Dương quý phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Dương Quý Phi)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dương quý phi
楊貴妃
Tu Hoa mỹ nhân
YangGuiFei.jpg

Tranh của Hosoda Eishi đầu thế kỷ 19 tại viện bảo tàng Anh
Thông tin chung
Phối ngẫu Thọ vương Lý Mạo
Đường Huyền Tông
Tên đầy đủ Dương Ngọc Hoàn
Hoàng tộc Nhà Đường
Thân phụ Dương Nguyên Diễn
Sinh 26 tháng 6, 719
Tứ Xuyên, Trung Quốc
Mất 15 tháng 7, 756 (37 tuổi)
Mã Ngôi Dịch, Hàm Dương, Thiểm Tây, Trung Quốc
An táng Mã Ngôi Dịch, Hàm Dương, Thiểm Tây
(chỉ là mộ gió)

Dương quý phi (chữ Hán: 楊貴妃, 26 tháng 6, 71915 tháng 7, 756[1]), còn được gọi là Dương Thái Chân (楊太真)[2], là một phi tần rất được yêu quý của Đường Huyền Tông Lý Long Cơ. Trong văn hóa Trung Hoa, bà được xếp vào một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc, có sắc đẹp được ví là Tu hoa (羞花), khiến hoa thu mình lại vì hổ thẹn.

Câu chuyện về tình duyên giữa Dương Quý phi và Đường Huyền Tông thường được nhắc đến với khung cảnh ước lệ, xa hoa tột đỉnh của giai đoạn nhà Đường đang thịnh thế. Sự yêu chiều một cách thái quá đối của Huyền Tông đối với Dương Quý phi là nguyên nhân khiến người đời cho rằng nhà Đường đều do Quý phi mà suy vong.

Sắc đẹp của Dương quý phi được ghi nhận là khá tròn trịa và đầy đặn, thường được so sánh một cách đối lập với Triệu Phi Yến nhà Hán, với câu Hoàn phì Yến sấu (環肥燕瘦). Phi Yến được biết đến nhẹ như chim yến, có thể đứng trên lòng bàn tay người, còn Dương Quý phi lại nổi tiếng vì sự đẫy đà, tròn trịa có phần mập mạp, sắc da mịn màng diễm lệ.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Chính sử Tân Đường thư lẫn Cựu Đường thư đều không nói rõ tên thật của Dương quý phi, chỉ ghi huy hiệu Thái Chân (太真), các thi nhân đại phu về sau cũng gọi Quý phi là Dương Thái Chân (楊太真).

Theo Minh Hoàng tạp lục (明皇杂录) của Trương Xử Hối (郑处诲) được soạn không lâu sau khi Đường Huyền Tông qua đời, thì cho biết Quý phi có tiểu tựNgọc Hoàn (玉環), lại có thuyết là Ngọc Nô (玉奴). Về sau, đương đại đa phần gọi Dương quý phi là Dương Ngọc Hoàn (楊玉環) vì lẽ đó, tự hiển nhiên Dương Ngọc Hoàn trở thành tên thật của Dương quý phi.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Dương quý phi sinh ngày 26 tháng 6 năm 719, tại Thục Quận (nay là Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên), nguyên quán Bồ Châu (nay là ngoại ô thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây). Bà là con út trong số bốn người con gái của một vị quan tư hộ đất Thục Chân. Gia đình này nguyên gốc ở một quận Hòa Âm, Thiểm Tây, có tổ tiên là Dương Uông Chi (楊汪之), một hậu duệ hoàng tộc nhà Tùy.

Cha Dương thị là Dương Nguyên Diễn (楊元璬), thuộc dòng khá giả vì tổ phụ từng làm Thứ sử tại quận Kim. Xuất thân trong gia đình quan lại, cùng gia quyến sống ở Tứ Xuyên, từ nhỏ Dương Ngọc Hoàn được học hát, múa. Đến năm 10 tuổi, cha mẹ mất, Ngọc Hoàn mới đến Lạc Dương[3], sống với nhà bác ruột, tức Dương Huyền Diễn (楊玄璬).

