Billboard Hot 100

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm


Logo Billboard

Billboard Hot 100 là bảng xếp hạng chính thống cho các bài hát tại Hoa Kỳ, được phát hành hàng tuần bởi tạp chí Billboard. Bảng xếp hạng dựa trên dữ liệu doanh số (đĩa cứng và digital), lượng phát trên radiolượng stream trực tuyến tính tại Hoa Kì.

Doanh thu trong tuần được tính từ thời điểm thứ hai đến thứ sáu khi Nielsen bắt đầu theo dõi đến doanh số vào năm 1991, nhưng sau đó đã chuyển từ thứ sáu đến thứ năm vào tháng 7 năm 2015. Lượt phát trên radio, không giống như số liệu doanh thu và dữ liệu streaming, nó có sẵn trên cơ sở thời gian thực, được theo dõi theo chu kỳ từ thứ hai đến chủ nhật (trước đó từng là từ thứ tư đến thứ ba).[1] Bảng xếp hạng được thay đổi và chính thức được Billboard phát hành ra công chúng vào thứ ba hằng tuần.

Bài hát đầu tiên dẫn đầu trên bảng xếp hạng Hot 100 là "Poor Little Fool" của Ricky Nelson vào 4 tháng 8 năm 1958. Tính đến tuần cuối ngày 28 tháng 7 năm 2018, Hot 100 đã có 1,077 ca khúc đạt vị trí đứng đầu. Ca khúc đạt được vị trí số 1 gần đây nhất là "In My Feelings" của Drake.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1955, Billboard không có một bảng xếp hạng phổ biến và thống nhất toàn diện, thay vào đó là đánh giá các bài hát theo các chỉ số riêng lẻ của chúng. Vào kỉ nguyên của nhạc rock năm 1955, có 3 bảng xếp hạng:[3]

  • Best Sellers in Stores là bảng xếp hạng đầu tiên của Billboard ra mắt vào năm 1936. Bảng xếp hạng này xếp hạng những đĩa đơn bán chạy nhất trong các cửa hàng bán lẻ, theo báo cáo từ các chủ cửa hàng được khảo sát khắp cả nước (có 20 đến 50 vị trí).
  • Most Played by Jockeys là bảng xếp hạng lượt phát trên các phương tiện truyền thông đầu tiên của Billboard. Nó xếp hạng các bài hát được phát nhiều nhất trên các đài phát tại Mĩ, theo báo cáo từ các đài phát thanh và đài phát trên đĩa radio (có 20 đến 25 vị trí).
  • Most Played in Jukeboxes xếp hạng các bài hát được phát nhiều nhất trên những máy hát Jukebox trên khắp nước Mĩ (20 vị trí). Đây là một trong những yếu tố chính để đo lường mức độ phổ biến của bài hát đối với lứa nghe nhạc trẻ tuổi hơn, khi nhiều đài phát thanh phản đối việc thêm nhạc rock and roll vào danh sách phát của họ trong nhiều năm liền.

Mặc dù cả ba bảng xếp hạng chính trên đều có "tỉ trọng" ngang nhau về tầm quan trọng, tạp chí Billboard đã xem xét kĩ bảng xếp hạng Best Sellers in Stores khi tham chiếu hiệu suất của bài hát trước khi sáng lập ra Hot 100.[4] Tuần cuối ngày 12 tháng 11 năm 1955, Billboard lần đầu ra mắt The Top 100. The Top 100 kết hợp tất cả các khía cạnh về hiệu suất của đĩa đơn (doanh số, lượt phát trên phương tiện truyền thông và lượt phát trên jukebox), dựa trên một hệ thống điểm tượng trưng với doanh số (lượng mua) có tỉ trọng cao hơn so với lượt phát sóng radio. Các bảng xếp hạng Best Sellers In Stores, Most Played by JockeysMost Played in Jukeboxes vẫn tiếp tục được phát hành song song với bảng xếp hạng Top 100.

