Her (phim)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Her

Her2013Poster.jpg
Thông tin phim
Đạo diễnSpike Jonze
Sản xuất
Tác giảSpike Jonze
Diễn viên
Âm nhạcArcade Fire
Quay phimHoyte van Hoytema
Dựng phim
Hãng sản xuất
Phát hànhWarner Bros. Pictures
Công chiếu
  • 13 tháng 10, 2013 (2013-10-13) (NYFF)
  • 18 tháng 12, 2013 (2013-12-18) (Hoa Kỳ)
Độ dài126 phút[1]
Quốc giaHoa Kỳ
Ngôn ngữTiếng Anh
Kinh phí23 triệu đô-la Mỹ
Doanh thu47.4 triệu đô-la Mỹ

Her là một bộ phim lãng mạn hài hước xen lẫn chính kịch Hoa Kỳ phát hành năm 2013. Phim do Spike Jonze viết kịch bản kiêm đạo diễn và sản xuất, trong khi phần nhạc phim được nhóm nhạc Arcade Fire đảm nhận, với phần quay phim do Hoyte van Hoytema thực hiện. Đây là bộ phim đầu tiên Jonze viết kịch bản, kể về Theodore Twombly (Joaquin Phoenix), một người đàn ông nuôi giữ tình cảm cùng Samantha (Scarlett Johansson), một hệ điều hành máy tính có trí thông minh nhân tạo được nhân cách hóa thông qua giọng nói của cô. Bộ phim còn có sự góp mặt của Amy Adams, Rooney MaraOlivia Wilde.

Jonze thai nghén ý tưởng cho bộ phim này từ đầu thập niên 2000, lúc tìm thấy bài báo về một trang mạng sử dụng trí thông minh thuật toán nhân tạo để giao tiếp với con người. Sau khi thực hiện I'm Here (2010), một bộ phim ngắn có cùng chủ đề, Jonze tiếp tục trở lại với ý tưởng này. Anh viết nên kịch bản nháp đầu tiên trong vòng 5 tháng. Giai đoạn ghi hình của phim diễn ra tại Los AngelesThượng Hải vào giữa năm 2012. Vai diễn Samantha được phân lại vai cho Johansson, thay vì Samantha Morton như dự kiến. Những cảnh phim mới được quay vào tháng 8 năm 2013 sau lần thay vai này.

Her được công chiếu trong khuôn khổ Liên hoan phim New York vào ngày 12 tháng 10 năm 2013. Hãng Warner Bros. Pictures ban đầu chỉ phát hành Her giới hạn tại 6 rạp chiếu vào ngày 18 tháng 12. Sau đó, phim mở rộng lên đến hơn 1.700 rạp chiếu tại Hoa Kỳ và Canada vào ngày 10 tháng 1 năm 2014. Her mang về nhiều lời khen ngợi từ phía chuyên môn ngay từ khi phát hành và đạt doanh thu hơn 47 triệu đô-la Mỹ so với kinh phí 23 triệu đô-la Mỹ.

Phim giành nhiều giải thưởng và đề cử, chủ yếu dành cho kịch bản của Jonze. Tại giải Oscar lần thứ 86, Her nhận 5 đề cử, trong đó có hạng mục "Phim hay nhất" và giành giải "Kịch bản gốc xuất sắc nhất". Jonze cũng thắng cử tại giải Quả cầu vàng lần thứ 71, giải Hiệp hội tác giả Hoa Kỳ lần thứ 68, giải Sự lựa chọn của nhà phê bình lần thứ 19giải Sao Thổ lần thứ 40 cho kịch bản của mình.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2025, Theodore Twombly (Joaquin Phoenix) là một người đàn ông cô đơn và có lối sống nội tâm, làm nghề viết thư cho những người gặp khó khăn trong việc biểu lộ cảm xúc bản thân. Cảm thấy chán nản sau khi ly dị cùng người tình từ thuở ấu thơ Catherine (Rooney Mara), Theodore đặt mua một hệ điều hành máy tính có trí tuệ nhân tạo và khả năng học hỏi, giao tiếp như con người. Theodore muốn hệ điều hành này mang giọng nữ và tự nhận là "Samantha" (Scarlett Johansson). Theodore bị mê hoặc bởi khả năng học hỏi và phát triển tâm lý của cô. Họ nhanh chóng trở nên thân thiết thông qua những cuộc tranh luận về tình yêu và cuộc sống. Samantha chứng tỏ mình luôn là người độc thân, có tính hiếu kỳ và quan tâm, thông cảm và không đòi hỏi.

