Phạm Thế Mỹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phạm Thế Mỹ
PhamTheMy.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Sinh 15 tháng 11 năm 1930
An Nhơn, Bình Định
Mất 16 tháng 1, 2009 (78 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh
Thể loại Tình khúc 1954-1975, nhạc vàng, nhạc đỏ
Nghề nghiệp Nhạc sĩ, nhà báo
Ca khúc tiêu biểu Bông hồng cài áo, Đường về hai thôn, Người về thành phố,Những ngày xưa thân ái, Thuyền hoa, Thư về em gái thành đô, Trăng tàn trên hè phố, Tóc mây, Thương quá Việt Nam

Phạm Thế Mỹ (15 tháng 11 năm 1930 (có tài liệu là 1932) – 16 tháng 1 năm 2009) là một nhạc sĩ người Việt Nam. Ông có nhiều bài hát nhạc vàng được nhiều người yêu thích.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh tại Đập Đá, An Nhơn, Bình Định, là con thứ 11 của gia đình trung lưu. Anh của ông là nhà văn Phạm Văn Ký và nhà văn Phạm Hổ. Từ năm 1947 đến năm 1949, ông học và hoạt động văn nghệ trong trường Thiếu sinh quân ở Liên khu V.

Lúc nhỏ, ông có năng khiếu vượt trội về sáo. Tuy nhiên, lòng đam mê sáo của ông không được cha ủng hộ vì cho rằng chơi sáo dễ mắc bệnh lao nên khuyên ông chơi guitar. Năm 16 tuổi (chỉ 2 năm sau khi biết chơi guitar), ông vinh dự nhận giải thưởng Phạm Văn Đồng. Giám khảo lúc bấy giờ là nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu.

Đầu thập niên 1950, ông làm công tác tuyên huấn và làm phóng viên cho báo Quân đội Nhân dân. Nhạc phẩm đầu tay của ông là "Nắng lên xóm nghèo".

Sau hiệp định Geneve, ông được bố trí ở lại Miền Nam. Năm 1959, ông học trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Từ 1959 đến 1970 ông dạy Việt vănâm nhạc tại các trường trung học tư thục Bồ đề, Tây Hồ, Sao Mai, Bán Công, Nguyễn Công Trứ, Tân Thanh... ở Đà Nẵng. Trong những năm 1965-1966, ông bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam vì đấu tranh trong phong trào Phật giáo (thời gian này ông sáng tác bài nhạc bất hủ "Bông hồng cài áo", lấy ý từ thơ Thích Nhất Hạnh. Ra tù, ông sáng tác các bài hát như "Hoa vẫn nở trên đường quê hương," "Người về thành phố," "Những người không chết"... được phổ biến trong phong trào học sinh - sinh viên Sài Gòn. Từ năm 1970 đến 1975, ông là trưởng phòng Văn-Mỹ-Nghệ của Viện Đại học Vạn Hạnh.

Trong thời gian công tác tại Viện Đại học Vạn Hạnh, ông xem Nguyễn Thị Diệu Lý (sinh viên của trường) hát bài "Bông hồng cài áo" trong lần đầu tiên được chọn vào Đội văn nghệ Vạn Hạnh. Việc Diệu Lý chọn bài hát "Bông hồng cài áo" cũng tình cờ vì cô thích bài hát này cũng như đáp ứng tính công chúng thời đó. Đến khi cô trở thành giọng ca chính của Vạn Hạnh thì Diệu Lý mới biết tác giả của "Bông hồng cài áo" là người thầy lâu nay chỉ huy dàn hợp xướng Vạn Hạnh. Và điều bất ngờ đến với cả hai là họ đều là người đồng hương Bình Định (quê Diệu Lý ở thành phố Quy Nhơn). Dù ông lớn hơn cô hơn 20 tuổi nhưng cả hai cùng chung quan điểm sống và nảy sinh tình cảm. Họ chính thức kết hôn năm 1975. Hầu hết các tập nhạc của ông đã được xuất bản đều có chung tên người trình bày (kẽ nhạc) là Diệu Lý. Bạn bè của ông thường nói, có hai người phụ nữ ảnh hưởng lớn đến cuộc đời sáng tác của Phạm Thế Mỹ. Người thứ nhất là mẹ ông. Người thứ hai chính là vợ, ca sĩ - Diệu Lý.

