Nhạc vàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tân nhạc Việt Nam
Nhạc sĩ • Ca sĩ • Ca khúc

Nhạc vàng[1] là tên gọi dòng tân nhạc Việt Nam ra đời trong thập niên 1960 với lời ca trữ tình bình dân được viết trên những giai điệu chậm buồn đều đều (bolero, rumba, ballade...), âm hưởng dân ca, hát bằng giọng thứ quãng âm trung hoặc trầm. Đôi khi nhạc vàng còn được dùng chỉ các bài thời tiền chiến hay "tình khúc 1954-1975" chậm buồn nhưng giai điệu khác với nhạc vàng, hay một số bài đậm chất dân gian nhưng không mang đặc trưng của nhạc vàng theo nghĩa phổ thông (nhiều bài đậm chất dân gian theo điệu chachacha). Đặc trưng của dòng nhạc này là lời ca giản dị, câu nhạc dễ nghe, chất chứa nỗi niềm của một bộ phận trong xã hội, chủ yếu là những người nghèo, bình dân.

Thực chất cụm từ nhạc vàng đã xuất hiện từ thời tiền chiến, màu vàng khi đó biểu thị cho sự sang trọng. Nhưng theo quan điểm của người Cộng sản thời chiến tranh Đông Dươngchiến tranh Việt Nam thì chỉ cụm từ nhạc vàng cho các ca khúc tiền chiến và phần lớn ở vùng Việt Nam Cộng hòa kiểm soát thời chiến tranh cho dù mang âm hưởng Tây phương hay dân gian mà nội dung nhuốm màu bi lụy, yếu đuối, cá nhân chủ nghĩa hay nhạc "tâm lý chiến". Cụm từ "nhạc sến" chỉ dùng ở Miền Nam để phân biệt với "nhạc vàng" thường phối nhạc phương Tây sang trọng hơn, có thể nói đến chia ly, cô đơn, nhưng nội dung không nói đồng quê, nghèo khó, hay kể một câu chuyện. Tuy nhiên trong nhân dân thì cụm từ nhạc vàng hay chỉ các bài theo điệu Bolero... mang âm hưởng dân ca khi đó, chứ không dùng cho nhạc tiền chiến hay "tình khúc 1954-1975". Điểm khác biệt chính giữa "nhạc vàng" và "nhạc sến" là "nhạc vàng" thường theo điệu Slow Rock, Slow ảnh hưởng nhiều của nhạc Thiên Chúa giáo hay triết học hiện sinh[cần dẫn nguồn] du nhập mạnh mẽ ở miền Nam khi đó, chậm, buồn, đều đều và phong cách thính phòng, hát bằng giọng Bắc chuẩn,[cần dẫn nguồn] còn "nhạc sến" âm hưởng dân ca hát bằng giọng Bắc, Bắc pha hay giọng địa phương (tùy theo điệu dân ca, nhưng chủ yếu của Nam Bộ), về sau thường hay được hát bằng giọng Nam, hợp hơn với tầng lớp bình dân.[cần dẫn nguồn] Ngoài ra miền nam trước 1975 còn có nhạc quê hương hay được hát bởi các giọng hát "nhạc sến" nên hay được gộp chung nhạc vàng nhưng giới chuyên môn hay tách ra thành nhánh nhạc quê hương, chủ đề rộng về quê hương đất nước hoặc về làng quê đậm chất dân ca cả ba miền, không có chất sến, hát theo giọng địa phương. Cụm từ nhạc sến còn hay được sử dụng trong nhiều nhạc phẩm sau này ảnh hưởng nhạc Hoa, Nhật, Hàn, Thái, hay một số bài pop ballad (sau Đổi Mới), tùy theo giai điệu, ca từ, tư tưởng, nhưng không ai gọi là "nhạc vàng" theo thói quen hay chỉ các ca khúc điệu Bolero, Rhumba mang âm hưởng dân ca, chủ yếu Nam Bộ[2]. Cách phân chia nhạc vàng, nhạc sến không theo quy cách phân chia nhạc thị trường (phục vụ thị hiếu một bộ phận công chúng để thu lợi nhuận) và nhạc nghệ thuật (có giá trị nghệ thuật) mà chỉ theo giai điệu, ca từ nội dung, kể cả lối hát.