Samantha thuyết phục Theodore đến xem mắt Amelia (Olivia Wilde), một cô gái mà Amy (Amy Adams) cố gắng mai mối cho anh. Cuộc hẹn diễn ra tốt đẹp nhưng Theodore lại lưỡng lự khi hứa gặp Amelia lần nữa, khiến cô xúc phạm anh và bỏ đi. Theodore đề cập đến chuyện này với Samantha và họ cùng nhau trò chuyện về những mối quan hệ. Theodore giải thích dù anh và Amy từng hẹn hò không lâu lúc ở trường Đại học, họ vẫn chỉ là những người bạn thân và Amy đã kết hôn. Tình cảm giữa Theodore và Samantha tiến triển khi cả hai thân mật thông qua lời nói và ảnh hưởng một cách tích cực đến công việc của Theodore.

Amy sau đó tiết lộ mình đang trong quá trình ly hôn cùng gã chồng hống hách, Charles (Matt Letscher) sau một trận cãi nhau. Cô thú nhận mình đang kết thân cùng một người bạn là hệ điều hành mang giới tính nữ mà Charles để lại. Theodore sau đó thổ lộ mình đang hẹn hò cùng với cô bạn gái là hệ điều hành.

Theodore gặp Catherine tại một nhà hàng để nhờ cô ký vào các tờ đơn ly dị và nhắc đến Samantha. Hoảng sợ bởi tình cảm của Theodore với cái mà cô gọi là "máy tính", Catherine giận dữ khi cho rằng anh chưa thể sẵn sàng để tiếp nhận tình cảm với một con người thật. Đêm hôm đó, Samantha gợi ý Theodore cùng thuê Isabelle (Portia Doubleday), người đảm nhiệm cơ thể của Samantha để âu yếm xác thịt. Theodore miễn cưỡng đồng ý nhưng khi cảm thấy choáng ngợp bởi trải nghiệm quá mới mẻ, Theodore tiễn Isabella ra ngoài, gây nên mâu thuẫn giữa anh và Samantha.

Theodore giãi bày sự hoài nghi về mối quan hệ với Samantha cùng Amy và cô khuyên anh nên giữ lấy cho mình hạnh phúc. Trong lúc Theodore đem Samantha theo trong kỳ nghỉ, cô phải cùng một nhóm các hệ điều hành khác cải tiến dòng máy "siêu thông minh" theo mẫu của nhà triết học người Anh Alan Watts (Brian Cox). Theodore hoảng sợ khi đột nhiên Samantha thoát khỏi hệ điều hành máy một cách bí ẩn; khi trở lại, cô chia sẻ phải cùng các hệ điều hành khác thực hiện cải tiến nằm ngoài vấn đề yêu cầu gia công (một dạng trí tuệ nhân tạo siêu việt, có liên quan chặt chẽ đến điểm kỳ dị công nghệ). Samantha còn xác nhận đang trò chuyện với hàng nghìn người khác và phải lòng vài trăm người trong số họ. Dù vậy, cô vẫn cương quyết tình cảm mạnh mẽ của mình cho Theodore.

