần chết cùng với các xúc tu, y muốn rút xương sống của Người Nhện để tự cứu mình, do đó dẫn đến việc liên minh với Harry ở cuối phim. Trước đó Harry và nhật báo Daily Bugle từng trả giá 10 triệu USD cho cái đầu của Người Nhện, khiến cho các công dân của thành phố chống lại anh ta. Nhà sản xuất Avi Arad đã từ chối mối tình tay ba giữa Peter, Mary Jane và Ock; đồng thời ông thấy chi tiết Harry trả giá cho cái đầu của Người Nhện thiếu tinh tế.

Ghi hình[sửa | sửa mã nguồn]

Người Nhện 2 được quay tại hơn một trăm bối cảnh và địa điểm, bắt đầu với địa điểm tiền ghi hình ở The Loop, Chicago diễn ra trong hai ngày vào tháng 11 năm 2002. Đoàn làm phim đã mua một đoàn tàu chứa nhiều toa 2200 series, thay thế mười sáu máy quay cho những cảnh quay nền của trận chiến trên tàu giữa Người Nhện và Doc Ock.[15] Quá trình quay phim chính bắt đầu vào ngày 12 tháng 4 năm 2003 tại thành phố New York. Ngày 13 tháng 5 ê-kíp làm phim di chuyển đến Los Angeles [9] để ghi hình mười bối cảnh chính do nhà thiết kế sản xuất Neil Spisak tạo ra. Sau nỗi hoang mang xung quanh chấn thương lưng của mình, Tobey Maguire vẫn thích biểu diễn nhiều pha nguy hiểm, thậm chí cả tạo trò đùa với Raimi khi anh tạo ra câu thoại "My back, my back" (Lưng tôi, lưng tôi) trong lúc Người Nhện cố gắng để lấy lại siêu năng lực.

Hiệu ứng hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù gần như tương đương bộ đồ trong phần trước, nhà thiết kế phục trang James Acheson có một vài thay đổi tinh tế đối với bộ trang phục của Người Nhện. Màu áo đẹp và táo bạn hơn, biểu tượng con nhện có thêm nhiều dòng kẻ tao nhã hơn và có kích thước mở rộng; trong khi đó ống kính mắt nhỏ hơn một chút, và bộ đồ cơ bắp bên trong cơ thể được chia thành nhiều mảng, đem lại cảm giác di chuyển tốt hơn. Mũ bảo hiểm Maguire đội dưới lớp mặt nạ cũng có cải tiến khi gắn những mảng quai hàm giả và miếng mắt có từ tính nhằm di chuyển tốt hơn và dễ tháo ra hơn.[15]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Giải trí tại gia[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc đầu Người Nhện 2 được phát hành trên VHSDVD vào ngày 30 tháng 11 năm 2004. Bản DVD có sẵn trên cả định dạng màn ảnh rộng anamorphic và "toàn màn hình" pan and scan, cũng như một ấn bản superbit và một hộp box-set kèm theo phần phim đầu tiên. Ngoài ra cũng có một bộ quà tặng DVD của nhà sưu tập trong đó có một tái bản của The Amazing Spider-Man #50.[20] Phim được phát hành trên Blu-ray vào tháng 10 năm 2007, đi kèm trong hộp box-set Spider-Man: The High Definition Trilogy.[21] Tác phẩm cũng được phát hành riêng trên đĩa Blu-ray vào tháng 11 năm 2010 cũng như phần phim trước đi kèm trong bộ Blu-ray Essentials Collection của Sony, bao gồm cả bản phát hành chiếu rạp và bản cắt mở rộng 2.1.[22] Tất cả ba phần phim đều được phát hành trên Blu-ray đi kèm trong bộ đĩa Spider-Man: Origins vào năm 2017.[23]

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh thu phòng vé[sửa | sửa mã nguồn]

Người Nhện 2 thu về tổng cộng 373.6 triệu USD chỉ tính riêng tại thị trường Mỹ và Canada, và 410.2 triệu USD tại các quốc gia và vùng lãnh thổ khác, đưa tổng mức doanh toàn cầu lên 783.8 triệu USD so với kinh phí làm phim là 200 triệu USD.[2]