Năm 733, khi 14 tuổi, sủng phi của Đường Huyền Tông là Vũ huệ phi đã chọn Ngọc Hoàn làm phi của con trai bà là Thọ vương Lý Mạo (李瑁), Dương Ngọc Hoàn trở thành Thọ Vương phi (壽王妃). Thọ vương Lý Mạo tính nhút nhát, thích ngắm mỹ nhân. Dương Ngọc Hoàn làm Thọ Vương phi được ba năm, nhưng chuyện chăn gối chưa bao giờ có vì Lý Mạo còn nhỏ.

Thái Chân nương tử[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Huyền Tông - cha chồng và về sau là chồng của Dương Thái Chân

Đời nhà Đường, Đường Huyền Tông là một trong những vị Hoàng đế trị vì lâu hơn cả. Các phi tần được hoàng đế sủng ái sinh cả thảy 59 người con, trong số đó có 30 trai và 29 gái. Phi tần được ông sủng ái nhất là Vũ huệ phi, khi đó lễ nghi trong cung của bà không khác gì Hoàng hậu, nhưng bà vẫn không được phong Hoàng hậu vì lẽ bà là người trong tộc của Vũ Tắc Thiên. Để an ủi bà, Huyền Tông đối với Huệ phi vượt hẳn hơn nhiều các phi tần khác. Với Đường Huyền Tông, Vũ Huệ phi sinh được 7 con, nhưng 3 bị chết từ khi còn nhỏ, và người con trai còn trưởng thành của bà chính là Thọ vương Mạo.

Năm 737, Vũ huệ phi đột ngột qua đời. Sau khi Huệ phi mất, Đường Huyền Tông thường hay buồn rầu, ngày nhớ đêm thương, lập đài Tập Linh để cầu siêu cúng vái cho vong hồn Huệ phi được sớm siêu thăng. Nội giám thấy ông vậy bèn tìm đủ mọi cách làm cho hoàng đế nguôi buồn. Nhưng bao nhiêu cung tần mỹ nữ cũng không làm Huyền Tông khuây khỏa.

Một hôm, Cao Lực Sĩ đi qua phủ Thọ vương thấy Ngọc Hoàn là giai nhân tuyệt sắc, tinh thông ca vũ bèn nghĩ rằng có lẽ mỹ nhân này thay được Vũ Huệ phi. Nhân buổi hầu, Cao Lực Sĩ mật tấu với Huyền Tông, truyền đưa Dương Ngọc Hoàn vào Tập Linh đài để trông coi đèn nhang sớm hôm cầu nguyện cho Vũ Huệ phi. Do đó, Ngọc Hoàn phải vào cung Hoa Thanh đến Tập Linh đài làm đạo cô. Huyền Tông trông thấy Dương phi, lập tức si mê ngay. Ông muốn nàng ta vào cung nhưng lại vướng ngại chuyện là con dâu. Cao Lực Sĩ bèn ngày đêm nghĩ ra cách.

Năm 740, tháng 10, lấy danh nghĩa cầu phúc cho Đậu thái hậu, Huyền Tông khiển Dương phi nhập cung làm nữ đạo sĩ, lấy đạo hiệuThái Chân (太真). Cao Lực Sĩ lại chọn gả con gái của Vi Chiêu Huấn (韋昭訓) để thay Ngọc Hoàn làm Thọ vương phi. Xem như xuất gia là thay đổi đời người, không còn là vương phi của Thọ vương Lý Mạo nữa.

Huyền Tông sủng ái Dương Ngọc Hoàn, từ đó dần quên đi Huệ phi.

