Hoàng Thi Thơ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Hoàng Thi Thơ
HoangThiTho.jpg
Thông tin cá nhân
Sinh(1929-07-01)1 tháng 7, 1929
Quảng Trị, Trung Kỳ, Liên bang Đông Dương
Mất23 tháng 9, 2001(2001-09-23) (72 tuổi)
Glendale, California, Hoa Kỳ
Giới tínhnam
Quốc tịch Hoa Kỳ
 Việt Nam
Dân tộcKinh
Nghề nghiệp
Lĩnh vực
Sự nghiệp âm nhạc
Bút danh
  • Tôn Nữ Trà Mi
  • Tôn Nữ Diễm Hồng
  • Triệu Phong
  • Bích Khê
Vai tròNhạc sĩ
Giai đoạn sáng tácThập niên 1950
Thể loại
Nhạc cụVĩ cầm
Ca khúcDanh sách
Sự nghiệp điện ảnh
Vai tròĐạo diễn
Tác phẩmNgười cô đơn

Hoàng Thi Thơ (sinh 1 tháng 7 năm 1929 - mất 23 tháng 9 năm 2001) là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của nền Tân nhạc Việt Nam. Một số bút hiệu khác của ông là Tôn Nữ Trà Mi, Tôn Nữ Diễm Hồng, Bích Khê, Triệu Phong.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Thi Thơ sinh ngày 1 tháng 7 năm 1929 tại làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông thuộc dòng họ Hoàng Phủ, một dòng họ khoa bảng có tiếng tăm ở đất Quảng Trị.[1]

Sau Cách mạng tháng Tám, Hoàng Thi Thơ gia nhập Đoàn Văn nghệ Quảng Trị như một diễn viên ca kịch nhạc do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba làm trưởng đoàn.

Tháng 12 năm 1946, Hoàng Thi Thơ khi đang tham gia tuyên truyền cùng nhạc sĩ Trần Hoàn ở Huế thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Sau khi Huế thất thủ, ông trở ra Vinh theo đề nghị của nhà thơ Lưu Trọng Lư. Tháng 5 năm 1947, ông bắt đầu làm báo, viết văn, trở thành phóng viên và biên tập viên cho tờ nhật báo Cứu quốc của Việt Minh. Tháng 9 năm 1948, ông trở lại Huế, tiếp tục hoàn thành chương trình trung học ở Trường Khải Định (về sau trường dời ra Hà Tĩnh và đổi tên thành Trường Huỳnh Thúc Kháng). Sau khi học xong Tú tài, tháng 10 năm 1950, ông vào đại học tại trường Dự bị đại học Liên khu 3 và 4 tại Thanh Hóa, theo khoa Văn-Triết.

Năm 1952, ông từ vùng kháng chiến tức Liên Khu Tư ở Thanh Hóa về Huế định xin gia đình người anh một số tiền để có thể đưa người yêu ra Hà Nội với mục đích theo học Văn Khoa ở đây.[2] Tuy nhiên, hai người anh của ông ở Huế đã bị Việt Minh nửa đêm lôi đi hành quyết vì vu cho tội thân Pháp. Lòng tin vào kháng chiến của Hoàng Thi Thơ do đó sụp đổ, ông quyết định vào Sài Gòn bắt đầu lại cuộc sống. Khi đi, ông dẫn theo hai đứa cháu vừa mất cha, đó là Hoàng Kiều và Hoàng Thi Thao.[3] Ở Sài Gòn ông dạy sinh ngữ Anh - Pháp ở các trường tư thục và theo nghề viết nhạc, hoạt động văn nghệ. Năm 1957, ông bắt đầu tổ chức những kỳ Đại nhạc hội tại rạp Thống Nhất Sài Gòn. Năm 1961, ông thành lập Đoàn Văn nghệ Việt Nam gồm hơn 100 nghệ sĩ tên tuổi và lưu diễn qua nhiều nước Á Châu cũng như nhiều thành phố trên thế giới: Vạn Tượng, Hồng Kông, Ðài Bắc, Tokyo, Bangkok, Singapore, Sénégal, Paris, London... và nhiều nơi ở Hoa Kỳ. Năm 1967, ông thành lập tiếp Đoàn Văn Nghệ Maxim, gồm 70 diễn viên ca-vũ-nhạc-kịch, tổ chức những chương trình ca vũ nhạc kịch đặc biệt tại nhà hàng Maxim. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là người duy nhất được Bộ Thông tin và Tổng cục Chiến tranh Chính trị Việt Nam Cộng hòa nhiều lần cử thành lập và dẫn các đoàn văn nghệ Việt Nam sang Châu Âu trình diễn...