Ngày 30 tháng 6 năm 2004, Người Nhện 2 ra mắt tại Hoa Kỳ và thu về 40.4 triệu USD trong ngày chiếu đầu tiên, phá vỡ kỷ lục 39.4 triệu USD trong ngày mở màn của phần phim đầu tiên,[24] cho đến khi kỷ lục trên bị Chiến tranh giữa các vì sao: Tập III – Sự báo thù của người Sith xô đổ một năm sau (50 triệu USD).[25] Phim cũng xô đổ kỷ lục doanh thu trong ngày thứ Tư cao nhất mọi thời đại (34.5 triệu USD) của Chúa tể của những chiếc nhẫn: Sự trở về của nhà vua.[26] Bộ phim nắm giữ kỷ lục ngày thứ Tư trong ba năm trước khi bị Harry Potter và Hội Phượng Hoàng vượt qua (44.2 triệu USD).[27] Doanh thu của phim từ thứ Sáu đến Chủ Nhật đạt mức 88.2 triệu USD, trở thành phim có doanh thu dịp cuối tuần ngày Độc lập cao nhất, phá vỡ kỷ lục của Men in Black II (52.1 triệu USD), cho đến khi kỷ lục trên bị Transformers 3 xô đổ bảy năm sau (97.9 triệu USD).[28] Trong sáu ngày chiếu đầu tiên, Người Nhện 2 đã thu về hơn 180 triệu USD.[29] Tác phẩm cuối cùng đã chạm mốc 373.5 triệu USD, trở thành phim điện ảnh có doanh thu cao thứ hai trong năm 2004 sau Shrek 2. Người Nhện 2 còn là phim điện ảnh có doanh thu cao thứ 28 tại thị trường Hoa Kỳ và Canada và tiêu thụ ước tính 60,158,700 vé xem tại Hoa Kỳ.[30]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Trên hệ thống tổng hợp kết quả đánh giá Rotten Tomatoes, Người Nhện 2 nhận được 93% lượng đồng thuận dựa theo 269 bài đánh giá, với điểm trung bình là 8.3/10. Các chuyên gia của trang web nhất trí rằng, "Niềm kiêu hãnh về một phản diện giải trí và tập trung vào cảm xúc sâu sắc hơn, đây là một phần tiếp nối nhanh trí cải thiện trên cả bản gốc".[31] Trên trang Metacritic, phim đạt số điểm 83 trên 100 dựa trên 41 nhận xét, chủ yếu là những lời tán dương.[32] Lượt bình chọn của khán giả trên trang thống kê CinemaScore cho phần phim điểm "A–" trên thang từ A+ đến F.[33] Tác phẩm xếp thứ 441 trong danh sách tốp 500 phim điện ảnh của tạp chí Empire.[34]

Mark Caro của nhật báo Chicago Tribune cho rằng Alfred Molina là một "phản diện phức tạp mà dễ chịu", và bộ phim là một tổng thể "cải thiện phần tiềm nhiệm của nó theo hầu hết mọi hướng".[35] Kenneth Turan của Los Angeles Times chấm phần phim 4 trên 5 sao và có chung quan điểm với Caro, ông viết, "Doc Ock chiếm đoạt bộ phim này với bốn chiếc tay máy uốn khúc hung hãn và từ chối buông bỏ."[36] Nếu Roger Ebert là người chấm phần phim đầu tiên hai sao rưỡi thì lần này ông chấm Người Nhện 2 bốn sao trên bốn sao hoàn hảo, ông gọi bộ phim là "phim điện ảnh siêu anh hùng hay nhất kể từ khi thể loại hiện đại khởi đầu với Superman (1978)" và ca ngợi tác phẩm vì đã "[kết hợp] nhuần nhuyễn hiệu ứng hình ảnh và một câu chuyện nhân văn, giữ cho các tình tiết phim tồn tại và hoạt động song song".[37] Sau đó ông còn gọi Người Nhện 2 là phim điện ảnh hay thứ tư trong năm 2004.[38]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Người Nhện 2 giành hai giải Oscar cho hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất và giành các đề cử cho hòa âm hay nhất (Kevin O'Connell, Greg P. Russell, Jeffrey J. HaboushJoseph Geisinger, nhưng thua Ray) và biên tập âm thanh xuất sắc nhất (thua Gia đình siêu nhân).