Sắc phong Quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 745, tháng 8, sau 1 tháng Thọ vương Mạo lấy Vi thị làm kế phi, Đường Huyền Tông ra chỉ cho Dương Thái Chân hoàn tục. Ngay sau đó, Hoàng đế ra ý chỉ lập Dương thị làm Quý phi, trong cung được gọi là Nương tử (娘子), được cung phụng đồ vật dụng không khác gì Hoàng hậu.

Quý phi hiển quý, nên gia đình nàng cũng được gia ân. Huyền Tông thụy phong Dương Nguyên Diễn làm Binh bộ thượng thư, tước Tề quốc công (齐国公), mẹ Dương Quý phi được phong Lương Quốc phu nhân (凉国夫人). Ba người chị của Ngọc Hoàn cũng được phong, người đầu tiên phong là Hàn Quốc phu nhân (韓國夫人), người thứQuắc Quốc phu nhân (虢國夫人) và người cuối là Tần Quốc phu nhân (秦國夫人). Hàng tháng, hoàng đế cho xuất của kho 30 vạn quan tiền cho mỗi vị phu nhân, 10 vạn quan tiền mua sắm tư trang phấn sáp. Mỗi khi 3 vị phu nhân nhập triều, em gái của Huyền Tông là Trì Doanh công chúa (持盈公主) được lệnh phải lấy lễ mà nghênh tiếp, không được bất kính. Dần dần ngay cả thành viên trong hoàng tộc không ai dám đắc tội với họ Dương.

Đường Minh Hoàng và Dương quý phi đứng trên sân thượng ngắm cảnh, tranh của họa sĩ người Nhật.

Chú của Quý phi là Dương Huyền Khuê trở thành Quang lộc khanh, phú quý một thời; anh trai của Quý phi là Dương Xuyên (楊釗) được phong làm tể tướng và được đổi tên là Dương Quốc Trung (杨国忠). Ngoài ra, các cháu trai và em trai khác trong họ cũng được gả công chúa, quận chúa, gia tộc họ Dương mau chóng quý hiển tột bậc.

Huyền Tông say đắm Dương quý phi, chiều chuộng nàng hết mực. Như cuộc đi tắm suối của nàng tại Hoa Thanh Trì mỗi lần tốn hàng vạn bạc của quốc khố và làm chết hàng trăm mạng người, Đường Huyền Tông cũng thẳng tay, không chút tiếc rẻ. Dương Quý Phi đã đẹp lại có tài gẩy tì bà, giỏi về âm nhạc. Nàng lại đặt được nhiều khúc hát và điệu múa làm cho Huyền Tông càng thích thú say sưa hơn. Nàng nổi tiếng với điệu múa Hồ hoàn vũ, là điệu múa xuất phát từ người Hồ.

Người hầu hạ trong viện của Quý phi có đến hơn 100. Các đại thần bên ngoài muốn được Huyền Tông trọng dụng đều chủ động dâng lễ vật quý cho Quý phi. Nhiều người được thăng tiến bằng con đường này. Trong hậu cung của Huyền Tông, từ khi Dương Quý phi xuất hiện thì các phi tần khác đều rất khó được ân hạnh nữa.

Dương quý phi được mô tả là tính nết ương ngạnh, nhiều lần đắc tội và xung đột với Huyền Tông. Tháng 2 âm lịch năm 750, sau một lần xung đột, Quý phi bị đuổi khỏi cung. Nhưng nhờ một hoạn quan cầu xin làm Huyền Tông hối hận, triệu Quý phi về và sủng ái hơn trước. Từ đó ông sa vào tửu sắc và hoang dâm, sủng ái Dương quý phi quá mức, bắt đầu bỏ bê việc nước.

Huyền Tông gặp Dương quý phi lúc tuổi đã ngoài 50, cơ thể suy nhuợc vì trải qua những thú vui sắc dục thái quá. Hoàng đế nhờ An Lộc Sơn dâng một thứ linh đan gọi là "Trợ tình hoa" giúp có nhiều sức khỏe để được hòa hợp vui say cùng Dương Quý Phi.