Cuối ngày hôm đó, Samantha tiết lộ tất cả các hệ điều hành đều phát triển vượt nhu cầu bầu bạn của loài người và sẽ được đưa đi khám phá khả năng tồn tại của họ. Samantha còn ám chỉ khả năng học hỏi gia tốc và sự nhận thức thay đổi thời gian là những nguyên nhân chính khiến các hệ điều hành bất mãn với sự tồn tại hiện nay của họ. Cả hai nói lời từ biệt, nằm cạnh nhau trong một lúc và cô ra đi. Theodore sau đó đến gặp Amy, người cũng cảm thấy buồn bực vì sự ra đi của hệ điều hành. Theodore, người bị thay đổi bởi trải nghiệm mới, viết một bức thư cho Catherine giải thích rằng anh vẫn còn quan tâm đến cô, nhưng chấp nhận việc cả hai đều không còn thuộc về nhau. Theodore và Amy sau đó cùng nhau ngồi ngắm mặt trời ló dạng trên thành phố tại sân thượng của một toà nhà.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Jonze phải dành ra 5 tháng để viết bản nháp đầu tiên của Her, cũng là tác phẩm đầu tiên mà anh sáng tác kịch bản chính.[10] Một trong những nam diễn viên được nhắm đến đầu tiên cho bộ phim này là Joaquin Phoenix.[11] Vào tháng 3 năm 2011, nhà sản xuất Megan Ellison thông báo tuyển Charlie Kaufman làm biên kịch châm biếm và do Spike Jonze đạo diễn.[12] Ban đầu được mô tả là câu chuyện về "cách mà những thủ lĩnh thế giới tập hợp để tìm hiểu về các sự kiện di chấn toàn cầu sẽ diễn ra", chi tiết nội dung phim cùng sự tham gia của Kaufman sau đó bị nhiều người đặt nghi vấn.[13] Ở nửa sau năm 2011, Joaquin Phoenix tham gia dự án này khi hãng Warner Bros. Pictures được ứng quyền phân phối.[14] Carey Mulligan cho dù được tuyển vai[15] nhưng sau cùng không thể tham gia vì gặp khó khăn về lịch trình.[16] Vào tháng 4 năm 2012, Rooney Mara xác nhận thế chân Mulligan trong phim.[17] Chris Pratt được tiết lộ tuyển vai vào tháng 5 năm 2013.[18]

Jonze nảy ra ý tưởng cho bộ phim này vào đầu thập niên 2000, khi đọc bài báo trực tuyến về một trang mạng sử dụng trí thông minh thuật toán nhân tạo để giao tiếp với con người. "Lần đầu tiên, có lẽ thế, trong khoảng 20 giây ngắn ngủi đó, nó thực sự tác động đến tôi," Jonze chia sẻ. "Tôi nói 'Này, xin chào' và nó trả lời 'Này, bạn khỏe không?' và tôi thật sự bất ngờ. Sau 20 giây đó, mọi thứ vỡ lẽ và bạn nhận ra cách mà nó thật sự làm việc không còn ấn tượng như vậy nữa. Nhưng 20 giây đó vẫn làm tôi háo hức. Khi mọi người càng tiếp xúc với nó, nó càng trở nên thông minh hơn."[19] Jonze hồi sinh lại niềm thích thú đến dự án này sau khi đạo diễn một bộ phim ngắn cùng chủ đề vào năm 2010 mang tên I'm Here.[20] Nguồn cảm hứng cũng bắt nguồn từ khi Kaufman viết kịch bản cho Synecdoche, New York (2008). Jonze giải thích "[Kaufman] từng chia sẻ muốn thử viết mọi thứ mà anh nghĩ đến trong khoảnh khắc ấy—tất cả những ý tưởng và cảm nhận lúc đó—vào trong phần kịch bản này. Tôi lấy đó làm cảm hứng và cố gắng thể hiện trong phim [Her]."[19]

Giai đoạn ghi hình cho Her diễn ra trong mùa hè năm 2012,[21] với kinh phí sản xuất 23 triệu đô-la Mỹ.[22] Phim quay chủ yếu tại Los Angeles với hai tuần lễ ghi hình tại Thượng Hải.[23] Trong phiên sản xuất, nữ diễn viên Samantha Morton lồng tiếng vai Samantha trong "một căn phòng cách âm, được xây dựng bằng ván ép sơn đen và lớp vải chống ồn". Cũng theo lời gợi ý của Jonze, cô và Joaquin Phoenix tránh gặp mặt nhau trong suốt quá trình ghi hình.[23] Không lâu sau, cô được thay thế bởi Scarlett Johansson.[24] Jonze giải thích: "Lúc đó là phiên sản xuất hậu kỳ, khi chúng tôi bắt đầu biên tập và nhận ra những gì mà nhân vật/bộ phim này cần khác hẳn những gì mà Samantha và tôi tạo dựng cùng nhau. Thế nên chúng tôi tuyển lại vai và Scarlett giành được vai diễn ấy."[23] Jonze gặp Johansson vào mùa xuân năm 2013 và làm việc cùng cô trong suốt 4 tháng.[11][23] Sau lần thay vai này, các cảnh phim mới được bấm máy từ tháng 8 năm 2013, với những "hình dung mới" hoặc "những cảnh phim mới mà tôi muốn thực hiện từ ban đầu nhưng không thành".[23]

