Nhạc vàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Nhạc vàng là tên gọi của dòng tân nhạc đại chúng Việt Nam tiếp nối từ dòng nhạc mang khuynh hướng lãng mạn ở Miền Bắc.[1] Dòng nhạc này manh nha từ thập niên 1930, dần phát triển và thịnh hành tại miền Nam Việt Nam từ những năm 1950 cho đến năm 1975.


Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Có rất nhiều giả thuyết cũng như tranh cãi xoay quanh tên gọi nhạc vàng.

Góc nhìn của người Cộng sản thời chiến tranh Đông Dươngchiến tranh Việt Nam thì dùng cụm từ nhạc vàng cho tất ca khúc tiền chiến và phần lớn ở vùng Việt Nam Cộng hòa kiểm soát thời chiến tranh cho dù mang âm hưởng Tây phương hay dân gian mà nội dung nhuốm màu bi lụy, yếu đuối, cá nhân chủ nghĩa hay nhạc "tâm lý chiến".

Một giả thuyết cho rằng chữ nhạc vàng từ Trung Quốc. Vì trong Hán ngữ nhạc màu vàng (黃色音樂, Hán Việt: hoàng sắc âm nhạc) được hiểu là nhạc tình thời thượng của thập niên 1930, dòng nhạc này phổ biến ở Thượng Hải. "Nhạc màu vàng" theo đó bị coi "là thứ âm nhạc lãng mạn bi quan, hoặc khêu gợi tình dục và những khát vọng thấp kém của xác thịt".

Đôi khi, người ta còn gọi nhầm lẫn nhạc vàng là nhạc sến. Đây là cách gọi của người miền Bắc và xuất hiện sau năm 1975, lúc đầu có ý miệt thị về một dòng nhạc ủy mị, khiến con người ta dễ sa đà vào tình cảm sướt mướt của tình yêu đôi lứa - tức là thiên về cái tôi cá nhân mà thiếu đi tinh thần tập thể vốn là một trong những điều tối cần thiết trong giai đoạn đất nước mới thống nhất và đang hừng hực khí thế xây dựng lại sau những mất mát từ chiến tranh.[2]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi ban đầu, nền tảng phát triển của nhạc vàng là sự tiếp nối của phong cách tân nhạc được khai phá từ những thập kỷ 1930–1940 (còn gọi là nhạc cải cách) rồi pha trộn với những yếu tố dân ca trữ tình truyền thống của Nam Bộ mà tạo nên nét đặc trưng của dòng nhạc này. Giống như hầu hết các dòng tân nhạc khác của Việt Nam hình thành từ trước năm 1975, sự phát triển của nhạc vàng bị chi phối rất mạnh bởi hoàn cảnh lịch sử - chính trị của nó, đặc biệt là sự chia cắt đất nước bởi Chiến tranh Việt Nam. Nhạc vàng được xem là một trong những di sản văn hóa của Việt Nam Cộng Hòa.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc trưng của các sáng tác nhạc vàng là lời ca trữ tình bình dân được viết trên những giai điệu chậm buồn đều đều (bolero, rumba, ballade...), âm hưởng dân ca, hát bằng giọng thứ quãng âm trung hoặc trầm.[3] Đôi khi nhạc vàng còn được dùng chỉ các bài thời tiền chiến hay "tình khúc 1954–1975" chậm buồn nhưng giai điệu khác với nhạc vàng, hay một số bài đậm chất dân gian nhưng không mang đặc trưng của nhạc vàng theo nghĩa phổ thông (nhiều bài đậm chất dân gian theo điệu chachacha). Đặc trưng của dòng nhạc vàng là lời ca giản dị, câu nhạc dễ nghe, chất chứa nỗi niềm của một bộ phận trong xã hội, chủ yếu là những người nghèo, bình dân. Dòng nhạc vàng có thể xem là chính thức định hình và đạt tới giai đoạn hoàng kim của nó trên phần đất Nam Việt Nam trong giai đoạn 1955–1975.

Giai đoạn trước năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ở phía Nam vĩ tuyến 17[sửa | sửa mã nguồn]

Tại miền Nam, nhạc vàng phát triển thành nhiều phong cách, từ nhạc tình tự quê hương với biến thể từ dân ca Nam Bộ, nhạc lính, bolero kể chuyện, "kích động nhạc",... Bài hát điệu Rumba đầu tiên là Trăng sơn cước của Văn Phụng và Văn Khôi viết năm 1949, còn bài hát điệu bolero đầu tiên là Nắng chiều của Lê Trọng Nguyễn năm 1952.