Tháng 4 năm 1975, đoàn văn nghệ của ông đang lưu diễn ở Nhật Bản thì xảy ra Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. Ông không thể trở về nước và từ đó phải định cư ở Hoa Kỳ. Ông có về Việt Nam 2 lần kể từ năm 1993.

Sau năm 1975, tại Việt Nam, ông cùng với nhạc sĩ Phạm Duy là hai người bị cấm về nhân thân (cấm toàn bộ tác phẩm)[4], đến đầu năm 2009, một số bài hát của ông mới được Cục Nghệ thuật Biểu diễn thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phép phổ biến trở lại.[Gc 1]

Ngày 23 tháng 9 năm 2001, ông qua đời tại nhà riêng ở Glendale, California trong khi chờ vợ làm một món cá mà ông thích. Ông được an táng tại vườn Vĩnh Cửu - nghĩa trang Peek Family, Quận Cam. Mộ của ông nằm ở nhà quàn Heritage Memorial Service, 17712 Beach Boulevard, Huntington Beach, Hoa Kỳ.[8]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đi kháng chiến, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã có quan hệ tình cảm với Trương Tân Nhân, một người bạn học cùng trường.[9] Về sau khi ông bỏ kháng chiến về thành và không thể trở lại, bà Tân Nhân lúc đó đã mang thai. Sau hiệp định Genève, bà ở lại miền Bắc và tiếp tục sự nghiệp ca hát. Người con trai của hai người mang tên Lê Khánh Hoài (lấy theo họ người chồng sau của bà), hiện đang hoạt động trong lĩnh vực kịch nghệ và điện ảnh tại Thành phố Hồ Chí Minh.[1].

Tháng 9 năm 1957, ông lập gia đình với ca sĩ Thúy Nga (con của Nhiếp ảnh gia Nguyễn Giao) và có bốn người con: 3 trai 1 gái. Trong đó, người con trưởng là Hoàng Thi Thi, vừa là nhạc sĩ vừa là kỹ sư. Ngoài ra ông còn một người con nuôi là Hoàng Thi Thao (1945–2019), người cháu gọi ông bằng chú và cũng là người theo sát chân ông trong nhiều năm hoạt động văn nghệ.[1]

Ngoài ra ông còn có một người cháu gọi bằng ông bằng chú ruột đó là tỷ phú Hoàng Kiều (con trai của ông Hoàng Hữu Nam).

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ban hợp ca do Hoàng Thi Thơ điều hành từng góp mặt trên đài truyền hình THVN thời Việt Nam Cộng hòa

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Thi Thơ sáng tác trên 500 ca khúc từ tình ca đến nhạc quê hương, dân ca đến nhạc thời trang, đoản khúc đến trường ca, nhạc cảnh đến nhạc kịch.

Khoảng năm 1972-1973, ông sử dụng thêm bút danh mới là Tôn Nữ Trà Mi và sáng tác một loạt ca khúc mà báo chí thời đó gọi là "đem lại cho làng tân nhạc Việt Nam luồng sinh khí mới và cảm hứng tân kỳ" như "Rước tình về với quê hương", "Việt Nam ơi ngày vui đã tới", "Ô kìa đời bỗng dưng vui", "Xây nhà bên suối", "Ngày vui lý tưởng"... Những ca khúc này đã quen thuộc với người Việt Nam cho đến tận nay.

Trong thời gian cộng tác với nhà hàng Maxim's (Sài Gòn), ông đã thực hiện những tiết mục ca nhạc kịch dã sử và sáng tác những ca khúc hào hùng như "Quang Trung đại phá quân Thanh" hoặc "Trưng Vương đại phá quân Đông Hán".

Năm 1955, Hoàng Thi Thơ sáng tác hai bài trường ca đầu tiên mang tên "Triều Vui Thế Hệ" & "Máu Hồng Sử Xanh". Năm sau, ông cho ra đời trường ca “Ngày Trọng Đại” và đến năm 1963 là "Tiếng Trống Diên Hồng".[11]

Hoàng Thi Thơ còn là tác giả quyển “Để Sáng Tác Một Bài Nhạc Phổ Thông” xuất bản vào năm 1953, dày 500 trang với những phần hướng dẫn về hòa âm, luật sáng tác...[1]

Ông cũng là người đã nâng đỡ Sơn CaHọa Mi, đào tạo trở thành những nữ ca sĩ nổi tiếng.