Cụm từ nhạc sến ra đời từ thập niên 1960, của các gia đình thượng lưu người gốc Bắc di cư, có nuôi con sen (Marie Sến) trong nhà và họ gọi nhạc của những người bình dân gốc nông dân chủ yếu di cư từ nông thôn ra là nhạc sến. Một tên gọi khác là "nhạc máy nước", tức nhạc mà những người bình dân hay lấy nước ở các tụ điểm lấy nước công cộng nghe.[3][4][5][6][7] Báo An ninh thế giới từng viết "Duy Khánh tuy không sến, không rên rỉ như Chế Linh nhưng cũng thuộc hàng phông-tên máy nước"[8] (phông-tên là các điểm lấy nước công cộng ở Sài Gòn trước 1975). Còn "nhạc sến" hiện đại thường ca từ cũng không khác "nhạc sến", khai thác các chủ đề thất tình, hướng ham muốn hưởng thụ cá nhân cho dù có khi chỉ là tình cảm, nhưng có tính trách oán (do thất bại), có khác là ở giai điệu và lối hát trẻ trung hiện đại hơn, nhưng chủ đề thường bó hẹp hơn, ít chịu ảnh hưởng của dân ca. Hiện nay cả hai dòng "sến" này đều được nhà nước chấp nhận, do âm nhạc được xem là một ngành công nghiệp giải trí, và không có một đánh giá cụ thể là nhạc thị trường hay có giá trị nghệ thuật nào đó. Ít nhiều nó phù hợp tâm trạng nhất thời hay tâm lý của một bộ phận xã hội với khách quan.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

"Nhạc vàng" ở phía Nam vĩ tuyến 17[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm điệu Rumba đầu tiên là "Trăng sơn cước" của Văn Phụng và Văn Khôi viết năm 1949, còn nhạc phẩm điệu bolero đầu tiên là "Nắng chiều" của Lưu Trọng Nguyễn năm 1952, rộn ràng và đơn giản. Danh từ "nhạc vàng" xuất hiện tại miền Nam Việt Nam ở vùng do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát vào những năm 1960 trong thời kỳ kinh tế thị trường phát triển mạnh, ảnh hưởng đến âm nhạc, đặc biệt là sự đa dạng. Vào cuối thập niên đó nhạc sĩ Phó Quốc Lân cho ra mắt ban "Nhạc Vàng" thuộc đài truyền hình Sài Gòn THVN để trình tấu định kỳ. Ông là tác giả những bản nhạc như "Xuân ly hương", "Hương lúa miền Nam", "Anh tôi" (nói về người lính Cộng Hòa), "Mong ngày anh về", "Vui khúc tương phùng".[9] Những hãng phát hành băng và đĩa nhạc cũng cho ra nhiều sản phẩm với danh hiệu "nhạc vàng" như hãng Hương Giang, hãng Dạ Lan của nhạc sĩ Anh Bằng, và hãng Shotguns[10] của Ngọc Chánh. Nhạc vàng sau đó được hiểu là thể loại nhạc tình êm dịu có tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi hoặc có nỗi lòng riêng tư của lính chiến mặc dù đang gánh trách nhiệm với đại cuộc.[11] Cho đến năm 1975, dòng nhạc này phổ biến ở Miền Nam.[12]

Theo nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, nhạc vàng "có những câu mang âm hưởng dân ca Nam Bộ. Phần đông ca sĩ, nhạc sĩ là người miền Nam nên hát và viết bài hát mang chất dân ca bình dân của người Nam. Họ viết nhạc phần đông ở giọng thứ, khi hát với bolero, nó đúng cái nhịp của người miền Nam".[13]

Cũng theo nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, hai thể điệu chính của Nhạc vàng là bolero và slow rock. "Người đầu tiên nghĩ ra bolero là Lam Phương rồi Trúc Phương", và "Dòng nhạc bolero không hiếm những bài hát kiểu kể chuyện như: Hàn Mặc Tử, Màu tím hoa sim, Lan và Điệp… Bolero của Việt Nam khác bolero của Tây Ban Nha hay Nam Mỹ. Bolero Việt Nam rất chậm..."[13]

Nhạc vàng lúc đó bao gồm nhiều phong cách, từ nhạc tình tự quê hương với biến thể từ dân ca Nam Bộ, nhạc lính, nhạc "sến" (theo nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, "Không phải mình phân chia giai cấp, nhưng loại nhạc đó được giới bình dân nghe nhiều hơn. So với nhạc vàng, lời nhạc sến còn bình dân hơn: Ước gì nhà mình chung vách, anh khoét bức tường, anh qua thăm em. Chung quy cũng là nhạc trữ tình. Nhạc cho người có hiểu biết chút xíu gọi là nhạc vàng, còn cho người ít hiểu biết gọi là nhạc sến"),[13] bolero kể chuyện, "kích động nhạc" bình dân,...

Nhiều sáng tác của các nhạc sĩ nổi tiếng được xem là có đóng góp cho Tân nhạc Việt Nam nhiều ca khúc có giá trị như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương,... thời kỳ này cũng được xem là nhạc vàng, căn cứ cụ thể vào từng bài hát của họ. So với thời kỳ thập niên 1950 về trước, sáng tác của Phạm Duy có những chuyển biến và một số mang màu sắc thị trường. Trịnh Công Sơn thì ảnh hưởng nhiều của chủ nghĩa hiện sinh, thái độ lạc lõng bơ vơ, "nổi loạn tinh thần" và mang màu sắc vô thần (tư tưởng này có một số nét trùng lặp giống chủ nghĩa cộng sản về lý thuyết).