Nhiều sáng tác của các nhạc sĩ nổi tiếng được xem là có đóng góp cho Tân nhạc Việt Nam nhiều ca khúc có giá trị như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương,... thời kỳ này cũng được xem là nhạc vàng, căn cứ cụ thể vào từng bài hát của họ. So với thời kỳ thập niên 1950 về trước, sáng tác của Phạm Duy có những chuyển biến rất đa dạng, nhiều đề tài, thái độ từ tâm linh, tôn giáo, xã hội và một số mang màu sắc thị trường như dòng nhạc trẻ, nhạc vỉa hè. Trịnh Công Sơn thì ảnh hưởng nhiều bởi chủ nghĩa hiện sinh, thái độ lạc lõng bơ vơ, "nổi loạn tinh thần" và mang màu sắc vô thần (tư tưởng này có một số nét trùng lặp giống chủ nghĩa cộng sản về lý thuyết).

Những hãng phát hành băng và đĩa nhạc cũng cho ra nhiều sản phẩm với danh hiệu "nhạc vàng" như hãng Hương Giang, hãng Dạ Lan của nhạc sĩ Anh Bằng, và hãng Shotguns[4] của Ngọc Chánh. Nhạc vàng sau đó được hiểu là thể loại nhạc tình êm dịu có tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi hoặc có nỗi lòng riêng tư của lính chiến mặc dù đang gánh trách nhiệm với đại cuộc.[5]

Ở phía Bắc vĩ tuyến 17[sửa | sửa mã nguồn]

Phong trào bài trừ "nhạc màu vàng" ở Trung Quốc thời Mao Trạch Đông lan sang miền Bắc Việt Nam. Nhà nước chống nhạc "ủy mị" vì thiếu tinh thần đấu tranh cách mạng.[5] Cả nhạc vàng lẫn dòng nhạc tiền chiến thịnh hành trước năm 1954 cũng không được hát. Đối lập với nhạc vàng bị cấm đoán là nhạc đỏ tức dòng nhạc nêu cao tinh thần cách mạng, mục tiêu giải phóng đất nước, đấu tranh giai cấp và ca ngợi tinh thần lao động.

Giai đoạn sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1975, cũng như số phận các loại hình văn hóa khác ở miền Nam, dòng nhạc này bị gán nhãn chính trị là "nhạc phản động" hoặc "đồi trụy", "ru ngủ", không thể hiện được con người xã hội chủ nghĩa lý tưởng như tinh thần cộng đồng, yêu lao động, có chí khí vươn lên, mà lại thể hiện tư tưởng an phận, than thở, thích nhận ân huệ. Kết quả là nhiều tác phẩm trong đó có băng cassette, đĩa nhạc cùng những bài vở ghi chép nhạc vàng bị tiêu hủy. Nhiều nhạc sĩ bỏ ra nước ngoài (nhất là các nhạc sĩ Thiên Chúa giáo), trong khi phần đông nhạc sĩ vô thần hay theo đạo Phật vẫn ở lại và có sáng tác mới. Dù vậy, nhạc vàng vẫn được nhiều người ưa thích cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Có những người trong nước vẫn cố gắng tìm nghe bất chấp hình phạt của luật pháp.[6] Có thể nói nhạc vàng vẫn tiếp tục chiếm địa vị quan trọng trên thị trường âm nhạc và được một bộ phận dân chúng ưa chuộng[7]

Mãi đến khi bắt đầu thời kỳ Đổi mới thì các loại nhạc vàng mới dần dà được chính quyền xem xét lại và cho phổ biến một cách hạn chế tuỳ theo tác giả và tác phẩm. Năm 1986 lần đầu tiên chính quyền cho ra danh mục 36 tác phẩm âm nhạc của Miền Nam trước kia nay được phép công khai trình diễn. Dù vậy ca sĩ Thanh Lan cho đến cuối thập niên 1980 vẫn phải lén lút thu thanh, thực hiện từ nửa đêm đến rạng sáng thì nghỉ để tránh bị công an phát giác.[8] Danh sách nhạc sang thập niên 1990 thì bỏ, trong khi dân chúng tìm nghe nhiều loại nhạc vàng. Thay vào đó là danh sách nhạc cấm thuộc thể loại nhạc lính Sài Gòn. Bộ Văn hóa đề nghị cổ xúy nhạc xanh, tức nhạc trẻ của thời đại Đổi Mới nhưng không thành công.[9] Trong khi đó số người nghe nhạc vàng ngày càng đông, không chỉ ở phía nam vĩ tuyến 17 và hải ngoại mà cả ở miền Bắc, thậm chí theo chân người Việt đi lao động ở Liên XôĐông Âu vào thập niên 1980. Chính quyền tỏ ra bất lực trước phong trào nhạc vàng sống lại.[10]

