Đặng Thí

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đặng Thí (1921 – 2001) là nhà cách mạng và chính khách Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng.

Ông quê tại làng An Tiêm, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Quá trình hoạt động cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông hoạt động cách mạng ở Huế từ khi đang học Trường Quốc học. Năm 1937 ông làm Bí thư thanh niên dân chủ Thành phố Huế;

1939 ông là Bí thư lâm thời Đảng Cộng sản Đông Dương Thành phố Huế; năm 1940 bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà tù Lao Bảo và Buôn Ma Thuột.

1945 ông làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng trị, Phó Chủ tịch Ủy ban Cách mạng, sau đó được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa 1 (1946), Bí thư phân khu uỷ, Chính uỷ mặt trận Bình Trị Thiên, Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Thanh Hoá, Phó Bí thư Liên khu uỷ IV [1], Bí thư Khu ủy Trị Thiên và Chính ủy quân khu (1966)[2].

Ông là Uỷ viên Trương ương Đảng 3 khoá IV[3], V, VI; đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá VII.

Ông có thời gian 20 năm làm Bộ trưởng trải qua các cương vị Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (1969)[4], Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (1971 – 1973) [5], Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất (1974 – 1976) [5],[6], Bộ trưởng Phủ Thủ tướng (1976 – 1977) [7], Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (1981 – 1982)[8], Trưởng ban Việt kiều Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Hợp tác văn hóa với Lào, Cam pu chia (1982 – 1992)[9]

Khen thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý khác. Hai lần được chính phủ Lào tặng Huân chương Tự do hạng nhất và Huân chương Hữu nghị Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]