Triệu Phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triệu Phong
Huyện
Địa lý
Tọa độ: 16°30′B 107°38′Đ / 16,5°B 107,64°Đ / 16.50; 107.64Tọa độ: 16°30′B 107°38′Đ / 16,5°B 107,64°Đ / 16.50; 107.64
Diện tích 354.92
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 108.657
 Mật độ 306 người/Km²
Dân tộc Kinh,...
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Bắc Trung Bộ
Tỉnh Quảng Trị
Huyện lỵ Huyện Triệu Phong
Thành lập 1918
 Bí thư Huyện ủy Lê Cảnh Biên
Website Trang chủ Huyện Triệu Phong

Triệu Phong là một trong 10 huyện, thị, thành phố của tỉnh Quảng Trị, Việt Nam. Huyện nằm về phía Đông Nam của tỉnh và trãi ngang như một tấm khăn chùng từ nơi giáp giới với hai huyện Cam Lộ, Đakrông ra đến biển đông; chiều dài trên đất liền tư Tây sang Đông hơn 30 km, chiều rộng ở vùng đồng bằng từ 10 đến 13km. Diện tích tự nhiên của huyện là 354,92 Km², dân số của huyện tính đến tháng 4/2009 là 108.657 người.[1]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Phong là một huyện chủ yếu gồm đồng bằng ven biển, với một ít gò đồi thấp thuộc các xã Triệu ThượngTriệu Ái ở phía Tây, địa hình phía Đông huyện là cồn cát, đụn cát trắng. Diện tích tự nhiên của Triệu Phong là 354,92 Km². Đoạn cuối của sông Thạch Hãn chảy ra cửa biển Cửa Việt, nằm trên địa bàn huyện, có vị trí địa lý:

  • Phía Bắc giáp với thị xã Đông Hà
  • Phía Nam giáp với thị xã Quảng Trị và huyện Hải Lăng
  • Phía Tây giáp với huyện Đakrông
  • Phía Đông giáp với biển Đông

Thị trấn Ái Tử là trung tâm kinh tế - văn hoá xã hội của huyện cách thị xã Đông Hà 7km về phái Bắc và thị xã Quảng Trị 6km về phía Nam.[2]

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình huyện Triệu Phong nghiêng từ Tây sang Đông, được chia 3 vùng rõ rệt: gò đồi, đồng bằng và vùng cát ven biển. Vùng gò đồi chiếm 51,08% diện tích đất tự nhiên của huyện gồm các xã Triệu Thượng, Triệu Ái và một phần của xã Triệu Giang. Đây là nơi phát triển các loại cây công nghiệp, cây lấy gỗ kết hợp trồng cây hoa màu, cây lương thực và phát triển kinh tế trang trại.

Vùng đồng bằng rộng từ 7 đến 8 km với diện tích chiếm 38,39% diện tích đất tự nhiên gồm các xã: Triệu Thành, Triệu Long, Triệu Đông, Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Thuận, Triệu Phước, Triệu Trạch, Triệu Sơn, Triệu Trung, Triệu Tài, Thị trấn Ái Tử và một phần của xã Triệu Giang.

Phía Đông huyện là một dãi cát dài chạy theo bờ biển suốt từ Bắc chí Nam dài trên 15 km, rộng từ 4 đến 4,5 km với diện tích chiếm 10,53% đất tự nhiên của huyện gồm các xã Triệu Lăng, Triệu Vân, Triệu An. Đây là một phần của dãi tiểu Trường Sa. Có bờ biển dài 18 km. Ngư trường đánh bắt tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như mực, ghẹ, tôm, các loài cá phục vụ xuất khẩu.[3]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Triệu Phong nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa được phân thành 2 mùa: Mùa mưa rét và mùa khô nóng. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25 đến 25oC, nhưng lại có biên độ dao động khá lớn (tháng cao nhất 35 – 39oC, tháng thấp nhất 12 – 13oC) Lượng mưa trung bình hàng năm là 2500 – 2700mm, cao hơn mức trung bình của cả nước và phân bố không đều, tập trung chủ yếu là từ tháng 9 đến tháng 12 nên thường dễ gây hạn hán và lũ lụt.