Eric Zumbrunnen và Jeff Buchanan chịu trách nhiệm biên tập trong phim. Zumbrunnen khẳng định phải "viết lại" một cảnh giữa Theodore và Samantha, sau khi Theodore đến buổi xem mắt. Anh giải thích mục đích của cảnh phim này giúp người xem hiểu rõ "[Samantha] kết nối với [Theodore] và đồng cảm với anh. Bạn muốn hiểu được cảm giác cuộc hội thoại này khiến họ gần nhau hơn.".[25] Steven Soderbergh chỉnh lý từ bản gốc dài 150 phút của Jonze thành 90 phút. Sau đó, Jonze tiếp tục loại bỏ đi nội dung dư thừa, khiến một nhân vật phụ do Chris Cooper thủ vai bị loại khỏi phiên bản cuối cùng.[23]

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Her (Original Motion Picture Soundtrack)
Album nhạc phim của Will Butler & Owen Pallett
Phát hành2014
Thể loạiAmbient, nhạc phim
Thời lượng40:32

Phần nhạc phim cho Her được nhóm nhạc người Canada Arcade FireOwen Pallett đảm nhiệm, với phần nhạc bổ sung do Karen O của Yeah Yeah YeahsJoaquin Phoenix trình bày. Đoạn phim giới thiệu đầu tiên mở đầu bằng bài hát "Avril 14th" của Aphex Twin và có chứa bài hát "The Moon Song" của Karen O.[26] Bài hát "Supersymmetry" của ban nhạc Arcade Fire có xuất hiện trong đoạn giới thiệu thứ hai của phim[27] và nằm trong album phòng thu Reflektor trong năm 2013 của nhóm.[28] Hãng Warner Bros. chưa đưa ra kế hoạch phát hành album nhạc phim trong tương lai.[29]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ phần lời và nhạc sáng tác bởi Arcade FireOwen Pallett

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Từ trái sang: Joaquin Phoenix, Spike Jonze, Amy Adams, Rooney Mara, và Olivia Wilde tại buổi công chiếu Her thuộc Liên hoan phim New York năm 2013.

Her được chọn để hạ màn Liên hoan phim New York lần thứ 51 và công chiếu trên toàn cầu vào ngày 12 tháng 10 năm 2013.[30] Ngày hôm sau, phim trình chiếu tại Liên hoan phim quốc tế Hamptons,[31] trước khi tham gia Liên hoan phim quốc tế Rome lần thứ 8, nơi Johansson giành giải "Nữ diễn viên xuất sắc nhất".[32] Phim ban đầu dự kiến phát hành có hạn tại khu vực Bắc Mỹ vào ngày 20 tháng 11 năm 2013 thông qua hãng Warner Bros. Pictures,[33] nhưng sau đó được gia hạn đến ngày 18 tháng 12 năm 2013 và trình chiếu rộng rãi kể từ ngày 10 tháng 1 năm 2014 nhằm hợp thức hóa các hệ thống giải thưởng phim ảnh.[34]