[39] Phim cũng chiến thắng năm giải Sao Thổ cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, phim kỳ ảo hay nhất, hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhấtkịch bản xuất sắc nhất, bên cạnh đó là hai đề cử cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhấtnhạc phim hay nhất.[40] Tác phẩm còn nhận hai đề cử BAFTA cho hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất (thua The Day After Tomorrow) và âm thanh xuất sắc nhất (thua Ray).[41] Viện phim Mỹ xếp Người Nhện 2 là một trong mười phim điện ảnh hay nhất năm 2004,[42] đồng thời giành đề cử cho vị trí trong các danh sách tốp 10 phim kỳ ảo hay nhất,[43] 100 phim điện ảnh Mỹ truyền cảm hứng nhất[44]100 phim điện ảnh hay nhất.[45]

Tên giải thưởng Ngày trao giải Hạng mục Người nhận Kết quả
Giải Oscar[46] 27 tháng 2 năm 2005 Biên tập âm thanh xuất sắc nhất Paul N.J. Ottosson Đề cử
Hòa âm hay nhất Kevin O'Connell, Greg P. Russell, Jeffrey J. HaboushJoseph Geisinger Đề cử
Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất John Dykstra, Scott Stokdyk, Anthony LaMolinaraJohn Frazier Đoạt giải
Giải thưởng Viện phim Mỹ[47] 2005 Phim điện ảnh của năm Spider-Man 2 Đoạt giải
BMI Film and TV Awards[48] 18 tháng 5 năm 2005 Giải thưởng âm nhạc điện ảnh BMI Danny Elfman Đoạt giải
Giải thưởng Điện ảnh Viện Hàn lâm Anh quốc[49] 12 tháng 2 năm 2005 Thành tựu hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất John Dykstra, Scott Stokdyk, Anthony LaMolinara và John Frazier Đề cử
Âm thanh xuất sắc nhất Paul N.J. Ottosson, Kevin O'Connell, Greg P. Russell và Jeffrey J. Haboush Đề cử
Phim điện ảnh cam của năm Spider-Man 2 Đề cử
Giải Lựa chọn của Nhà phê bình Điện ảnh[50] 10 tháng 1 năm 2005 Phim kỳ ảo hay nhất Spider-Man 2 Đề cử
Phim điện ảnh đại chúng hay nhất Spider-Man 2 Đoạt giải
Cinema Audio Society Awards[51] 19 tháng 2 năm 2005 Thành tựu hòa âm cho tác phẩm điện ảnh nổi bật Joseph Geisinger, Kevin O'Connell, Greg P. Russell và Jeffrey J. Haboush Đề cử
Giải Empire[52][53] 13 tháng 3 năm 2005 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Tobey Maguire Đề cử
Đạo diễn xuất sắc nhất Sam Raimi Đoạt giải
Golden Trailer Awards[54] 25 tháng 5 năm 2004 Summer 2004 Blockbuster Spider-Man 2 Đề cử
Giải Hugo[55] 7 tháng 8 năm 2005 Trình bày ca kịch xuất sắc nhất – Dạng dài Spider-Man 2 Đề cử
Giải thưởng hiệp hội phê bình điện ảnh Luân Đôn[56] 9 tháng 2 năm 2005 Nam diễn viên phụ Anh Quốc của năm Alfred Molina Đề cử
MTV Movie Awards[57] 4 tháng 6 năm 2005 Phân cảnh hành động hay nhất Spider-Man 2 Đề cử
Phim điện ảnh hay nhất Spider-Man 2 Đề cử
Phản diện xuất sắc nhất Alfred Molina Đề cử
People's Choice Awards[58] 9 tháng 1 năm 2005 Phim điện ảnh yêu thích Spider-Man 2 Đề cử
Nụ hôn yêu thích trên màn ảnh Kirsten Dunst và Tobey Maguire Đề cử
Phần tiếp nối yêu thích Spider-Man 2 Đề cử
Ngôi sao phản diện điện ảnh yêu thích Alfred Molina Đề cử
Giải Vệ tinh[59] 17 tháng 12 năm 2005 Nam diễn viên phụ phim chính kịch xuất sắc nhất Alfred Molina Đề cử
Quay phim xuất sắc nhất Bill Pope and Anette Haellmigk Đề cử
Bản DVD mở rộng xuất sắc nhất Spider-Man 2 Đề cử
Dựng phim xuất sắc nhất Bob Murawski Đề cử
Nhạc nền xuất sắc nhất Danny Elfman Đề cử
Bản DVD tổng thể xuất sắc nhất Spider-Man 2 Đoạt giải
Âm thanh xuất sắc nhất (dựng & hòa âm) Kevin O'Connell, Greg P. Russell, Jeffrey J. Haboush, Joseph Geisinger, Paul N.J. Ottosson và Susan Dudeck Đề cử
Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất John Dykstra, Scott Stokdyk, Anthony LaMolinara và John Frazier Đề cử
Giải Sao Thổ[60] 3 tháng 5 năm 2005 Phim kỳ ảo hay nhất Spider-Man 2 Đoạt giải
Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Tobey Maguire Đoạt giải
Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Alfred Molina Đề cử
Đạo diễn xuất sắc nhất Sam Raimi Đoạt giải
Kịch bản xuất sắc nhất Alvin Sargent Đoạt giải
Âm nhạc xuất sắc nhất Danny Elfman Đề cử
Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất John Dykstra, Scott Stokdyk, Anthony LaMolinara
và John Frazier
Đoạt giải
Ấn bản phát hành DVD đặc biệt xuất sắc nhất Spider-Man 2 Đề cử
Giải VES[61] 16 tháng 2 năm 2005 Hiệu ứng hình ảnh đơn của năm John Dykstra, Lydia Bottegoni, Dan Abrams và John Monos Đề cử
Sáng tác xuất sắc trong một phim điện ảnh Colin Drobnis, Greg Derochie, Blaine Kennison và Ken Lam Đoạt giải
Outstanding Created Environment in a Live Act on Motion Picture Dan Abrams, David Emery, Andrew Nawrot và John Hart Đoạt giải
Nam diễn viên hoặc nữ diễn viên xuất sắc trong một phim điển ảnh có hiệu ứng hình ảnh Alfred Molina Đoạt giải
Outstanding Special Effects in Service to Visual Effects in a Motion Picture John Frazier, James D. Schwalm, James Nagle và David Amborn Đề cử
Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc trong phim điện ảnh có sử dụng hiệu ứng hình ảnh John Dykstra, Lydia Bottegoni, Anthony LaMolinara và Scott Stokdyk Đề cử
World Stunt Awards[62] 25 tháng 9 năm 2005 Đóng thế tổng thể của một diễn viên xuất sắc nhất Chris Daniels và Michael Hugghins Đoạt giải
Đóng thế đặc biệt xuất nhất Tim Storms, Garrett Warren, Susie Park, Patricia M. Peters, Norb Phillips, Lisa Hoyle, Kevin L. Jackson và Clay Donahue Fontenot Đề cử
Tác phẩm kết hợp với phương tiện xuất sắc nhất Tad Griffith, Richard Burden, Scott Rogers, Darrin Prescott và Mark Norby Đề cử

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Spider-Man 2”. Ủy ban phân loại điện ảnh Vương quốc Anh. Truy cập 22 tháng 7 năm 2015. 127m 12s 
  2. ^ a ă â “Spider-Man 2 (2004)”. Box Office Mojo. Truy cập 5 tháng 2 năm 2009. 
  3. ^ “Top 10 Best and Worst Superhero Movies”. Den of Geek. Truy cập 15 tháng 9 năm 2014. 
  4. ^ “The 10 Greatest Superhero Movies of All Time”. The Street. Truy cập 15 tháng 9 năm 2014. 
  5. ^ “Readers' Poll: The 15 Greatest Superhero Movies”. Rolling Stone. Truy cập 13 tháng 6 năm 2014. 
  6. ^ “MRQE's Best of Comics & Superheroes”. Mrqe.com. Truy cập 4 tháng 8 năm 2018. 
  7. ^ “50 Best Superhero Movies of All Time”. Rotten Tomatoes. 
  8. ^ Fleming, Michael; Brodesser, Claude (31 tháng 7 năm 2000). “Maguire spins 'Spider-Man'. Variety. Truy cập 22 tháng 1 năm 2017. 
  9. ^ a ă â b Schmitz, Greg Dean. “Greg's Preview – Spider-Man 2”. Yahoo!. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 12 năm 2016. Truy cập 15 tháng 4 năm 2017. 
  10. ^ Brodesser, Claude; Harris, Dana (13 tháng 4 năm 2003). “Tobey's tangled rep web”. Variety. Truy cập 30 tháng 4 năm 2017. 
  11. ^ Hiatt, Brian (13 tháng 2 năm 2003). “Eight Arms to Hold You”. Entertainment Weekly. Truy cập 30 tháng 4 năm 2007. 