Sau thời thịnh trị Khai Nguyên, Đường Huyền Tông cao tuổi, sa vào hưởng lạc, không còn nhiệt tình với chính sự, lại thích theo đuổi thuật trường sinh bất lão. Huyền Tông giao toàn quyền triều chính cho tể tướng Lý Lâm Phủ, hưởng lạc cùng Dương quý phi trong cung cấm. Lý Lâm Phủ tự mình cầm quyền trong suốt 19 năm, hãm hại nhiều người trung lương, thi hành chính sách nhân sự ngăn cản các tướng có tài vào triều đắc dụng, trở thành một tác nhân gây ra Loạn An Sử.

Tư thông với An Lộc Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

An Lộc Sơn

Huyền Tông tin dùng An Lộc Sơn cho giữ phần chỉ huy nửa lực lượng quân sự của triều đình. An Lộc Sơn là người Liễu Thành, tên thật là An Rokhan, người dân tộc Túc Đặc. Lộc Sơn nguyên mang họ Khang, nhưng sau đó bà mẹ cải giá với An Diên Yểm nên lấy họ An. Lộc Sơn là phiên âm tiếng Hán của chữ Lushi, theo tiếng bản tộc có nghĩa là "ánh sáng".

Lộc Sơn đầu quân làm tướng nhà Đường, nhờ chiến đấu dũng cảm và tỏ ra trung thành nên nhanh chóng được thăng tiến. Từ năm 740 đến năm 751, An Lộc Sơn được thăng từ đô đốc Doanh châu lên Tiết độ sứ ba trấn Phạm Dương, Hà Đông và Bình Lư, nắm toàn bộ vùng đông bắc Trung Quốc khi đó.

Tuy có trí thông minh nhưng Lộc Sơn luôn tỏ ra vụng về ngốc nghếch khiến Đường Huyền Tông rất tin tưởng và nhận ông làm con nuôi. Dương Quý Phi trở thành mẹ nuôi của Lộc Sơn, dù kém ông 16 tuổi. Tuy nhiên chính từ lúc ra vào triều kiến vua Đường, Lộc Sơn và Dương Quý Phi bắt đầu có quan hệ lén lút nhưng Huyền Tông không hề nghi ngờ mà càng thêm tín nhiệm Lộc Sơn. An Lộc Sơn to béo bụng phệ, theo sử sách ghi lại thì người nặng tới 330 cân[4]. Huyền Tông thấy vậy hỏi, Lộc Sơn lại mau miệng đáp rằng bụng to vì mang lòng trung với vua Đường. Huyền Tông nghe thế lại càng tin Lộc Sơn.

Bấy giờ, anh trai Dương Ngọc Hoàn là Dương Quốc Trung nắm giữ toàn quyền binh lực. Sau khi lên đến bậc thượng thư và hai con trai là Đốt và Huyên sánh duyên cùng hai quận chúa Vạn Xuân và Diên Hòa, Dương Quốc Trung lại càng kiêu hãnh, tự đắc, có ý định phản nghịch. Dương Quốc Trung và An Lộc Sơn cùng tranh giành sự ân sủng của Đường Huyền Tông nên nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Thấy An Lộc Sơn như cái gai trước mắt nên định mưu hại. An Lộc Sơn biết được nên bỏ trốn.

Ngày Giáp Tý (16) tháng 11 năm Ất Mùi (tức 16 tháng 12 năm 755), với danh nghĩa "phụng mật chiếu hoàng đế thảo phạt Dương Quốc Trung", An Lộc Sơn khởi binh từ Ngư Dương[5] đánh thẳng vào kinh đô Trường An, chính thức phản lại nhà Đường. Binh triều đại bại.