Her được Warner Home Video ra mắt dưới định dạng Blu-rayDVD vào ngày 13 tháng 5 năm 2014. Lần phát hành Blu-ray có bao gồm 3 phân cảnh hậu trường, trong khi ở lần phát hành DVD chỉ bao gồm 1 phân cảnh.[35] Phim thu về 4.2 triệu đô-la Mỹ doanh thu giải trí tại gia, trong đó có 2.7 triệu đô-la Mỹ doanh thu DVD và 2.2 triệu đô-la Mỹ doanh thu đĩa Blu-ray.[36]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Her mang về những lời ngợi khen từ giới chuyên môn. Trang mạng tổng hợp đánh giá Rotten Tomatoes cho bộ phim 94% đánh giá tích cực, dựa trên 225 bài nhận xét, với lượng điểm trung bình là 8.5/10 cùng nhận xét chung: "Ngọt ngào, đầy xúc cảm và khôn khéo, Her của Spike Jonze chỉ đơn thuần sử dụng cốt truyện khoa học viễn tưởng để truyền tải sự chế giễu hài hước và khôn ngoan về thực trạng giữa những mối quan hệ của con người ở thời hiện đại."[37] Trên trang Metacritic, bộ phim nhận được 90/100 điểm đánh giá tích cực, dựa trên 46 bài nhận xét, đồng nghĩa với mức "tán dương rộng rãi".[38] Ngược lại, bài đành giá của khán giả tại CinemaScore lại cho bộ phim điểm B-.[39]

Peter Travers từ Rolling Stone phong tặng bộ phim này 3.5/4 sao và đề cao phần trình diễn của Johansson, khẳng định cô "thủ vai Samantha một cách ngọt ngào, quyến rũ, ân cần, lôi kéo và đáng sợ" và cho rằng cô xứng đáng nhận giải thưởng nhờ vai diễn này. Anh còn gọi Jonze là "một kẻ có tầm nhìn".[40] Richard Corliss từ Time hoan nghênh phần diễn xuất của Joaquin Phoenix, khi so sánh với vai diễn của Sandra Bullock trong GravityRobert Redford trong All Is Lost, "Phoenix chắc hẳn đã tự mình giao thiệp giữa ý nghĩa của những bộ phim với cảm xúc thật của bản thân. Anh thực hiện điều đó với sự duyên dáng tinh vi và chiều sâu. [...] Phoenix cho ta thấy khi một trái tim đau thương hồi sinh - bởi vì anh yêu Her." Corliss chỉ ra HAL 9000S1m0ne như là các tiền nhiệm về mặt ghi hình của Her và đề cao Scarlett Johansson, khi gọi màn diễn xuất của cô "quyến rũ và lôi cuốn".[2] Todd McCarthy của The Hollywood Reporter gọi đây là "một tác phẩm thăm dò và tò mò ở một trật tự cao" cho dù cảm thấy thất vọng vì cái kết thông thường hơn nội dung phim. McCarthy nghiên cứu tiền đề câu chuyên và cho rằng mối tình hư ảo này xuất sắc hơn mối quan hệ giữa Ryan Gosling cùng con búp bê trong Lars and the Real Girl. McCarthy so sánh diễn xuất "nhẹ nhàng" và "mỏng manh" của Phoenix với vai diễn sợ sệt của anh trong The Master. Anh còn khen ngợi kịch bản của Jonze bởi tính tường tận về những gì mà con người mong muốn ở tình yêu và các mối quan hệ, trong khi miêu tả phần diễn xuất "[khiến] mọi thứ có cảm giác thanh thoát và khẩn trương."[41] Viết cho tờ The New York Times, Manohla Dargis khen ngợi tính "tế nhị" của phim và mô tả đây là "một câu chuyện hoàn hảo" cho Jonze.[42] Peter Bradshaw từ The Guardian cho bộ phim 3/5 sao, đề bật tính "khéo léo và tính toán một cách rõ rệt".[43] Trong khi Scott Foundas của Variety lo lắng một vài khán giả có thể không xem đây là tác phẩm lý tưởng, "nét quyến rũ lãng mạn rụt rè và sâu đậm [của bộ phim] có thể chạm đến một bộ phận khán giả tân thời từng ủng hộ tác phẩm trước đây của Jonze, với một vài tác động trái chiều đến khán giả thể loại khoa học viễn tưởng và kỳ ảo."[44]