Sau năm 1975, ông công tác tại Phòng Văn hóa - Thông tin Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông bắt đầu sáng tác những bài hát nhạc đỏ như: "Nhớ ơn Bác, nhớ ơn Đảng" (Giải nhì Hội Âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh), "Thắm đượm duyên quê," "Lêna Belicova"...

Sau khi nghỉ hưu, ông sống âm thầm, thiếu thốn tại căn nhà chung cư ở Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông mất vào lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 1 năm 2009, sau thời gian dài bị bệnh, ở tuổi 79. Trước khi ông mất, nằm trên giường bệnh ông cũng kịp hoàn chỉnh hai trường ca lớn là "Con đường thế kỷ" (đường Hồ Chí Minh) và "Gió Củ Chi".

Xuất bản[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đã xuất bản các tập ca khúc:

  • Hòa bình ơi, hãy đến (in chung Luân Hoán Lê Vĩnh Thọ, 1969)
  • Trái tim Việt Nam (Ðối Diện, 1971)
  • Cho Trái Đất này vui (Nhà xuất bản Âm nhạc, 1990)
  • Trường ca Phạm Thế Mỹ (Nhà xuất bản Âm nhạc, 1996)
  • Trang sử mới (sinh viên Phật tử xuất bản tại Pháp)

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Áo lụa vàng
  • Bão rớt
  • Bến duyên lành
  • Bóng mát
  • Bóng tre xanh
  • Buổi chiều quê hương
  • Bông hồng cài áo
  • Chiếc lá rơi
  • Cho cây rừng còn xanh lá
  • Chuyến tàu về quê ngoại
  • Còn gì cho em
  • Dáng hồng
  • Dựng lại quê hương
  • Đan áo mùa xuân
  • Đàn chim trắng
  • Đôi mắt trẻ thơ
  • Đưa em về quê hương
  • Đường về hai thôn
  • Hoa vẫn nở trên đường quê hương
  • Hòa bình ơi hãy đến
  • Hỡi hồn mẹ Việt Nam
  • Huế của ta
  • Lêna Belicova
  • Lúa về đêm trăng
  • Mây đầu núi
  • Mặt trời vừa thức dậy
  • Màu áo hoa sim
  • Mai này tôi trở lại
  • Mẹ xưa
  • Một mình
  • Một sáng bình yên
  • Mưa trên cành yêu đương
  • Nắng lên xóm nghèo
  • Ngõ chiều
  • Người về thành phố
  • Người yêu và con chim sâu nhỏ
  • Ngựa hồng trên đồi cỏ non
  • Nhạc buồn đêm sao
  • Những ngày xưa thân ái
  • Những người không chết
  • Nước sông nào chẳng mát chẳng ngon
  • Rạng đông trên quê hương Việt Nam
  • Rừng cây trút lá
  • Sẽ qua đi ngày gió lớn
  • Thắm đượm duyên quê
  • Thương quá Việt Nam
  • Trăng tàn trên hè phố
  • Thuyền hoa
  • Tình mùa hoa nở
  • Tóc mây
  • Trang sử mới
  • Tiếng chim vườn cũ
  • Vẫn Huế ngày xưa
  • Vườn dâu lá mới
  • Xin mẹ hãy ngủ yên

Ông đã sáng tác một số trường ca như: Lửa thiêng (1963), Hàn giang dậy sóng (1960), Con đường trước mặt (1967), Những dòng sông anh em (1974), Thêm một lần hoa nở (Ðại học Vạn Hạnh xuất bản), Những trang sử Việt Nam, Con đường thế kỷ, Gió Củ Chi, Thành phố trăng tròn... (sau 1975) và tổ khúc Sự sống (1996).

Ngoài ra ông còn viết nhạc, vũ kịch như:

  • Vũ kịch: Kim Trọng Thúy Kiều (1962 - 1966)
  • Tiểu ca kịch: Hoa bướm và thiếu nữ (1960), Nước mắt người yêu (1961)
  • Nhạc kịch: Sắc lụa trữ la (1958-1960), Tiếng hát dậy từ lòng đất, Miếu âm hồn

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]