"Nhạc màu vàng" ở phía Bắc vĩ tuyến 17[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Miền Bắc do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát thì từ thập niên 1950 đã du nhập khái niệm "nhạc màu vàng" từ Trung Hoa. Trong Hán ngữ nhạc màu vàng (黃色音樂, Hán Việt: hoàng sắc âm nhạc) được hiểu là nhạc tình thời thượng của thập niên 1930 phổ biến ở Thượng Hải. "Nhạc màu vàng" theo đó bị coi "là thứ âm nhạc lãng mạn bi quan, hoặc khêu gợi tình dục và những khát vọng thấp kém của xác thịt". Phong trào bài trừ "nhạc màu vàng" ở Trung Hoa thời Mao Trạch Đông cũng lan theo sang miền Bắc Việt Nam như trong những bài báo dịch lại từ tiếng Hoa, chống nhạc "ủy mị" vì thiếu tinh thần đấu tranh cách mạng.[11] Cũng vì vậy mà dòng nhạc tiền chiến thịnh hành trước năm 1954 cũng không còn được hát.

Nhạc vàng sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ cấm đoán[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1975 danh từ "nhạc vàng" được dùng cho tất cả những tác phẩm âm nhạc ở miền Nam ra đời trong thời kỳ đất nước chia đôi và dòng nhạc này bị cấm[11][14] trên các phương tiện truyền thanh truyền hình. Cũng như những đề mục văn hóa khác ở miền Nam, âm nhạc Miền Nam bị gán thêm cái nhãn hiệu chính trị là "nhạc phản động" hoặc "đồi trụy", "ru ngủ", không thể hiện được con người xã hội chủ nghĩa lý tưởng như tinh thần cộng đồng, yêu lao động, có chí khí vươn lên, không có tư tưởng an phận, than thở, nhận ân huệ. Kết quả là nhiều sản phẩm văn hóa trong đó có băng cassette, đĩa nhạc cùng những bài vở ghi chép nhạc vàng bị đốt.[14] Cũng theo nghĩa đó thì đối lập với nhạc vàng là nhạc đỏ tức dòng nhạc nêu cao chủ nghĩa cộng sản, mục tiêu giải phóng đất nước, đấu tranh giai cấp và ca ngợi tinh thần lao động. Dù vậy nhạc vàng vẫn được nhiều người ưa thích cả trong Nam lẫn ngoài Bắc vì nói lên được tình cảm cá nhân không gò buộc vào tập thể. "Nhạc vàng" do đó hàm ý vàng của quý kim mà người nghe phải lén lút để nghe vì nó cho người nghe cái tâm trạng "riêng" của con người trong khi xã hội chỉ cho phép cái ý thức hệ chung của tập thể.[15] Dù phải nghe trộm qua những buổi phát thanh của VOA hoặc BBC từ hải ngoại, người trong nước vẫn cố gắng tìm nghe bất chấp hình phạt của luật pháp.[16] Có thể nói nhạc vàng vẫn tiếp tục chiếm địa vị quan trọng trên thị trường âm nhạc và được dân chúng ưa chuộng hơn.[17][18]

Đối với người Việt hải ngoại thì nhạc vàng trở thành một dòng nhạc chủ đạo trong thị hiếu người nghe nhạc và cùng với tình khúc 1954-1975 trở thành dòng nhạc chủ đạo của tân nhạc hải ngoại, tuy nhiên ranh giới giữa hai dòng nhạc này không còn rõ rệt như thời kỳ trước năm 1975.

Sau năm 1975 nhiều nhạc sĩ nhạc vàng, nhạc sến bị tịch thu tài sản vì Nhà nước cho là họ hưởng sự giàu có không tương xứng với các sáng tác của họ, chỉ chiều theo thị hiếu, sáng tác theo đơn đặt hàng,... (nhưng sau Đổi mới nhiều ca sĩ, nhạc sĩ sáng tác nhạc vàng thì không gặp vấn đề gì cả thậm chí rất giàu có như ca sĩ Ngọc Sơn). Nhiều nhạc sĩ bỏ nước ra nước ngoài (nhất là các nhạc sĩ Thiên Chúa giáo), trong khi phần đông nhạc sĩ vô thần hay theo đạo Phật vẫn ở lại và có sáng tác mới.