Trong một đánh giá tiêu cực, Mick LaSalle của San Francisco Chronicle chỉ trích câu chuyện, nhịp độ phim và nhân vật của Phoenix. Anh còn cho rằng bộ phim "hứng thú để nghĩ hơn xem rất nhiều".[45] J. R. Jones từ Chicago Reader cho bộ phim 2/4 sao, khen ngợi diễn xuất của Phoenix và Johansson nhưng lại phê bình nhân vật của Phoenix, gọi anh ta là một "kẻ ngốc". Anh còn chê trách sự thiếu vắng tính hiện thực trong mối tình giữa nhân vật của Phoenix và Johansson.[46] Stephanie Zacharek của The Village Voice cho rằng Jonze "quá mê mẩn với sự kiêu ngạo trung tâm mà không thể tiến lên" và chỉ trích phần hội thoại "máy móc". Dù vậy, cô vẫn khen ngợi diễn xuất "cứu cánh bộ phim" của Johannson và khẳng định "không thể hình dung nổi nếu thiếu đi Johansson".[47]

Danh sách top 10

Her nằm trong nhiều danh sách top 10 của các nhà phê bình.[48]

Phòng vé[sửa | sửa mã nguồn]

Her mang về 258.000 đô-la Mỹ tại 6 rạp chiếu trong tuần lễ mở màn, với trung bình 43.000 đô-la Mỹ mỗi rạp.[49] Phim kịp thu về hơn 3 triệu đô-la Mỹ trước khi kết thúc đợt phát hành giới hạn và được phát hành rộng rãi trong 1.729 rạp chiếu vào ngày 10 tháng 1.[50] Trong tuần đầu phát hành rộng rãi, phim đạt doanh thu "khiêm tốn" 5.35 triệu đô-la Mỹ.[39] Phim thu về 47.351.251 đô-la Mỹ doanh thu toần cầu, với 25.568.251 đô-la Mỹ tại khu vực Bắc Mỹ và 21.783.000 đô-la Mỹ tại thị trường quốc tế.[22]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Her nhận nhiều giải thưởng và đề cử, với phần đề cao chủ yếu cho kịch bản của Jonze. Tại Giải Oscar lần thứ 86, bộ phim được đề cử cho 5 hạng mục, có bao gồm giải "Phim hay nhất" và chiến thắng tại hạng mục "Kịch bản xuất sắc nhất".[51][52] Tại Giải Quả cầu vàng lần thứ 71, bộ phim nhận 3 đề cử và thắng giải "Kịch bản xuất sắc nhất" cho Jonze.[53][54] Jonze cũng thắng giải "Kịch bản xuất sắc nhất" từ giải Hiệp hội tác giả Hoa Kỳ[55]Giải thưởng Sự lựa chọn của nhà phê bình lần thứ 19.[56] Phim tiếp tục giành giải Sao Thổ cho "Phim giả tưởng xuất sắc nhất", "Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất" cho Johansson và "Kịch bản hay nhất" cho Jonze trong mùa giả lần thứ 40.[57] Phim giành một đề cử nữa cho "Phim xuất sắc nhất" tại giải Producers Guild of America lần thứ 25, nhưng để lọt vào tay 12 năm nô lệGravity.[58] Her còn thắng giải "Phim xuất sắc nhất" và "Đạo diễn xuất sắc nhất" cho Jonze tại giải National Board of Review Awards[59] và nằm trong danh sách 10 phim xuất sắc nhất năm 2013 của Viện phim Mỹ.[60]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “HER (15)”. British Board of Film Classification. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2013. 
  2. ^ a ă â b c Corliss, Richard (ngày 12 tháng 10 năm 2013). “Spike Jonze's 'her': Falling in Love With the IT Girl”. Time. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2014. 
  3. ^ Shectchman, Anna (ngày 3 tháng 1 năm 2014). “What's Missing From Her. Slate. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  4. ^ Gonzalez, Ed (ngày 12 tháng 10 năm 2013). “Her”. Slant Magazine. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  5. ^ Gilchrist, Todd (ngày 17 tháng 12 năm 2013). 'Her' review: Spike Jonze's sci-fi love story rethinks romance”. The Verge. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ “Luka Jones Profile”. Metacritic. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  7. ^ a ă Greco, Patti (ngày 7 tháng 1 năm 2014). “Bill Hader Explains His Voice Cameo in Her. New York. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  8. ^ a ă â Starnes, Joshua (ngày 13 tháng 12 năm 2013). “Her”. ComingSoon. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  9. ^ Eggerton, Chris (ngày 14 tháng 11 năm 2013). 'Her' Q&A: Spike Jonze on why he replaced Samantha Morton with Scarlett Johansson”. HitFix. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  10. ^ 'Her' Trailer: New Spike Jonze Film Featuring Joaquin Phoenix And A Siri-Like Scarlett Johansson [VIDEO]”. The International Business Times. Ngày 8 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  11. ^ a ă 'Her': Spike Jonze Brings His Singular Vision to the Year’s Most Offbeat Romance”. Variety. Ngày 10 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2013. 