Ngày 17 tháng 6 năm 1957, Billboard cho dừng hoạt động bảng xếp hạng Most Played in Jukeboxes, khi mức độ phổ biến của các máy jukebox bị giảm và các đài phát thanh đã kết hợp ngày càng nhiều bản nhạc rock theo định hướng vào các danh sách phát. Tuần cuối ngày 28 tháng 7 năm 1958 là tuần cuối cùng công bố bảng xếp hạng Most Played By JockeysTop 100, phiên bản nhạc cụ của Perez Prado cho bài hát "Patricia" lội ngược dòng lên vị trí đứng đầu tren cả hai bảng xếp hạng.[cần dẫn nguồn]

Ngày 4 tháng 8 năm 1958, Billboard công bố bảng xếp hạng chung cho tất cả các đĩa đơn thuộc các dòng nhạc khác nhau: Hot 100. Hot 100 nhanh chóng trở thành bảng xếp hạng công nghiệp tiêu chuẩn và Billboard cho dừng hoạt đọng bảng xếp hạng Best Sellers In Stores vào ngày 13 tháng 10 năm 1958.

Billboard Hot 100 vẫn là bảng xếp hạng tiêu chuẩn khi là thước đo cho độ nổi tiếng của bài hát tại thị trường Hoa Kì. Hot 100 xếp hạng dựa trên độ ấn tượng với khán giả khi phát trên các phương tiện truyền thông được đo bởi Nielsen BDS, dữ liệu doanh thu được tổng hợp bởi Nielsen Soundscan (cả doanh số bán lẻ và kỹ thuật số) và số liệu streaming nhạc do các trang nhạc trực tuyến cung cấp.[3]

Có một số bảng xếp hạng thành phần đóng góp vào tổng thể của Hot 100. Các bảng xếp hạng quan trọng nhất là:

  • Hot 100 Airplay: khoảng 1.000 đài phát (thuộc Billboard), "gồm thể loại adult contemporary, R&B, hip hop, nhạc đồng quê, rock, gospel, LatinChristian, được theo dõi kỹ thuật số hai mươi bốn giờ một ngày, bảy ngày một tuần. Bảng xếp hạng dựa theo số lần xuất hiện với thính giả, được tính bằng cách tham chiếu chéo thời gian phát sóng chính xác trên radio với dữ liệu người nghe Arbitron."
  • Hot Singles Sales: "các đĩa đơn bán chạy nhất tổng hợp được từ một vài cửa hàng bán lẻ quốc gia, thương gia đại chúng, báo cáo bán hàng qua internet (thuộc Billboard) và sau đó được thu thập, tổng hợp và cung cấp bởi Nielsen SoundScan". Bảng xếp hạng được phát hành hằng tuần và thống kê doanh số đĩa cứng bán ra của đĩa đơn. Với sự sụt giảm doanh số đĩa cứng tại Hoa Kì, nhiều bài hát đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng này nhưng thường lại không xuất hiện được trong bảng xếp hạng Hot 100.
  • Hot Digital Songs: Doanh số kĩ thuật số được tổng hợp bởi Nielsen SoundScan và nằm trong nguồn doanh số chủ yếu.
  • Streaming Songs: một sự kết hợp giữa Billboard, Nielsen SoundScan và Hiệp hội Thu âm Quốc gia Merchandisers khi bảng xếp hạng thống kê được các bài hát được phát trực tuyến hàng đầu trên radio, các bài hát và video theo yêu cầu trên các dịch vụ âm nhạc trực tuyến hàng đầu.

Rắc rối[sửa | sửa mã nguồn]

Tuần theo dõi streaming và doanh thu bắt đầu vào ngày thứ sáu và kết thúc vào thứ năm, trong khi tuần theo dõi lượt phát trên radio rơi vào thời gian từ thứ hai đến chủ nhật. Một bảng xếp hạng mới được tổng hợp và chính thức được Billboard phát hành ra công chúng vào ngày thứ ba. Mỗi bảng xếp hạng đều được phát hành trong các ấn phẩm có "ngày cuối tuần" được lùi về 4 ngày so với ngày các bảng xếp hạng trực tuyến được làm mới (thứ bảy tuần sau).[5] Ví dụ:

  • Thứ sáu, ngày 1 tháng 1 – tuần tính doanh số bắt đầu, tuần tính stream bắt đầu
  • Thứ hai, ngày 4 tháng 1 – tuần theo dõi lượt phát trên radio bắt đầu
  • Thứ năm, ngày 7 tháng 1 – tuần tính doanh số kết thúc, tuần tính stream kết thúc
  • Chủ nhật, ngày 10 tháng 1– tuần theo dõi lượt phát trên radio kết thúc
  • Thứ ba, ngày 12 tháng 1 – bảng xếp hạng được phát hành, và được in trên các ấn phẩm vào 4 ngày sau là thứ bảy ngày 16 tháng 1

Chính sách thay đổi[sửa | sửa mã nguồn]

Các phương pháp và chính sách thu thập và biên soạn dữ liệu được thay đổi xuyên suốt quá trình lịch sử của bảng xếp hạng.

