Justin Timberlake

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Justin Timberlake
Justin Timberlake by Gage Skidmore 2.jpg
Justin Timberlake tại San Diego Comic-Con International 2016
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Justin Randall Timberlake
Sinh 31 tháng 1, 1981 (35 tuổi)
Memphis, Tennessee, Mỹ
Thể loại Pop, R&B, neo soul
Nghề nghiệp ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất, diễn viên, doanh nhân
Năm hoạt động 1992–nay
Hãng đĩa Jive, RCA
Hợp tác với
Website JustinTimberlake.com

Justin Randall Timberlake (sinh ngày 31 tháng 1 năm 1981) là ca sĩ kiêm nhạc sĩ nhạc pop/R&Bdiễn viên người Mỹ. Justin xuất hiện lần đầu với vai trò một thí sinh trong cuộc thi tìm kiếm tài năng "Star Search", và đã trở thành diễn viên chính trong series phim truyền hình của kênh Disney Channel là The New Mickey Mouse Club, cùng với các ngôi sao nổi tiếng sau này như Britney Spears, Christina Aguilera, Ryan Gosling và người bạn cùng nhóm nhạc trong tương lai là JC Chasez. Justin Timberlake đã trở nên nổi tiếng vào cuối những năm 1990 khi là ca sĩ chính của nhóm nhạc 'N Sync.

Trong năm 2002, Justin phát hành album solo đầu tay, Justified, bán được hơn 7 triệu bản trên toàn thế giới. Album này đã thành công về thương mại, sinh ra các hit toàn cầu như "Cry Me a River" và "Rock Your Body". Justin tiếp tục thành công với album solo thứ hai của mình, FutureSex/LoveSounds (2006), ra mắt tại vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard 200, và sản sinh các hit đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ như: "SexyBack", "My Love", và "What Goes Around... Comes Around"".

Justin Timberlake đã giành 9 giải Grammy và 4 giải Emmy. Hai album phòng thu đầu tiên đều bán được hơn 7 triệu bản. Justin cũng tham gia đóng phim, đóng vai chính trong bộ phim như The Social Network, Bad TeacherFriends with Benefits.

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Anh sinh ra ở Memphis, Tennessee. Bố là Randall Timberlake và mẹ là Lynn nee Bomar. Cha mẹ Justin ly hôn vào khoảng năm 1985 và cả 2 đều đã tái hôn. Bà Bomar hiện đang điều hành công ty JustinTime Entertainment đã tái hôn với Paul Harless, một ông chủ nhà băng. Khi Justin 5 tuổi thì bố anh đã co 2 đứa con với người vợ thứ hai - Lisa. Một người em của Justin mất vào năm 1997 và được đề cập đến trong bài "My Angel in Heaven".

Justin Timberlake lớn lên ở Millington một thị trấn nhỏ phía Bắc Memphis. Năm 1993, Justin bắt đầu nổi tiếng khi tham gia vào hàng ngũ của Mickey Mouse Club. Club này còn có sự tham gia của Christina Aguilera, Britney Spears, Ryan Gosling và JC Chasez (thành viên ban nhạc *NSYNC sau này). Sau khi show này kết thúc, Justin cùng người bạn JC, Lou Pearlman, Chris Kirkpatrick thành lập nhóm nhạc 'NSYNC.

Phong cách hát và điệu nhảy của Justin có phần ảnh hưởng từ thần tượng là Michael Jackson.

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

1995-2002: 'N Sync[sửa | sửa mã nguồn]

Justin là thành viên nhóm nhạc 'N Sync, Nhóm thành lập năm 1995 và bắt đầu sự nghiệp ca hát vào năm 1996. Nhóm phát hành 3 album: *NSYNC vào năm 1998, No Strings Attached vào năm 2000, Celebrity năm 2001. Năm 2002, Justin ra album solo riêng, đơn phương đưa 'N Sync tan rã.