Ngoài ra, trước năm 1975 tại Sài Gòn, ông có thực hiện ba băng nhạc mang tên ông với những giọng ca thượng thặng thời đó.

Hoàng Thi Thơ 1: Rước tình về với quê hương
Hoàng Thi Thơ 2: Việt Nam như đóa hoa xinh
Hoàng Thi Thơ 3: Đưa em qua cánh đồng vàng

Khi ra nước ngoài, ông có thực hiện một số băng nhạc riêng và được Trung tâm Thúy Nga và Thế giới Nghệ thuật thực hiện video về chủ đề nhạc Hoàng Thi Thơ.

Nghiên cứu nghệ thuật múa[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Thi Thơ cũng nghiên cứu các điệu múa. Ông được cho là người tiên phong xây dựng những điệu vũ vừa hiện đại vừa đậm chất dân tộc. Ông cùng với vũ sư Trinh Toàn và vũ sư Lưu Hồng đã có nhiều công trình hợp tác nghiên cứu và sáng tạo các điệu múa dân tộc: Vũ múa trống, Vũ lên đồng, Vũ múa nón, Múa xòe, Múa Koho...

Nhạc kịch - điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Thi Thơ đạo diễn sáng tác vở nhạc kịch đầu tiên năm 1963, mang tên "Từ Thức lạc lối bích đào". Năm 1964, vở nhạc kịch thứ nhì "Dương Quý Phi". Năm 1966 vở "Cô gái điên". Năm 1968 vở "Ả Đào say".

Năm 1965, Hoàng Thi Thơ trở thành đạo diễn điện ảnh với cuốn phim đầu tiên là "Cô Gái Điên" quay thành phim từ nhạc kịch cùng tên của ông, do Trung tâm Điện ảnh Quốc gia sản xuất.

Năm 1969, ông đạo diễn cho phim "Người cô đơn" do chính ông sản xuất. Sau khi ra đến hải ngoại, Hoàng Thi Thơ vẫn tiếp tục làm đạo diễn cho một số phim video như "Chuyện Tình Buồn", "Tiếng Hát Trong Trăng", "Người Đẹp Bạch Hoa Thôn" và "Chiêu Quân Cống Hồ".

Ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên ca khúc Bút danh sử dụng Năm sáng tác
1 2000 đêm đau thương
2 Ai buồn hơn ai 1964
3 Ai nhớ chăng ai 1956
4 Anh biết em đi chẳng trở về[12]
5 Bài ca dân nghèo
6 Bài ca đoạn trường
7 Bài thơ hòa bình
8 Bài thơ cuối cùng
9 Bài thơ má lúm đồng tiền 2000
10 Bài thơ tự do
11 Bài thơ xuân 1954
12 Bao giờ trở lại
13 Biết đâu tìm Tôn Nữ Trà Mi
14 Biết thuở nào nguôi
15 Bóng hồng Việt Nam
16 Cành hoa trước gió
17 Các anh các chị
18 Các anh về 1960
19 Cái trâm em cài Tôn Nữ Diễm Hồng 1971
20 Chiếc quạt Xuân Hương
21 Chiều cố đô 1959
22 Chiều mưa viễn xứ
23 Chiến sĩ hành 1969
24 Chim vàng trên nón sắt
25 Chuyện tình cô lái đò bến Hạ 1974
26 Chuyện Tình La Lan
27 Chuyện tình người trinh nữ tên Thi 1970
28 Chúng mình
29 Chủ nhật xám 1969
30 Con bướm nhà em
31 Con tim và nước mắt
32 Còn nhớ hay quên
33 Cô gái mới
34 Cung đàn tám hướng
35 Cuộc đời này
36 Dậy thì
37 Diễm tình Tôn Nữ Trà Mi 1973
38 Dù xa xôi vẫn thấy rất gần
39 Duyên quê
40 Đám cưới trên đường quê 1973
41 Đành quên sao Tôn Nữ Trà Mi 1960
42 Đẹp chiều thôn dã
43 Đẹp mấy mùa hoa
44 Đêm cuối cùng 1958
45 Đêm qua mơ thấy Sài Gòn
46 Điệu buồn dang dở
47 Điệu lý cò bay
48 Đôi mái chèo trăng
49 Đời sầu của ve 1973
50 Đời buồn như kiếp tằm
51 Đời ta như chiếc lá vàng
52 Đưa em qua cánh đồng vàng
53 Đưa em xuống thuyền 1974
54 Đừng nói với anh 1964
55 Đường xưa lối cũ 1959
56 Em là nữ hoàng
57 Em như làn mây
58 Em về thăm lại quê anh
59 Gạo trắng trăng thanh 1956
60 Gặp lại người yêu
61 Gặp nhau 1959
62 Gặp nhau giữa trời lưu lạc
63 Giã từ mẹ 1954
64 Giây phút chạnh lòng
65 Giọt lệ bên bờ biển Đông
66 Giọt sầu từ lầu Hoàng Hạc
67 Gót hồng trên con đường đất
68 Hát nữa đi em 1959
69 Hình ảnh người không đợi 1963
70 Hoa hồng một đóa
71 Hoa nữ sinh
72 Hỏi người còn nhớ đến ta Tôn Nữ Trà Mi 1973
73 Em như làn mây
74 Em là nữ hoàng Tố Tâm
75 Em về thăm lại quê anh
76 Khi người lính trẻ trở về quê hương
77 Khi tình yêu đến
78 Không đâu bằng quê hương ta
79 Khúc hát chia tay
80 Kinh chiều 1969
81 Lá vàng tượng trắng trong vườn lục xâm
82 Lá thư về làng 1955
83 Lời hát tạ ơn
84 Là người Việt Nam tôi vẫn nhớ
85 Lời người bên kia Bến Hải / Những ai chưa về
86 Lời người ra đi
87 Lời người ở lại 1954
88 Lời thề của loài hoa trắng Tôn Nữ Trà Mi 1969
89 Lúa vàng sao sáng
90 Mái tranh chiều
91 Màu hoa thiên lý
92 Mặt trời lại sáng quê hương
93 Mối tình bất diệt
94 Mộng Hoàng, áo cưới hay khăn tang
95 Mộng hồng
96 Một lần cuối 1970
97 Một miếng trầu duyên
98 Một ngày buồn vĩnh biệt quê hương
99 Một ngày rồi lại một ngày
100 Một thoáng em về
101 Mời lên hái đóa hoa rừng
102 Mùa thu Đông Kinh
103 Múc ánh trăng vàng 1955
104 Mưa dọc đường quê
105 Nắng quê hương hay nắng quê người
106 Ngày buồn trôi qua ngày vui phải tới
107 Ngày vui lý tưởng
108 Ngày trọng đại (trường ca)
109 Ngập ngừng
110 Người cô đơn (nhạc phim cùng tên)
111 Người nghệ sĩ mù 1964
112 Nhạc vọng thôn chiều
113 Nhớ thành đô 1963
114 Như cánh phù du 1973
115 Những giòng lệ rơi
116 Những ngày thơ mộng 1959
117 Những vòng hoa trắng
118 Nếu một ngày kia 1965
119 Niềm đau của Thúy
120 Ô kìa đời bỗng dưng vui 1973
121 Ôi chưa kịp nói với nhau một lời
122 Phố chiều
123 Phút đầu tiên 1959
124 Quê hương ta
125 Rong chơi cuối trời quên lãng 1974
126 Rước tình về với quê hương 1973
127 Ruộng lúa nương dâu
128 Sao Bích Khê
129 Sống chết với nhau Triệu Phong
130 Súng ơi 1954
131 Ta dạy cho con
132 Tà áo cưới 1960
133 Tại sao?
134 Tâm tình gửi Huế Tôn Nữ Trà Mi
135 Tango nhớ
136 Tháng tư buồn
137 Thiên đường của ta
138 Thôi chia ly từ đây 1964
139 Thôn trăng mở hội trăng tròn
140 Thị trấn đìu hiu
141 Thục Lan, giọt nước mắt da vàng
142 Thúy
143 Tiễn nàng sang ngang
144 Tìm anh
145 Tin ngày mai đến
146 Tin về đô thị
147 Tình anh
148 Tình anh tình em
149 Tình ca điên
150 Tình ca trên lúa
151 Tình dang dở
152 Tình đêm liên hoan
153 Tình gần tình xa
154 Tình hồng cho em số 1 (Tình hồng cho em) 1970
155 Tình hồng cho em số 2 (Đêm buồn) 1970
156 Tình hồng cho em số 3 (Kinh cầu tình yêu) 1970
157 Tình hồng cho em số 4 (Niềm đau của cát) 1970
158 Tình hồng cho em số 5 (Rồi một ngày) 1970
159 Tình hồng cho em số 6 (Lộng Ngọc) 1970
160 Tình hồng cho em số 7 (Tạ tình) 1970
161 Tình hồng cho em số 8 (Lệ buồn) 1970
162 Tình hồng cho em số 9 (Ru nhau) 1970
163 Tình hồng cho em số 10 (Góc trời của ta) 1970
164 Tình mùa hoa đào 1966
165 Tình sầu biên giới
166 Tình ta với mình
167 Tình vỡ
168 Tình yêu tuyệt vời 2
169 Tóc thề chấm vai 2001
170 Tôi nhớ tên anh 1964
171 Tôi yêu Thúy
172 Tôi và người tôi yêu
173 Trái tim Việt Nam 1974
174 Trăng đẹp trời Nam
175 Trăng rụng xuống cầu 1956
176 Trời quê hương ta xanh Triệu Phong
177 Túp lều lý tưởng Tôn Nữ Trà Mi 1970
178 Vần thơ thương nhớ
179 Vết chân đà điểu
180 Việt Nam ơi ngày vui đã tới
181 Việt Nam như đóa hoa xinh 1974
182 Vũ khúc đồng quê
183 Vũ khúc yêu đời
184 Xây nhà bên suối Tôn Nữ Trà Mi 1973
185 Xe hoa một chiếc (Đàn lòng trăm cung) Tôn Nữ Trà Mi 1961
186 Xin một vành khăn tang cho người đã chết
187 Xinh quá xinh (Chiếc quạt thần tiên)[13]
188 Xuân chết trong lòng tôi 1949
189 Yêu mãi còn yêu