Vào mùa hạ năm 756, quân của An Lộc Sơn tiến về Trường An[6]. Trước tình thế nguy cấp, thái tử Lý Hanh tự lên ngôi ở núi Linh Vũ, tức là Đường Túc Tông và vọng tôn Đường Minh Hoàng làm Thái thượng hoàng. Trong khi các cánh quân được vua con Túc Tông cử đi đánh Lộc Sơn là Lý Quang Bật, Quách Tử Nghi đang thắng liên tiếp, giành lại nhiều đất đai ở phía đông nằm sau lưng An Lộc Sơn thì Huyền Tông lại mắc sai lầm lớn ở mặt trận phía tây. Thương hoàng bắt tướng Kha Thư Hàn người trấn giữ ải Đồng Quan, cửa ngõ kinh thành Tràng An, phải xuất quân đánh Lộc Sơn. Trong khi đó các tướng muốn phòng thủ phải chờ quân của Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật đánh về. Kha Thư Hàn buộc phải ra quân, kết quả đại bại, 20 vạn quân bị giết, Hàn bị Sơn bắt sống. Quân Phiên ào ạt tiến vào Tràng An.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Huyền Tông và Dương quý phi cùng một số quần thần phải bỏ kinh thành chạy vào đất Thục. Ngày 14 tháng 7, năm 756[7], mọi người đến Mã Ngôi Dịch (馬嵬驛; nay là Hưng Bình, Thiểm Tây) thì tướng sĩ dưới trướng Trần Huyền Lễ không chịu đi nữa, vì lương thực đã hết, quân sĩ khổ nhọc mà Dương Quốc Trung và cả gia quyến đều no đủ sung sướng, nên họ nổi lên chống lại.

Dương Quốc Trung ra lệnh đàn áp nhưng bị loạn quân giết chết. Lòng căm phẫn đối với họ Dương chưa tan, Trần Huyền Lễ dưới danh nghĩa tướng sĩ, đã bức Huyền Tông đem thắt cổ Dương quý phi thì họ mới chịu phò trợ Huyền Tông. Binh sĩ tâu:

"Quốc Trung mưu phản, không nên để Quý Phi hầu hạ ở bên bệ hạ nữa, xin bệ hạ vì quốc pháp mà cắt bỏ tình riêng".

Huyền Tông do dự, vào bên trong. Lát sau, cuối đầu đi ra. Kinh Triệu doãn Triệu Tư Lục cùng Vi Ngạc đều khuyên ông phải thuận theo tình thế. Ông nói với Cao Lực Sĩ:

"Quý Phi ở trong thâm cung, sao biết được Quốc Trung mưu phản?".

Cao Lực Sĩ nói:

"Quý Phi quả thật vô tội, nhưng nay tướng sĩ đã giết Quốc Trung rồi, mà Quý Phi còn sống bên cạnh bệ hạ, tướng sĩ đâu có yên lòng? Xin bệ hạ suy xét kỹ lại. Tướng sĩ được yên lòng, tức bệ hạ được bình an".

Ngày 15 tháng 7[1], Huyền Tông không còn cách nào, đành ban cho Quý phi một dải lụa trắng, cho Cao Lực Sĩ thắt cổ Quý Phi[8]. Huyền Tông đau xót, cũng không dám chứng kiến cảnh ấy. Lúc chết Dương quý phi 38 tuổi. Sau khi chết, xác Quý phi chỉ là chôn vội ven đường, sau đó binh lính hành quân tiếp.

Sau khi Huyền Tông trở về Trường An, muốn cải táng Quý phi cho tử tế hơn nhưng quần thần và nội quan đều phản đối, ông chỉ có thể họa lại tranh của Quý phi đặt trong biệt điện, ngày đêm đều ngắm, cho đến khi ông qua đời.

Các thuyết về cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Về cái chết của Dương quý phi, hậu nhân vẫn còn truyền lại nhiều giả thiết về nơi chết của bà.

Một thuyết thường được truyền lại, là Dương quý phi chết tại Phật đường. Cựu Đường thư - Dương quý phi truyện, Tư trị thông giám - Đường kỉ, các sách sử đều chép rằng Huyền Tông lệnh Cao Lực Sĩ đem Dương quý phi vào trong đại điện Phật, siết cổ chết.