2002-04: Justified[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 2002, sau nhiều tháng thu âm, Justin trình diễn tại MTV Video Music Awards 2002 đồng thời ra mắt single đầu tiên "Like I Love You" trong album solo đầu tiên Justified. Chiếm được vị trí 11 trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Các single khác gồm: "Cry Me A River" và "Rock Your Body". Sau đó, anh tham gia chuyến lưu diễn Justified/Stripped Tour cùng Christina Aguilera. Đồng thời phát hành EP Justin & Christina.

2002-06: Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Vai diễn đầu tiên của Justin là vai một nhà báo trong phim Edison Force. Justin cũng xuất hiện trong nhữnng phim như Alpha Dog, Black Snake Moan, Richard Kelly's Southland Tales và lồng tiếng vua Arthur trong phim hoat hình Shrek the third đã chính thức giới thiệu vào hè năm 2007. Anh cũng xuất hiện trong vai Elton John lúc trẻ trong video của ông This Train Don't Stop There Anymore.

Sau đó, Justin tiếp tục thu âm với nhiều nghệ sĩ khác. Sau "Where Is the Love?", anh tiếp tục cộng tác với Black Eyed Peas bài "My Styles" trong album Monkey Business. Ngoài ra còn có "Work It" với Nelly, "Signs" với Snoop Dogg.

2006-07: FutureSex/LoveSounds[sửa | sửa mã nguồn]

Timberlake tham gia vào video Promiscuous của Nelly Furtado và Timbaland. Sau dó, phát hành album solo thứ hai FutureSex/LoveSounds vào ngày 9 tháng 12 năm 2006. Album dược thực hiện từ năm 2005, sản xuất bởi Timbaland, will.i.am, Rick Rubin và chính Timberlake. Single đầu tiên "Sexy Back]" rất thành công, nối tiếp là "My Love", "What Goes Around... Comes Around" đều chiếm những vị trí cao trong các bảng xếp hạng lớn trên thế giới.

Album này được đề cử một giải Grammy quan trọng là Album của năm thế nhưng đã để lọt giải vào nhóm nhạc Dexie Chicks với album Taking the Long Way, ca khúc "What Goes Around... Comes Around" đã thắng giải "Trình Diễn Nhạc Pop Giọng Nam xuất sắc nhất".

2007-12: tạm ngưng âm nhạc và tập trung vào diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

2013-2015: trở lại âm nhạc với The 20/20 Experience[sửa | sửa mã nguồn]

Timberlake bắt đầu làm việc cho album thứ ba The 20/20 Experience vào tháng 6 năm 2012.[1] Anh tuyên bố chính thức mình sẽ trở lại với âm nhạc vào tháng 1 năm 2013,[2] phát hành đĩa đơn đầu tiên "Suit & Tie" (kết hợp cùng Jay-Z) sau đó một tháng. Ngày 10 tháng 2, anh trình diễn "Suit & Tie" tại lễ trao giải Grammy lần thứ 55 cùng với Jay-Z. The 20/20 Experience được phát hành ngày 19 tháng 3[3]. Album đạt hạng 1 ở Billboard 200 trong tuần đầu tiên với 980.000 bản tại Mỹ.[4] Tháng 5 năm 2013, Timberlake thông báo The 20/20 Experience (2 of 2) sẽ được phát hành vào ngày 30 tháng 9 năm 2013.[5]

Công việc khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ca hát, Justin còn mở một nhà hàng ở Hoa Kỳ. Cùng với người bạn thời thơ ấu Trace Ayala thành lập nhãn hiệu William Rast gồm những bộ quần áo đẹp mắt dành cho giới trẻ.

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Justin Timberlake chịu ảnh hưởng lớn từ hai ca sĩ gạo cội của nền âm nhạc Mỹ, anh nói:

Cuộc sống riêng[sửa | sửa mã nguồn]

Justin từng là bạn trai của Britney Spears, bạn thuở nhỏ. Nhưng họ chia tay vào năm 2002 vì Timberlake cho rằng Britney là người không chung thuỷ. Justin còn viết bài "Cry Me a River" để nói về Britney. Cả cuộc chia tay này cũng được đưa vào single "What Goes Around... Comes Around". Lại có tin đồn là Justin viết bài hát này để nói về mối tình giữa Trace Ayala và Elisha Cuthbert.