Hạn chế nhưng không còn cấm toàn bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Mãi đến khi bắt đầu thời kỳ Đổi mới thì các loại nhạc vàng mới dần dà được chính quyền xét lại và cho phổ biến một cách hạn chế tuỳ theo tác giả và tác phẩm. Năm 1986 lần đầu tiên chính quyền cho ra danh mục 36 tác phẩm âm nhạc của Miền Nam trước kia nay được phép công khai trình diễn. Dù vậy ca sĩ Thanh Lan cho đến cuối thập niên 1980 vẫn phải lén lút thu thanh, thực hiện từ nửa đêm đến rạng sáng thì nghỉ để tránh bị công an phát giác.[19] Danh sách nhạc sang thập niên 1990 thì bỏ, trong khi dân chúng tìm nghe nhiều loại nhạc vàng. Thay vào đó là danh sách nhạc cấm thuộc thể loại nhạc lính Cộng hòa. Bộ Văn hóa đề nghị cổ xúy nhạc xanh, tức nhạc trẻ của thời đại Đổi Mới nhưng không thành công.[20] Trong khi đó số người nghe nhạc vàng ngày càng đông, không chỉ ở phía nam vĩ tuyến 17 và hải ngoại mà cả ở miền Bắc, thậm chí theo chân người Việt đi lao động ở Liên XôĐông Âu vào thập niên 1980. Chính quyền tỏ ra bất lực và thất bại trước phong trào nhạc vàng sống lại.[21]

Sang thế kỷ 21, những nhà kinh doanh và tổ chức ca nhạc trong nước đã tổ chức nhiều buổi trình diễn nhạc vàng, đưa ca sĩ từ hải ngoại về hát vì dễ kiếm lời. Nhạc sĩ Võ Công Diên nhận xét rằng:

Vào tháng 8 năm 2010 hai ca sĩ mà tên tuổi gắn liền với "nhạc sến", Hương LanTuấn Vũ đã trình diễn những bản nhạc vàng ở Nhà hát Lớn Hà Nội nửa tháng trời với giá vé lên đến 1.700.000 đồng Việt Nam mà mỗi suất vẫn kín chỗ. Nhạc vàng theo nhận xét của nhạc sĩ Trần Chí Phúc đã đi từ địa vị bị cấm đoán năm 1975 để rồi đến năm 2010 đã "lên ngôi vua" ở giữa thủ đô Hà Nội.[1]

Nhiều ca sĩ trong nước cũng thường xuyên trình diễn nhạc vàng tại hải ngoại. Nhạc sĩ Việt Dzũng nhận xét về nhạc vàng và hiện trạng trong nước như sau:[23]

Những nghệ sĩ nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Những nghệ sĩ nổi bật nhất của dòng nhạc vàng có thể kể:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Trần Củng Sơn. Một thoáng 26 năm. San Jose, CA: Hương Quê, 2011. Trang 474-7.
  2. ^ Nhạc Sến biến dị
  3. ^ Trở lại với nhạc xưa
  4. ^ Lạm bàn về nguồn gốc hai từ “nhạc sến”
  5. ^ Nhạc sến là nhạc gì? Một Thế giới 08-02-2016
  6. ^ Tản mạn về nhạc sến
  7. ^ Jason GIBBS: Điệu Rumba trên dòng Cửu Long: Bolero - một dạng ca khúc phổ thông Việt Nam
  8. ^ An ninh thế giới ngày 28 tháng 2 năm 2003
  9. ^ “DÒNG NHẠC CỦA PHÓ QUỐC THĂNG VÀ PHÓ QUỐC LÂN”. Truy cập 8 tháng 6 năm 2014. 
  10. ^ “Ho^`n Que^”. 
  11. ^ a ă â "Nhạc vàng "hoá vàng""
  12. ^ "Nghĩ về nhạc vàng"[liên kết hỏng]
  13. ^ a ă â Trí thức cũng nghe nhạc vàng, Phỏng vấn Nguyễn Ánh 9 về Nhạc vàng, Báo Thanh Niên trích lại từ báo Tiền Phong, 26/08/2010
  14. ^ a ă Taylor, Philip. tr 23-55
  15. ^ "CHUYỆN NGHE CA NHẠC BẰNG MỸ CẢM CHÂN THỰC"
  16. ^ Sài Gòn, Lệ Thu
  17. ^ Taylor, Philip. tr 150-153.
  18. ^ "Ngày đăng quang cho dòng nhạc nhạc vàng sau 30 năm"[liên kết hỏng]
  19. ^ Kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng. tr 258
  20. ^ Taylor, Philip. tr 150-154.
  21. ^ Taylor, Philip. tr 53-55.
  22. ^ Kinh doanh nhạc vàng[liên kết hỏng]
  23. ^ “Nhạc sĩ Việt Dzũng, 38 năm chưa về Việt Nam”. Người Việt. Truy cập 8 tháng 6 năm 2014.