Mặc dù sự ra đời bảng xếp hạng các đĩa đơn dẫn đến sự xuất hiện của các chuyên gia theo dõi bảng xếp hạng, lượng người theo dõi, tạo ra ảnh hưởng lớn với nền văn hoá đại chúng và đặt ra vô số các câu hỏi, tuy nhiên, mục đích chính của Hot 100 là giúp nền công nhạc nói chung nhận định được độ nổi tiếng của các "sản phẩm" (đĩa đơn, album,...) và theo dõi xu hướng lượng mua từ công chúng. Billboard đã (nhiều lần) thay đổi các phương pháp và chính sách của mình nhằm phản ánh chính xác nhất những gì phổ biến trong nền âm nhạc. Ví dụ cơ bản nhất cho việc này là tỉ lệ giữa doanh thu và lượt phát trên các phương tiện truyền thông của đĩa đơn. Vào những ngày đầu của Hot 100, đĩa đơn là tiêu thụ hàng đầu của người nghe nhạc bấy giờ. Thời điểm đó, đĩa đơn chủ yếu tập trung vào doanh số bán ra nên tỷ trọng điểm số tính từ lượng đĩa bán ra tại các của hàng mua bán cao hơn so với lượt phát trên radio.

Nhiều thập kỉ trôi qua, ngành công nghiệp thu âm tập trung nhiều hơn vào doanh thu album so với doanh số bán đĩa đơn. Các nhạc sĩ cuối cùng cũng đã cho ra các tác phẩm của mình dưới dạng các album có độ dài đầy đủ thay vì những đĩa đơn, và đến những năm 1990, nhiều công ty thu âm đã ngừng phát hành đĩa đơn (xem phần Album Cuts, bên dưới). Cuối cùng, điểm số từ phần phát sóng của đĩa đơn của bài hát có tỷ trọng cao hơn so với doanh số tiêu thụ được. Billboard đã điều chỉnh tỷ lệ giữa doanh số/phát sóng nhiều lần để phản ánh thật chính xác mức độ phổ biến thực sự của các bài hát.

Đĩa đơn hai mặt[sửa | sửa mã nguồn]

Billboard cũng đã thay đổi chính sách Hot 100 về "đĩa đơn hai mặt" nhiều lần. Trước Hot 100, bảng xếp hạng "Best Sellers in Stores" xếp các đĩa đơn mặt A và B chung với nhau, với mặt được phát thường xuyên nhất (dựa trên các bảng xếp hạng khác của nó) được liệt kê vào. Một trong những điều đáng chú ý nhất và khác biệt nhất là đĩa đơn "Don't Be Cruel"/"Hound Dog" của Elvis Presley. Trong thời gian trụ bảng xếp hạng của đĩa đơn Presley, thanh toán hàng đầu được chuyển đổi qua lại nhiều lần giữa hai mặt. Nhưng cùng thời điểm, trên các bảng xếp hạng "Most Played in Juke Boxes", "Most Played by Jockeys" và "Top 100", hai bài hát được xếp riêng biệt như những bài khác nhau thực thụ. Những ngày đầu của Hot 100 năm 1958, mặt A và B được xếp hạng riêng biệt như trên Top 100 trước đó.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Billboard Staff (24 tháng 6 năm 2015). “Billboard to Alter Chart Tracking Week for Global Release Date”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2015. 
  2. ^ Trust, Gary (23 tháng 7 năm 2018). “Drake's 'In My Feelings' Tops Billboard Hot 100 for Second Week With Record-Breaking 116.2 Million U.S. Streams”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2018. 
  3. ^ a ă Molanphy, Chris (1 tháng 8 năm 2013). “How The Hot 100 Became America's Hit Barometer”. All Things Considered (NPR). Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2018. 
  4. ^ “CHART BEAT CHAT 12/2/2005”. billboard.com. Billboard Music. 2 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2018. The main chart was Best Sellers in Stores, and that's the list Billboard uses as THE pre-Hot 100 chart. 
  5. ^ “Billboard Chart & Magazine Dates Now to Align Closer to Release Week”. Billboard. 19 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]