Chất đất vùng đồng bằng phì nhiêu, rất tiện lợi cho việc canh tác và đưa các loài cây trồng mới có năng suất chất lượng cao vào sản xuất; hứa hẹn một cuộc sống bình yên, no ấm; xóm làng xanh tươi, trù phú.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Triệu Phong bao gồm 1 thị trấn Ái Tử và 18 xã: Triệu Thượng, Triệu Phước, Triệu Thành, Triệu Long, Triệu Hòa, Triệu Tài, Triệu Sơn, Triệu Đông, Triệu Giang, Triệu Thuận, Triệu Vân, Triệu Độ, Triệu Đại, Triệu Lăng, Triệu An, Triệu Trạch, Triệu Trung, Triệu Ái.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mảnh đất Triệu Phong chính thức thuộc về bản đồ nước Đại Việt từ năm 1306, lúc hai châu Ô – Rý được vua Chăm pa là Chế Mân làm sính lễ cưới Công chúa Huyền Trân - con gái vua Trần Nhân Tông. Từ năm đó về trước, sử cổ chỉ cho biết mảnh đất này là một phần của Bộ Việt Thường – một trong 15 Bộ của nước Văn Lang đời các Vua Hùng. Sau năm 207 (trước Công nguyên) là một phần của Huyện Tỳ Cành, Quận Nhật Nam thời Bắc thuộc. Giữa thế kỷ 4 lúc Vua Chăm pa là Phạm Văn đánh đuổi quân Hán ra khỏi Đèo Ngang, trở thành một phần đất của Châu Ô, thuộc Vương Quốc Chăm pa.

Sau khi tiếp quản, nhà Trần cho di dân từ phía Bắc vào, mở đầu quá trình hình thành làng xã và thành lập đơn vị hành chính. Quá trình dời dân diễn ra 3 đợt chính: + Đợt thứ nhất từ năm 1307. Trong đợt di dân này,số dân và số làng chưa nhiều. Theo sách minh chí của Trung Quốc, đến giưa thập kỷ thứ 2 thế kỷ 15 (tức hơn một thế kỷ sau) cả hai Châu Thuận và Hoá mới chỉ có 79 làng với 1470 nhà và 5662 khẩu. + Đợt thứ hai vào những năm đầu đời Lê Thánh Tông, là một đợt khá lớn. Theo sách “Thiên Nam dư hạ tập” viết năm 1483 thì riêng huyện Võ Xương đã có đến 53 làng. Năm 1553 sách “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An ghi số làng 59. Lúc này các làng ở vùng đồng bằng đã khá nhiều, vùng trung du ít hơn, và dọc bãi cát chỉ có người ở, chưa hình thành làng xã. + Đợt thứ ba bắt đầu từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá (1558) trở đi. Đây là đợt di dân lớn nhất. Hai thế kỷ sau, năm 1776, sách “Phủ Biên tạp lục” đã cho biết huyện Đăng Xương gồm có 5 tổng, 107 xã, 29 phường, 7 giáp (huyện Đăng Xương lúc đó còn bao gồm cả tổng An Phúc, huyện Hải Lăng và tổng An Lạc của huyện Cam Lộ, còn tổng Hoa La và tổng An Dã thuộc huyện Hải Lăng). Từ đây, việc di dân, lập làng chỉ còn diễn ra trong phạm vi nội bộ tỉnh và huyện (Số làng sau cách mạng tháng 8/1945 chỉ nhiều hơn số làng của năm 1776 là 23, trong đó tăng nhiều nhất là ở vùng Trung du, miền núi (Tổng An Đôn).

Song song với quá trình di dân, lập làng đã diễn ra quá trình hình thành đơn vị hành chính. Năm 1307, nhà Trần đổi tên Châu Ô thành Châu Thuận, đặt lỵ sở tại vùng Vệ Nghĩa ( xã Triệu Long bây giờ). Về hành chính, nhà Trần chia Châu Thuận thành 4 huyện. Đất Triệu Phong hiện giờ là huyện Hoa Lãng ( nghĩa là đẹp và rộng thoáng). Năm 1469, vua Lê Thánh Tôn định lại bản đồ đất nước, đổi tên Hoa Lãng thành Võ Xương thuộc phủ Triệu Phong (Phủ Triệu Phong lúc này gồm 6 huyện từ Cửa Việt vào Điện Bàn (Quảng Nam – Đà Nẳng). Năm 1801 đặt dinh Quảng Trị, phủ Triệu Phong thuộc dinh, lãnh 3 huyện Đăng Xương, Hải Lăng, Minh Linh. Năm 1830 đặt chức tri phủ kiêm luôn huyện Minh Lương, 2 huyện Đăng Xương, Hải Lăng chỉ thống hạt. Năm 1836 phủ chuyển vào kiêm thay luôn Đăng Xương thống hạt 3 huyện ( Minh Lương chia thành Minh Linh và Địa Linh). Đời Duy Tân, phủ chỉ là một huyện lớn không còn thống hạt) . Năm 1604 Nguyễn Hoàng đổi thành huyện Đăng Xương, song phần đất của huyện Đăng Xương thời ấy khác với bây giờ. Tình trạng đó tồn tại mãi đến đời Minh Mạng, Tự Đức và Khải Định mới dần dần điều chỉnh lại thành mảnh đất như hiện nay (Quá trình điều chỉnh địa phận như sau: năm 1836: cắt tổng An Lạc về huyện Địa Linh ( Gio Linh). Cắt tổng An Nhơn và 3 thôn Phương Long, Phú Hải, Thuận Đầu (thuộc tổng An Lưu) về huyện Hải Lăng. Cắt tổng An Dã và 2 làng Tam Hữu, Anh Hoa ( Anh Kiệt thuộc tổng An Thái và phần lớn tổng Hoa La trừ các làng Thạch Hãn, Tý Lễ (Quy Thiện, Long Hưng, Tích Tường, Như Lệ nhập về huyện Đăng Xương). Năm 1842: Cắt 4 thôn Phường Thiết, Tràng Thượng, Hoà Đức, Nội Đức của tổng An Đôn nhập về huyện Thành Hoá ( nay là Cam Lộ). Năm 1867, cắt các làng Đông Lai, Thượng Nghĩa, Đông Hà, Tây Trì thuộc tổng An Đôn về huyện Thành Hoá, đồng thời các làng Hà Xá, Trung Chỉ, Điếu Ngao, Lộc Yên từ Thành Hoá về huyện Đăng Xương. Năm 1920 chuyển các thôn Duy Phiên, Thanh Xuân, Xuân Thành từ huyện Gio Linh về phủ Triệu Phong). Năm 1844 do trùng với tên huý nhà Vua nên đổi Đăng Xương thành Thuận Xương. Khoảng 1918-1919 đời Khải Định, qua cải cách hành chính, phủ chỉ là huyện lớn không kiêm lý huyện và Thuận Xương trở thành phủ, lấy tên là phủ Triệu Phong, gồm 5 tổng (An Đôn, Bích La, An Dã, An Cư và An Lưu).