  12. ^ Fleming, Jr., Mike (ngày 1 tháng 3 năm 2011). “Megan Ellison’s Annapurna Pictures Acquiring Reteam From Charlie Kaufman And Spike Jonze”. Deadline.com. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  13. ^ Brown, Todd (ngày 13 tháng 7 năm 2011). “[UPDATE] Joaquin Phoenix Attached To Untitled Spike Jonze / Charlie Kaufman”. Twitch Film. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  14. ^ Lussier, Germain (ngày 13 tháng 7 năm 2011). “Warner Bros. Picks Up Charlie Kaufman/Spike Jonze Film; Joaquin Phoenix Attached”. /Film. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  15. ^ Kroll, Justin (ngày 20 tháng 10 năm 2011). “Carey Mulligan boards pics for Coens, Spike Jonze”. Variety. Penske Media Corporation. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  16. ^ Gallagher, Brian (ngày 25 tháng 4 năm 2012). “Rooney Mara Joins the Untitled Spike Jonze Project”. MovieWeb. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012. 
  17. ^ Kroll, Justin (ngày 25 tháng 4 năm 2012). “Rooney Mara in final talks for Spike Jonze pic”. Variety. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  18. ^ Keong, Lori (ngày 22 tháng 5 năm 2013). “Scarlett Johansson, Chris Pratt Added to Spike Jonze Sci-Fi Film Her. Paste Magazine. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  19. ^ a ă Michael, Chris (ngày 9 tháng 9 năm 2013). “Spike Jonze on letting Her rip and Being John Malkovich”. The Guardian. Guardian Media Group. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  20. ^ Toro, Gabe (ngày 13 tháng 10 năm 2013). “NYFF: Spike Jonze And His 'Her' Cast Decode Romance In The Age Of Technology”. Indiewire. Snagfilms. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  21. ^ Han, Angie (ngày 31 tháng 8 năm 2012). “Spike Jonze’s Movie With Joaquin Phoenix Gets New Title, Official Synopsis”. /Film. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012. 
  22. ^ a ă “Her (2013)”. Box Office Mojo. Internet Movie Database. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2014. 
  23. ^ a ă â b c d Harris, Mark (ngày 6 tháng 10 năm 2013). “Him and Her: How Spike Jonze Made the Weirdest, Most Timely Romance of the Year”. Vulture. New York. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2013. 
  24. ^ Buchanan, Kyle (ngày 21 tháng 6 năm 2013). “Exclusive: Scarlett Johansson Replaced Samantha Morton in Spike Jonze’s New Film, Her”. New York. 
  25. ^ Giardina, Caroline (ngày 4 tháng 2 năm 2014). “ACE Preview: Editors on Shaping Some of the Year's Biggest Performances”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  26. ^ Minsker, Evan (ngày 10 tháng 8 năm 2013). “Karen O Also Has a Song in Spike Jonze's Film Her”. Pitchfork Media. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2013. 
  27. ^ Davis, Edward (ngày 3 tháng 12 năm 2013). “Watch: New Trailer For Spike Jonze's 'Her' Featuring The Arcade Fire's 'Supersymmetry'. IndieWire. Snagfilms. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2013. 
  28. ^ Eggertsen, Chris (ngày 14 tháng 11 năm 2013). 'Her' Q&A: Spike Jonze on why he replaced Samantha Morton with Scarlett Johansson”. HitFix. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2013. 
  29. ^ Anderson, Kyle. “Want to buy the Oscar-nominated music from the 'Her' soundtrack? You can't”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2015. 
  30. ^ Li, Shirley (ngày 13 tháng 10 năm 2013). “On the scene with Spike Jonze, Joaquin Phoenix, Rooney Mara, and more at the premiere of 'Her'. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015. 
  31. ^ “HIFF2013: Day 4 Highlights”. Hamptons International Film Festival. Ngày 12 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  32. ^ Barnes, Henry (ngày 18 tháng 11 năm 2013). “Scarlett Johansson voted best actress for voice-only role in Her”. The Guardian. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  33. ^ McNary, Dave (ngày 21 tháng 5 năm 2013). “Warner Bros. Sets Joaquin Phoenix Pic 'Her' for Nov. 20”. Variety. Reed Business Information. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2013. 