Justin bắt đầu hẹn hò với Cameron Diaz từ năm 2003 và kết thúc vào cuối năm 2006. Có tin đồn Justin hẹn hò cùng Scarlett Johansson sau khi Scarlett tham gia vào video clip nóng bỏng "What goes around..." của Justin.

Ngoài đời, anh là một fan của CLB Manchester United, anh là bạn cầu thủ Alan Smith

Anh kết hôn với nữ diễn viên người Mỹ, Jessica Biel, năm 2012

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Những đĩa đơn quán quân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên đĩa đơn Vị trí trong bảng xếp hạng[6] Điểm Album
Flag of the United States.svg Flag of the United States.svg R&B Flag of the United Kingdom.svg Flag of Australia.svg Flag of Canada.svg Flag of Germany.svg Flag of Ireland.svg Newworldmap.png
2002 "Like I Love You" 11 53 2 8 10 16 5 6 Justified
2002 "Cry Me a River" 3 11 2 2 22 1 6 1 3.325.000 Justified
2003 "Rock Your Body" 5 45 2 1 33 25 4 2 3.366.000 Justified
2003 "Señorita" 27 - 13 6 - 51 15 6 Justified
2003 "I'm Lovin' It" - - 79 - - 50 15 - Live From London
2006 "SexyBack" 1 11 1 1 3 1 1 1 6.335.000 FutureSex/LoveSounds
2006 "My Love" (hợp tác với T.I.) 1 2 2 3 8 4 4 1 4.223.000 FutureSex/LoveSounds
2007 "What Goes Around... Comes Around 1 - 14 - 4 - - 8 586.000 FutureSex/LoveSounds
2008 "4 Minutes" (hát cùng Madonna) 3 - 1 1 1 1 1 1 Hard Candy

Đĩa đơn hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Góp giọng[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim
Năm Tên Vai diễn Ghi chú
2000 Longshot Valet
2000 Model Behavior Jason Sharpe TV
2001 On the Line Make-up artist
2005 Edison Josh Pollack
2006 Alpha Dog Frankie Ballenbacher
2006 Black Snake Moan Ronnie
2007 Shrek the Third Artie Pendragon Lồng tiếng
2007 Southland Tales Pvt Pilot Abilene
2008 Love Guru, TheThe Love Guru Jacques "Le Coq" Grande
2009 Open Road, TheThe Open Road Carlton Garrett
2010 Social Network, TheThe Social Network Sean Parker Phoenix Film Critics Society Award for Best Cast
Đề cử – Broadcast Film Critics Association Award for Best Cast
Đề cử – Screen Actors Guild Award for Outstanding Performance by a Cast in a Motion Picture
2010 Yogi Bear Boo-Boo Bear Lồng tiếng
2011 Bad Teacher Scott
2011 Friends with Benefits Dylan
2011 In Time Will Salas
2012 Rắc Rối Vòng Quanh Johnny Flanagan
2013 Át Chủ Bài Richie Furst
Inside Llewyn Davis Jim Berkey Đề cử – Golden Global 2014 for Best Original Song - Motion Picture