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 6 bài hát được phổ biến trở lại của Hoàng Thi Thơ là: Đường xưa lối cũ, Rước tình về với quê hương, Hình ảnh người em không đợi, Duyên quê, Túp lều lý tưởng, Múc ánh trăng vàng[5][6][7]
  1. ^ a ă â b Trường Kỳ, Hoàng Thi Thơ: đã 6 năm qua...[liên kết hỏng] - TiviTuansan.com, 28/10/2008
  2. ^ “HOÀNG THI THƠ: đã 6 năm qua…”. tvtsonline.com.au. 27 tháng 10 năm 2008. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 1 năm 2018. Truy cập 6 tháng 1 năm 2018.
  3. ^ Nguyễn Ngọc Ngạn (10 tháng 3 năm 2017). “KỶ NIỆM VỚI NHẠC SĨ HOÀNG THI THƠ”. thoibao.com. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 1 năm 2018. Truy cập 6 tháng 1 năm 2018.
  4. ^ Nếu thấy oan, Đàm Vĩnh Hưng có thể kiện của tác giả Nhật Lệ trên báo Lao động 22/2/2006, Vietbao đăng lại. Bài báo có nhắc đến việc Phạm Duy và Hoàng Thi Thơ bị cấm về nhân thân (nghĩa là cấm lưu hành toàn bộ tác phẩm)
  5. ^ Danh sách cái bài hát được phép phổ biến, phần X Lưu trữ 2012-11-23 tại Wayback Machine, Cục Nghệ thuật Biểu diễn
  6. ^ Cố Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ: Sau 33 năm “Rước tình về với quê hương”... Báo Tuổi trẻ Online, ngày 7 tháng 1 năm 2009
  7. ^ 6 ca khúc của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ được phép phổ biến
  8. ^ Hoàng Phủ Ngọc Phan (2000). “Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ”. Hoàng Tộc Họ Hoàng. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2015.
  9. ^ “Khúc hát cuối cho một cuộc tình”. Báo Đại Đoàn Kết. Truy cập 27 tháng 1 năm 2016.[liên kết hỏng]
  10. ^ Tuý Hồng (ngày 3 tháng 1 năm 1970). “Viết về Hoàng Thi Thơ”. Báo Kịch Ảnh.
  11. ^ Trường Kỳ (ngày 10 tháng 5 năm 2001). “Hoàng Thi Thơ - Ông tiên còn vướng bụi trần”. Việt Mercucy.
  12. ^ Cùng phổ thơ Thái Can nhưng khác với bài của nhạc sĩ Anh Bằng.
  13. ^ Cho phù hợp phần biểu diễn có múa quạt của của nữ các sĩ Ý Nhi, Thái Hòa, Mai Vy,.. nên đã đổi tên thành Chiếc quạt thần thiên và thay một câu trong lời bài hát từ dáng hồng lả lơi gợi tình như ý thơ thành chiếc quạt lả lơi gợi tình như ý thơ.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]