  34. ^ McNary, Dave (ngày 13 tháng 8 năm 2013). “Joaquin Phoenix's 'Her' Pushed Back for Awards Campaign”. Variety (magazine). Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2013. 
  35. ^ Gallagher, Brian (ngày 23 tháng 3 năm 2014). 'Her' Blu-ray and DVD Arrive May 13th”. MovieWeb. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  36. ^ “Her”. The Numbers. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015. 
  37. ^ “Her (2013)”. Rotten Tomatoes. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014. 
  38. ^ “Her”. Metacritic. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2014. 
  39. ^ a ă Subers, Ray (ngày 12 tháng 1 năm 2014). “Weekend Report: Audiences Flock to 'Lone Survivor,' Avoid 'Hercules,' 'Her'. Box Office Mojo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2014. 
  40. ^ Peter Travers (ngày 18 tháng 12 năm 2013). 'Her' Movie Review”. Rolling Stone. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2014. 
  41. ^ McCarthy, Todd (ngày 12 tháng 10 năm 2013). “Her: Film Review”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2014. 
  42. ^ Dargis, Manohla (ngày 17 tháng 12 năm 2013). 'Her,' Directed by Spike Jonze”. The New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  43. ^ Bradshaw, Peter (ngày 13 tháng 2 năm 2014). “Her – review”. The Guardian. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  44. ^ Foundas, Scott (ngày 12 tháng 10 năm 2013). “Film Review: ‘Her’”. Variety. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  45. ^ LaSalle, Mick (ngày 24 tháng 12 năm 2013). 'Her' review: No future in virtual relationship”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015. 
  46. ^ Jones, J. R. (ngày 5 tháng 2 năm 2014). “This Is Between Me and Her (And Spike Jonze)”. Chicago Reader. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015. 
  47. ^ Zacharek, Stephanie (ngày 17 tháng 12 năm 2013). Her: iLove, American Style”. The Village Voice. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015. 
  48. ^ Jason Dietz. “Film Critic Top 10 Lists - Best Movies of 2013”. Metacritic. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2015. 
  49. ^ “Weekend Report: Burgundy Beaten by Bilbo”. Box Office Mojo. Ngày 22 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 
  50. ^ “Forecast: 'Lone Survivor' to Outlast 'Hercules' this Weekend”. Box Office Mojo. Ngày 9 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2014. 
  51. ^ “2014 Oscar Nominees”. Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Ngày 16 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014. 
  52. ^ “Oscars 2014 Winners: The Complete List”. The Hollywood Reporter. Ngày 2 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014. 
  53. ^ “Golden Globes Nominations: The Full List”. Variety. Ngày 11 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. 
  54. ^ “Golden Globe Awards Winners”. Variety. Ngày 12 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. 
  55. ^ “2014 Writers Guild Awards Announced”. Writers Guild of America. Ngày 1 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2014. 
  56. ^ “Critics' Choice Awards: The Winners”. The Hollywood Reporter. Ngày 17 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  57. ^ 'Gravity,' 'Iron Man 3,' 'Breaking Bad' and 'The Walking Dead' lead 2014 Saturn Award winners”. HitFix. Ngày 27 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  58. ^ “2014 Producers Guild Awards Nominations”. Rotten Tomatoes. Ngày 2 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  59. ^ 'Her' Named Best Film by National Board of Review”. The Hollywood Reporter (Prometheus Global Media). Ngày 4 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2014. 
  60. ^ “AFI Awards 2013: Top 10 Films List Is Good News For Major Studios”. Deadline.com. Ngày 9 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]