Đề cử – Broadcast Film Critics Association Awards 2014 for Best Song

2016 Justin Timberlake + the Tennessee Kids Bản thân
Trolls Branch

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đề cử cho Giải thưởng Kết quả
2000 "Music of My Heart" Hợp tác giọng pop xuất sắc nhất Đề cử[7]
"God Must Have Spent a Little More Time on You" Hợp tác giọng country xuất sắc nhất
2001 "Bye Bye Bye" Thu âm của năm Đề cử[8]
Trình diễn song ca/nhóm nhạc giọng pop xuất sắc nhất
No Strings Attached Album giọng pop xuất sắc nhất Đề cử
2002 "My Kind Of Girl" (với Brian McKnight) Hợp tác nhạc Pop xuất sắc nhất Đề cử
2003 "Like I Love You" Hợp tác Rap/hát xuất sắc nhất Đề cử
2004 Justified Album của năm Đề cử
"Where Is the Love?" (với The Black Eyed Peas) Thu âm của năm Đề cử
"Where Is The Love?" (với The Black Eyed Peas) Hợp tác Rap xuất sắc nhất Đề cử
Justified Album nhạc Pop xuất sắc nhất Đoạt giải
"Cry Me a River" Giọng nam Pop xuất sắc nhất Đoạt giải
2007 FutureSex/LoveSounds Album của năm Đề cử
FutureSex/LoveSounds Album nhạc Pop xuất sắc nhất Đề cử
"My Love" (với T.I.) Hợp tác Rap xuất sắc nhất Đoạt giải
"SexyBack" Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất Đoạt giải
FutureSex/LoveSounds Album nhạc pop xuất sắc nhất Đề cử
2008 "What Goes Around... Comes Around" Thu âm của năm Đề cử
"What Goes Around... Comes Around" Giọng nam Pop xuất sắc nhất Đoạt giải
"LoveStoned/I Think She Knows" Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất Đoạt giải
"Give It to Me" (Timbaland với Nelly Furtado và Justin Timberlake) Hợp tác giọng pop xuất sắc nhất Đề cử
"Ayo Technology" (50 Cent với Timbaland và Justin Timberlake) Bài hát nhạc rap xuất sắc nhất Đề cử
2009 "4 Minutes" (với Madonna) Hợp tác giọng pop xuất sắc nhất Đề cử[9]
2010 Dead and Gone (với T.I.) Ca khúc rap xuất sắc nhất Đề cử[10]
Hợp tác Rap xuất sắc nhất
Love Sex Magic (với Ciara) Hợp tác nhạc pop xuất sắc nhất
2014 The 20/20 Experience – The Complete Experience Album nhạc pop xuất sắc nhất Đề cử[11]
"Mirrors" Trình diễn solo nhạc Pop xuất sắc nhất
"Suit & Tie" (với Jay Z) Trình diễn Pop xuất sắc nhất của bộ đôi/nhóm nhạc
Video âm nhạc xuất sắc nhất Đoạt giải[12]
Pusher Love Girl Ca khúc R&B xuất sắc nhất
"Holy Grail" (với Jay Z) Hợp tác Rap xuất sắc nhất
Ca khúc rap xuất sắc nhất Đề cử
2015 Beyoncé (sản xuất) Album của năm
G I R L

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Martin Roach, Justin Timberlake, The Unofficial Book, Virgin Books, London, 2003.
  • Sean Smith, Justin, The Biography, Simon & Schuster, UK, 2004.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Justin Timberlake unveils Jay-Z song”. 3 News NZ. Ngày 15 tháng 1 năm 2013. 
  2. ^ O'Donnell, Kevin (ngày 10 tháng 1 năm 2013). “Justin Timberlake: 'I'm Ready' to Release New Music”. People. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2013. 
  3. ^ “Justin Timberlake sets release date for new album 'The 20/20 Experience'. Hearst Magazines UK. Ngày 25 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2013. 
  4. ^ “News”. HITS Daily Double. Ngày 26 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2013. 
  5. ^ Nicolas James (ngày 5 tháng 5 năm 2013). “Justin Timberlake Announces "The 20/20 Experience" Sequel Release Date”. HotNewHipHop (webpage)|HotNewHipHop.com. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2013. 
  6. ^ [1]
  7. ^ MTV News staff (23 tháng 2 năm 2000). “42nd Annual Grammy Awards: And The Nominees Are …”. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016. 
  8. ^ MTV News staff (1 tháng 3 năm 2001). “43rd Annual Grammy Award Nominees”. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016. 
  9. ^ http://www.mtv.com/news/1604545/grammy-2009-winners-list/
  10. ^ http://edition.cnn.com/2010/SHOWBIZ/Music/01/31/grammys.winner.list/index.html
  11. ^ http://www.billboard.com/articles/news/5819883/grammy-awards-2014-full-nominations-list-complete-nominees
  12. ^ http://theboombox.com/justin-timberlake-wins-2014-grammy-award-best-music-video/

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]