Sau cách mạng tháng 8 – 1945 chính quyền cách mạng bỏ đơn vị tổng lập thành xã gồm một số làng (tháng 10 -1946 toàn huyện có 14 xã), bỏ đơn vị phủ thành huyện. Năm 1950, thực hiện chủ trương của tỉnh từ 14 xã đã hợp nhất thành 10 xã lớn. Năm 1956, chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam đã chia Triệu Phong thành 18 xã thuộc 3 quận hành chính khác nhau là Triệu Phong, Đông Hà và Ba Lòng.

Sau khi đất nước thống nhất, thực hiện chủ trương của TW, 1977 Triệu Phong hợp nhất với Hải Lăng thành huyện Triệu Hải. Năm 1978 cắt hai xã Triệu Lương, Triệu Lễ chuyển qua Thị xã Đông Hà. Năm 1990, huyện Triệu Hải được tách thành hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, huyện Triệu Phong gồm 22 xã, thị trấn. Đến năm 1997, cắt 3 xã Ba Lòng, Triệu Nguyên, Hải Phúc về huyện Đakrong, huyện Triệu Phong còn lại 18 xã và 01 thị trấn.[4]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường bộ có quốc lộ 1A chạy qua;
  • Đường sắt Thống Nhất Bắc- Nam chạy dọc theo quốc lộ 1A.
  • Đường thủy có sông Thạch Hãn với cảng Cửa Việt.
  • Có Sân bay Ấi Tử (do Mỹ xây dựng, đang chờ khôi phục

Triệu Phong có Quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt đi qua. Ngoài 2 tuyến đường quan trọng nói trên, Triệu Phong có 3 tỉnh lộ, đó là tỉnh lộ 64 thị xã Quảng Trị đi Cửa Việt, tỉnh lộ 68 thị xã Quảng Trị đi Xuân Viên và Tỉnh lộ 6 bis thị trấn Ái Tử đi Thượng Phước lên đến Cùa (Cam Lộ). Từ các tỉnh lộ, nhiều tuyến đường huyết mạch nội huyện đã được đầu tư nâng cấp như đường Ba Bến – Triệu Lăng, đường Triệu Tài – thị trấn Ái Tử, đường Đại – Độ - Thuận – Phước, đường Chợ Cạn – Bồ Bản, đường Cửa Việt – Mỹ Thủy. Trên địa bàn huyện có con sông lớn chảy qua là sông Thạch Hãn, có con sông đào Vĩnh Định và hai con sông khác là sông Vĩnh Phước và sông Ái Tử.[5]


Các đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Trị-Việt Nam
Thành phố (1): Đông Hà (tỉnh lị)
Thị xã (1): Quảng Trị
Huyện (8): Cam Lộ | Cồn Cỏ | Đa Krông | Gio Linh | Hải Lăng | Hướng Hóa | Triệu Phong | Vĩnh Linh



Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Tổng quan bản đồ hành chính Huyện Triệu Phong”. trieuphong.quangtri.gov.vn. Truy cập 21/8/2015. 
  2. ^ “Huyện Triệu Phong - điều kiện tự nhiên”. 12a1tp.vnweblogs.com. Truy cập 21/8/2015. 
  3. ^ “Tiềm năng và triển vọng”. trieuphong.quangtri.gov.vn. Truy cập 21/8/2015. 
  4. ^ “Mảnh đất con người”. trieuphong.quangtri.gov.vn. Truy cập 21/8/2015. 
  5. ^ “Tổng quan bản đồ hành chính Huyện Triệu Phong”. trieuphong.quangtri.gov.vn. Truy cập 21/8/2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]