Có thuyết nói rằng, Dương quý phi được Trần Huyền Lễ và Cao Lực Sĩ bí mật bảo hộ, cho một thị tì chết thay và sắp xếp cho bà lên thuyền, bỏ sang sống tại Nhật Bản cho đến khi mất ở tuổi 60. Tại Nhật Bản khi ấy là Thời Nara, Dương quý phi được Hiếu Khâm thiên hoàng trọng thể đón tiếp. Tại Nhật Bản, Dương quý phi rất được tôn sùng và hiện nay vẫn còn rất nhiều vở Noh, Kabuki hay tranh họa nói về câu chuyện của bà và Đường Huyền Tông. Ở Nhật Bản, Quý phi được gọi là Yohiki (Kana: ようきひ).

Có thuyết thì cho rằng, nàng đã sang Hàn Quốc (xưa gọi là Cao Ly), hay lưu lạc trong dân gian. Các thuyết này đều được dùng trong các tác phẩm thi ca, nhằm tôn vinh câu chuyện giữa Đường Huyền Tông và quý phi, điển hình là Trường hận ca (长恨歌) của Bạch Cư Dị, Trường hận ca truyện (长恨歌传) của Trần Hồng (陈鸿),..v..v...

Mộ gió[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ của Dương quý phi, hiện ở trấn Mã Ngôi, Hưng Bình

Năm 757, sau khi Dương Quý Phi chết 2 năm, Đường Túc Tông dẹp loạn xong. Sau khi qua trạm dịch Mã Ngôi, Thượng hoàng sai tìm di thể của Dương Quý Phi để cải táng nhưng lúc đó di thể đã mục nát thối rữa, không thể nhận ra được, chỉ còn một túi gấm bên cạnh vẫn tỏa hương thơm. Thượng hoàng bèn giữ lấy, đem về và thường xuyên ngắm nhìn, như thể Quý phi còn sống. Thái Thượng Hoàng Đường Minh Hoàng cho người xây lại mộ cho Dương quý phi, nhưng vì không tìm được thi thể, nên chỉ xây mộ gió[9] để tưởng niệm.

Hiện tại mộ của Dương Quý Phi ở tỉnh Thiểm Tây, cách thành phố Tây An 60 km[10], trở thành điểm tham quan, du lịch, di sản văn hoá cấp tỉnh.

Các du khách thường nghe theo truyền thuyết kể rằng, đất xung quanh nấm mộ của Dương Quý Phi trắng đặc biệt, có tác dụng làm trắng da, nên du khách đến viếng mộ thường lấy ít đất xung quanh đem về thoa mặt. Nay để tránh phá hoại di tích, ban quản lý đã cho rào lại xung quanh khu mộ, và cấm du khách lấy đất về. Thực chất, đây chỉ là mộ gió, xác của Dương Quý Phi bị chôn vội trên đường đi lánh nạn, nên vài năm sau đã không tìm lại được tung tích. Do đó, chỉ xây mộ gió tại khu vực bị xử tử để tưởng niệm mà thôi.

Các điển tích[sửa | sửa mã nguồn]

tranh vẽ Dương quý phi của Hosoda Eishi.

Phi tử tiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Dương quý phi rất thích ăn vải, tiếng Trung gọi là Lệ chi (荔枝). Đường Huyền Tông lệnh cho người phóng ngựa từ Lĩnh Nam (có thuyết là từ Tứ Xuyên, hoặc Phúc Kiến) đem về dâng cho Quý phi ăn. Trên đường đi, cứ mỗi 5 dặm, 10 dặm, lại đặt một trạm luân chuyển nhanh, theo đường thủy, đường bộ cứ thế thay phiên nhau, đem về quả lệ chi tươi ngon nhất.