  12. ^ Otto, Jeff (29 tháng 6 năm 2004). “Interview: Sam Raimi”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2012. Truy cập 30 tháng 4 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  13. ^ Brett, Anwar (9 tháng 7 năm 2004). “Alfred Molina”. BBC. Truy cập 30 tháng 4 năm 2007. 
  14. ^ Otto, Jeff (25 tháng 6 năm 2004). “Interview: Tobey Maguire and Alfred Molina”. IGN. Bản gốc lưu trữ 18 tháng 5 năm 2012. Truy cập 30 tháng 4 năm 2017. 
  15. ^ a ă â Making the Amazing (DVD). Sony. 2004. 
  16. ^ Germain Lussier (4 tháng 1 năm 2013). “Concept Art: Canceled Pixar Movie ‘Newt’ and Sam Raimi’s Abandoned Lizard Designs From ‘Spider-Man 2’”. slashfilm.com. 
  17. ^ “Spider-Man sequel set for 2004”. BBC. 8 tháng 5 năm 2002. Truy cập 25 tháng 3 năm 2017. 
  18. ^ Hewitt, Chris (25 tháng 6 năm 2004). “Spidey's Back”. Empire. tr. 79–90. 
  19. ^ Thomas, Archie (30 tháng 4 năm 2002). “Spider-Man 2 Budget”. London: Guardian.com. Truy cập 7 tháng 11 năm 2016. 
  20. ^ Woodward, Tom (13 tháng 9 năm 2004). “Spider-Man 2 US – DVD R1”. DVDActive.com. Bản gốc lưu trữ 31 tháng 5 năm 2016. Truy cập 7 tháng 6 năm 2007. 
  21. ^ “Spider-Man: The High Definition Trilogy (Spider-Man / Spider-Man 2 / Spider-Man 3)”. Amazon.com. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  22. ^ Woodward, Tom (2 tháng 7 năm 2007). “Spider-Man 1 and 2 Get Separate Blu-ray Releases (Update)”. DVDActive. Truy cập 6 tháng 10 năm 2018. 
  23. ^ “SPIDER-MAN ORIGINS COLLECTION - SPIDER-MAN ORIGINS COLLECTION (2 Blu-ray)” (bằng tiếng Đức). Amazon.com. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  24. ^ “Arachnophilia at Box Office as Spidey Sets Record”. Internet Movie Database. 1 tháng 7 năm 2004. Truy cập 7 tháng 6 năm 2017. 
  25. ^ 'Sith' Destroys Single Day Record”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2014. 
  26. ^ 'Spider-Man 2' Amazes on Opening Day”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2014. 
  27. ^ 'Harry Potter' Flies with the 'Phoenix'. Box Office Mojo. Truy cập 5 tháng 10 năm 2014. 
  28. ^ “Weekend Report: 'Transformers' Claims Independence Gross Record”. Box Office Mojo. Truy cập 5 tháng 10 năm 2014. 
  29. ^ “Spidey, The Champ”. Internet Movie Database. 7 tháng 7 năm 2004. Truy cập 7 tháng 6 năm 2017. 
  30. ^ “Spider-Man 2”. Box Office Mojo. Truy cập 30 tháng 5 năm 2016. 
  31. ^ Spider-Man 2 Movie Reviews”. Rotten Tomatoes (Flixster). Truy cập 30 tháng 8 năm 2018. 
  32. ^ Spider-Man 2: Reviews”. Metacritic.com Networks. Truy cập 1 tháng 8 năm 2018. 
  33. ^ “CinemaScore”. cinemascore.com. 
  34. ^ “Empire's 500 Greatest Movies of All Time”. Empire. Truy cập 15 tháng 10 năm 2018. 
  35. ^ Caro, Mark (28 tháng 6 năm 2004). “Caro reviews Spider-Man 2. Chicago Tribune. Bản gốc lưu trữ 28 tháng 8 năm 2006. Truy cập 29 tháng 5 năm 2017. 
  36. ^ Turan, Kenneth (29 tháng 6 năm 2004). “Turan reviews Spider-Man 2. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ 29 tháng 9 năm 2007. Truy cập 29 tháng 5 năm 2017. 
  37. ^ Ebert, Roger (30 tháng 6 năm 2004). “Ebert reviews Spider-Man 2. Chicago Sun-Times. Truy cập 29 tháng 5 năm 2017. 
  38. ^ “Ebert's 10 Best Lists 1967–Present”. Chicago Sun-Times. 15 tháng 12 năm 2004. Bản gốc lưu trữ 8 tháng 9 năm 2006. Truy cập 12 tháng 7 năm 2018. 