Sang đầu thế kỷ 21, những nhà kinh doanh và tổ chức ca nhạc trong nước đã tổ chức nhiều buổi trình diễn nhạc vàng, đưa ca sĩ từ hải ngoại về hát vì dễ kiếm lời. Vào tháng 8 năm 2010 hai ca sĩ mà tên tuổi gắn liền với "nhạc sến", Hương LanTuấn Vũ đã trình diễn những bản nhạc vàng ở Nhà hát Lớn Hà Nội trong nửa tháng với giá vé tại những chỗ tốt nhất lên đến 1.700.000 đồng Việt Nam mà vé vẫn bán hết. Nhạc vàng từ chỗ bị cấm đoán sau năm 1975 để rồi đến năm 2010 đã trình diễn ở giữa thủ đô Hà Nội.[3]

Hải ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với người Việt hải ngoại thì nhạc vàng là một dòng nhạc chủ đạo trong thị hiếu người nghe nhạc và cùng với tình khúc 1954-1975 trở thành dòng nhạc chủ đạo của tân nhạc hải ngoại, tuy nhiên ranh giới giữa hai dòng nhạc này không còn rõ rệt như thời kỳ trước năm 1975.

Đến đầu thế kỷ 21, nhạc vàng bắt đầu thoái trào ở hải ngoại. Những khán giả gốc Việt thích nghe nhạc vàng đã lớn tuổi và dần qua đời, trong khi lớp trẻ gốc Việt sinh ra ở Âu - Mỹ thì đã chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa, âm nhạc bản xứ nên chỉ thích nghe nhạc Âu - Mỹ, ít quan tâm đến các dòng nhạc tiếng Việt. Vì vậy, thị trường văn nghệ hải ngoại ngày càng thu hẹp, các trung tâm chuyên trình diễn nhạc vàng ở hải ngoại phải thu hẹp dần hoạt động. Từ năm 2007, nhiều nghệ sĩ chuyên hát nhạc vàng ở hải ngoại bắt đầu từ hải ngoại trở về Việt Nam để tìm kiếm cơ hội phát triển sự nghiệp[11]

Nghệ sĩ nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá, phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

Tích cực[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu cực[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Quang Long (Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam) nhân định: "Ở Hà Nội nhạc tình có xuất phát điểm sớm, ngay đầu những năm 1940 cùng sự xuất hiện của tân nhạc." (2013)
  2. ^ Nguyễn Quang Long, Nên gạt bỏ ý miệt thị nhạc “sến” (Báo điện tử VietNamNet, 14/09/2013)
  3. ^ a ă Trần Củng Sơn. Một thoáng 26 năm. San Jose, CA: Hương Quê, 2011. Trang 474-7.
  4. ^ “Ho^`n Que^”. 
  5. ^ a ă Jason Gibbs (Nguyễn Trương Quý dịch), Nhạc vàng “hoá vàng” (Talawas, 23.6.2005)
  6. ^ Sài Gòn, Lệ Thu
  7. ^ Taylor, Philip. tr 150-153.
  8. ^ Kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng. tr 258
  9. ^ Taylor, Philip. tr 150-154.
  10. ^ Taylor, Philip. tr 53-55.
  11. ^ Hà Ngân, Vì sao nghệ sĩ hải ngoại ùn ùn về Việt Nam (Báo Thanh Niên, 05/10/2015)
  12. ^ Ca sĩ Thanh Lam trả lời trên báo Trí Thức Trẻ, ngày 21/10/2017
  13. ^ Tranh luận về Bolero: Thụt lùi hay phát triển? (Báo Công an nhân dân điện tử, 28/08/2017)