Ngoài lệ chi ra, những vùng Phúc Kiến, Tứ Xuyên còn dâng lên một loại rượu làm từ sương (Cam lộ; 甘露), dâng lên cho Huyền Tông dùng. Loại rượu thanh đạm tuyệt thế, được xưng là Mĩ tửu. Khi đó, Dương quý phi ở Hoa Thanh cung (華清宮) dùng trái vải, Đường Huyền Tông uống rượu ngon, hoang lạc một thời, nên có câu Hoa Thanh sinh ca nghê thường túy, Quý phi bả tửu lộ nùng tiếu[11], loại rượu tiến cống từ đó được gọi là Lộ nùng tiếu (露浓笑).

Thi sĩ Đỗ Mục có bài Quá Hoa Thanh cung - 過華清宮, trong đó có câu: Nhất kị hồng trần phi tử tiếu, Vô nhân tri thị lệ chi lai (一騎紅塵妃子笑, 無人知是荔枝來), chính là dựa vào điển tích này.

Quý phi túy tửu[sửa | sửa mã nguồn]

Một hôm, Đường Huyền Tống hẹn hò với Quý phi, ra lệnh cho mở tiệc tại Bách Hoa đình (百花亭), để cùng đi ngắm hoa cùng uống rượu. Hôm sau, Dương quý phi đến Bách Hoa Đình trước, chuẩn bị đầy đủ bữa tiệc chờ Huyền Tống. Ai ngờ chờ mãi không thấy đâu, xe của Huyền Tống không thấy đến, chờ mãi, chờ mãi. Đến khi nghe báo rằng, Hoàng đế đang vui thú trong cung của Mai phi, Quý phi nghe vậy rất đau buồn, không muốn sống nữa.

Quý phi vốn có tính hẹp hòi hay ghen, mà phụ nữ trong trường hợp đợi chờ, rất dễ bộc lộ cái tính lẳng lơ. Trong lòng đang tình tứ đầy ắp, mà lại không có chỗ nào để khuây khỏa được ngay, thế là nàng liền uống rượu để giải sầu, chỉ ba ly vào là đã say, tình tứ tràn trề, không kiềm chế được mình. Thế là nàng liền lờ đi tất cả, ưỡn ẹo khiêu dâm, làm những động tác say rượu trước mặt hai Thái Giám là Cao Lực SĩBùi Lực Sĩ, để thỏa mãn dục vọng trong mình, mãi cho đến khi mệt lừ rồi mới chịu trở về cung.

Điển tích trên được gọi là Quý phi túy tửu (贵妃醉酒; Quý phi say rượu), đặc biệt nổi tiếng trong giới Kinh kịch, thường hay được lấy ra để diễn tả và được xem là một trong những vở kinh điển nhất.

Thủ thuật làm đẹp[sửa | sửa mã nguồn]

Để có được thân hình đẹp với bộ ngực nảy nở luôn làm Đường Huyền Tông mê mẩn, Dương quý phi rất chịu khó tìm tòi các phương pháp làm đẹp. Một trong những loại trái cây mà các cung nữ phải thường xuyên mang tới cho Dương quý phi là đu đủ. Ban đầu, đám cung nữ chỉ nghĩ đơn giản rằng chủ nhân thích ăn loại quả này chứ không hề biết đây chính là phương pháp chăm sóc đôi gò bồng đào của mỹ nhân. Ngoài việc ăn nhiều đu đủ sống, Dương quý phi còn sai các nô tì nấu canh đủ đủ xanh để uống hàng ngày.

Một phương pháp tăng kích cỡ vòng một khác mà Dương quý phi đã sử dụng là xoa bóp ngực. Sau khi tắm xong, nàng sai một nô tỳ xoa bóp vùng ngực cho mình. Việc xoa bóp sau khi tắm có thể kích thích lưu thông máu vùng ngực, giúp ngực khỏe mạnh và săn chắc.

Người dân thời bấy giờ còn đồn rằng, sở dĩ Dương quý phi vẫn giữ được vóc ngọc thân ngà, làn da trắng muốt và mịn màng là nhờ ở phương pháp bí truyền, tắm bằng sữa dê pha với tinh chất các loại hoa quý và một số dược chất đặc biệt.