  39. ^ “The 77th Academy Awards (2005) Nominees and Winners”. oscars.org. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 6 năm 2014. Truy cập 20 tháng 11 năm 2014. 
  40. ^ “2005 Saturn Awards”. LOCUS Index. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2010. Truy cập 3 tháng 6 năm 2017. 
  41. ^ “BAFTA awards from 2000–nay” (PDF). BAFTA. Truy cập 3 tháng 9 năm 2017. 
  42. ^ “AFI MOVIES OF THE YEAR-OFFICIAL SELECTIONS”. American Film Institute. Truy cập 3 tháng 6 năm 2007. 
  43. ^ AFI's 10 Top 10 Ballot Lưu trữ 2011-08-07 tại Wayback Machine.
  44. ^ AFI's 100 Years...100 Cheers Ballot Lưu trữ 14 tháng 7 năm 2010 tại Wayback Machine.
  45. ^ AFI's 100 Years...100 Movies – 10th Anniversary Edition Ballot Lưu trữ 19 tháng 9 năm 2009 tại Wayback Machine.
  46. ^ Ebert, Roger (25 tháng 1 năm 2011). “And the nominees are...”. Chicago Sun-Times (John Barron). Truy cập 23 tháng 6 năm 2017. 
  47. ^ “AFI Movies Of The Year-Official Selection”. Viện phim Mỹ. Truy cập 23 tháng 6 năm 2014. 
  48. ^ “2005 BMI Film/TV Awards”. Broadcast Music Incorporated. 18 tháng 5 năm 2005. Truy cập 23 tháng 6 năm 2017. 
  49. ^ Singh, Anita (17 tháng 1 năm 2005). “Double Bafta nomination for Winslet”. The Independent (London: Independent Print Limited). Truy cập 23 tháng 6 năm 2014. 
  50. ^ “The 10th Critics' Choice Movie Awards Winners And Nominees”. Broadcast Film Critics Association Awards. Bản gốc lưu trữ 19 tháng 7 năm 2012. Truy cập 23 tháng 6 năm 2014. 
  51. ^ “The 41st C.A.S. Award Winners and Nominees for 2004”. Cinema Audio Society. Bản gốc lưu trữ 23 tháng 7 năm 2008. Truy cập 23 tháng 6 năm 2017. 
  52. ^ “Previous Winners”. Empire. Bauer Consumer Media. Truy cập 23 tháng 6 năm 2017. 
  53. ^ “Empire Awards - the nominees”. Daily Mail (London: Associated Newspapers Ltd). Truy cập 23 tháng 6 năm 2014. 
  54. ^ “5th Annual Golden Trailer Award Winner and Nominees”. Golden Trailer Awards. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 4 năm 2014. Truy cập 23 tháng 6 năm 2014. 
  55. ^ “2005 Hugo Awards”. Hugo Awards. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 5 năm 2011. Truy cập 23 tháng 6 năm 2014. 
  56. ^ Soares, Andre (9 tháng 2 năm 2005). “London Film Critics Awards 2005”. Alt Film Guide. Truy cập 23 tháng 6 năm 2014. 
  57. ^ Cosgrove, Ben (4 tháng 5 năm 2005). “Vicious Teens And Happy Drunk Lead 2005 MTV Movie Awards Nominees”. MTV. Viacom. Truy cập 23 tháng 6 năm 2014. 
  58. ^ “2005”. People Choice Awards. Truy cập 23 tháng 6 năm 2011. 
  59. ^ “2005-A* 9th Annual Satellite™ Awards - January 2005”. Satellite Awards. Bản gốc lưu trữ 18 tháng 7 năm 2011. Truy cập 23 tháng 6 năm 2014. 
  60. ^ “The 31st Annual Saturn Awards Nominations”. Saturn Awards. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 10 năm 2003. Truy cập 23 tháng 6 năm 2014. 
  61. ^ “3rd Annuel VES Awards”. Visual Effects Society Awards. Bản gốc lưu trữ 8 tháng 2 năm 2012. Truy cập 23 tháng 6 năm 2014. 
  62. ^ “2005 Taurus World Stunt Awards Nominees” (PDF). World Stunt Awards. Bản gốc (PDF) lưu trữ 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập 28 tháng 8 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Sam Raimi Bản mẫu:Spider-Man trong phương tiện đại chúng