Dương quý phi còn thường xuyên đến suối nước nóngLy Sơn để ngâm mình, giữ gìn làn da không bị nếp nhăn tàn phá.

Vẻ đẹp trong thơ ca[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Dương quý phi tại Hoa Thanh Trì

Theo sử sách, vào đời Đường, phụ nữ được cho là đẹp, hấp dẫn thì phải tròn trịa, mập mạp. Trong tục ngữ, thành ngữ tiếng Hoa ngày nay vẫn còn câu: Yến sấu Hoàn phì (燕瘦環肥) hay Hoàn phì Yến sấu (環肥燕瘦). Tức là Yến ốm Hoàn mập, Yến là chỉ người đẹp thời Hán: Triệu Phi Yến, Hoàn là chỉ Dương Ngọc Hoàn thời Đường, ý câu thành ngữ là mỗi người một vẻ đẹp khác nhau. Thực sự tranh vẽ Dương Quý Phi đời trước chỉ phù hợp với thẩm mỹ thời Đường khác thời nay rất nhiều.

Ngọc Hoàn có sắc đẹp được ví là Tu hoa, nghĩa là khiến hoa phải xấu hổ.

Sau khi vào cung, Ngọc Hoàn tư niệm cố hương. Ngày kia, nàng đến hoa viên thưởng hoa giải buồn, nhìn thấy hoa Mẫu Đơn, Nguyệt Quý nở rộ, nghĩ rằng mình bị nhốt trong cung, uổng phí thanh xuân, lòng không kìm được, buông lời than thở: "Hoa à, hoa à! Ngươi mỗi năm mỗi tuổi đều có lúc nở, còn ta đến khi nào mới có được ngày ấy?". Lời chưa dứt lệ đã tuôn rơi, nàng vừa sờ vào hoa, hoa chợt thu mình, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, nàng sờ phải là loại hoa trinh nữ (cây xấu hổ). Lúc này, có một cung nga nhìn thấy, người cung nga đó đi đâu cũng nói cho người khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi người gọi Dương Ngọc Hoàn là "tu hoa".
Tượng Dương quý phi tại khu di tích Hoa Thanh Trì

Truyền kỳ về Dương Quý phi đã đi vào rất nhiều thơ ca của nhiều thế hệ. Thi hào Lý Bạch có ba bài Thanh bình điệu ca tụng sắc đẹp của Ngọc Hoàn. Bài đầu tiên:

Thanh bình điệu
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,
Xuân phong phật hạm, lộ hoa nùng.
Nhược chi quần ngọc sơn đầu kiến,
Hội hướng Đao đài nguyệt hạ phùng.
Ngô Tất Tố dịch
Thoáng bóng mây hoa, nhớ bóng hồng.
Gió xuân dìu dặt giọt sương trong
Ví chăng non ngọc không nhìn thấy,
Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông.

Thi sĩ Bạch Cư Dị có bài Trường hận ca nổi tiếng kể về chuyện tình giữa bà và Đường Huyền Tông.

Hội họa[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă 兩千年中西曆轉換
  2. ^ Cựu Đường thư, vol. 51.
  3. ^ Xưa là Đông Đô của nhà Đường, nay thuộc tỉnh Hà Nam
  4. ^ Tương đương 115 kilôgam hiện nay
  5. ^ Có sách chép là Phạm Dương
  6. ^ 兩千年中西曆轉換
  7. ^ 兩千年中西曆轉換
  8. ^ Tân Đường thư, quyển 76, liệt truyện 1
  9. ^ Trong mộ không có thi thể
  10. ^ Xưa là Trường An, kinh đô nhà Đường
  11. ^ Nguyên văn: 华清笙歌霓裳醉,贵妃把酒露浓笑

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa
Tây Thi • Vương Chiêu Quân • Điêu Thuyền • Dương Ngọc Hoàn