Võ Huệ phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Huyền Tông Võ Huệ phi
玄宗武惠妃
Đường Huyền Tông phi
Thông tin chung
Phối ngẫuĐường Huyền Tông
Lý Long Cơ
Hậu duệ
Thụy hiệu
Trinh Thuận hoàng hậu
(貞順皇后)
(Sau bị Túc Tông phế trừ)
Thân phụVõ Du Chỉ
Thân mẫuDương thị
Sinh?
Mấttháng 12, 737
Hưng Khánh cung, Trường An
An tángKính lăng (敬陵)

Đường Huyền Tông Võ Huệ phi (chữ Hán: 唐玄宗武惠妃, ? - 737), còn gọi là Trinh Thuận hoàng hậu (貞順皇后), là một sủng phi của Đường Huyền Tông Lý Long Cơ, vị Hoàng đế thứ 7 hoặc thứ 9 của nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc.

Xuất thân là một người cháu của Võ Tắc Thiên, trong suốt đời mình bà chiếm trọn sủng ái của Đường Huyền Tông. Sau khi Vương hoàng hậu bị phế năm 724, địa vị của Võ Huệ phi trong cung được ví như Hoàng hậu, mặc dù bà chưa bao giờ được phong. Bà sinh cho Huyền Tông 4 hoàng tử và 3 công chúa, nhiều hơn bất cứ những phi tần nào khác. Đường Huyền Tông nhiều lần muốn lập bà làm Hoàng hậu nhưng quần thần kiên quyết phản đối, vì bà là con cháu của Võ Tắc Thiên, nên quần thần lo sợ họ Võ lại chiếm giang sơn của nhà Đường.

Có được sự sủng ái, lại muốn cho con trai là Thọ vương Lý Mạo làm Thái tử, Võ Huệ phi tham dự sự kiện cung biến khiến Thái tử trước đó là Lý Anh bị ban chết. Sau khi Phế Thái tử qua đời không lâu, Võ Huệ phi bị ám ảnh bởi chính việc mình gây ra, sợ hãi qua đời. Đường Huyền Tông cả đời chưa từng lập bà làm Hoàng hậu, bèn truy tặng bà thụy hiệu của một Hoàng hậu. Do đó, bà trở thành một trong 2 người phi tần của triều Đường không phải sinh mẫu của Hoàng đế mà lại có thụy hiệu Hoàng hậu, bên cạnh Độc Cô Quý phi. Nhưng Đường Túc Tông kế vị cho rằng Võ Huệ phi mưu hại hoàng tử, bèn phế trừ thụy hiệu Hoàng hậu của bà.

Tiền trình[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế hiển hách[sửa | sửa mã nguồn]

Võ Huệ phi không rõ sinh năm bao nhiêu, theo suy đoán thì ước chừng vào niên hiệu Thánh Lịch thời Võ Tắc Thiên trị vì, rơi vào khoảng năm 699 vậy, nếu là như vậy thì bà kém Lý Long Cơ tới 14 tuổi. Bà xuất thân từ gia tộc của Võ Tắc Thiên, vào thời điểm này là rất hiển hách.

Cao tổ phụ của Võ thị là Võ Sĩ Nhượng (武士讓), một người chú của Võ Tắc Thiên. Thân phụ của bà là Võ Du Chỉ (武攸止), cưới Dương thị phu nhân xuất thân từ đại gia tộc Hoằng Nông Dương thị, con gái của Huyện thừa huyện Ung Dương Hoành (杨宏), cháu nội của Du Kích tướng quân Dương Diễn (杨衍). Khi Võ Tắc Thiên xưng làm Hoàng đế, Võ Du Chỉ được phong làm Hằng An vương (恒安王)[1]. Võ Du Chỉ mất sớm, Võ thị được nhập cung từ nhỏ, bà được biết đến với nhan sắc mỹ lệ, giỏi ca múa, lại thông hiểu kinh thư, rất nhanh được cháu trai của Võ Tắc Thiên là Lâm Tri vương Lý Long Cơ để ý.

Nhập cung được sủng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 712, Lâm Tri vương Lý Long Cơ sau khi dẹp trừ được đối thủ chính trị cuối cùng là Thái Bình công chúa, đã lập tức lên ngôi Hoàng đế. Sử gọi Đường Huyền Tông.

Nhân việc Võ thị do có tư sắc, lại là họ hàng với tổ mẫu của Huyền Tông nên rất có vai vế, được phong làm Tiệp dư, trở thành phi tử được sủng ái nhất trong số các cung phi khi ấy của Huyền Tông. Võ Tiệp dư liên tiếp sinh cho Huyền Tông 2 hoàng tử là Lý Nhất (李一), Lý Mẫn (李敏) và Thượng Tiên công chúa, tuy nhiên cả ba người con này đều chết non. Đến khi bà sinh ra Lý Mạo (李清) thì Đường Huyền Tông nhờ đến anh trưởng là Ninh vương Lý Hiến nuôi hộ. Đó là con trai trưởng thành độc nhất của bà.

Trong khi Đường Huyền Tông càng ngày càng sủng ái Võ Tiệp dư, thì ông ngày càng lạnh nhạt với chính cung Vương hoàng hậu. Hoàng hậu từ lúc Huyền Tông còn chưa đăng cơ, đã giúp ông không ít trong việc bảo vệ bản thân và con đường sự nghiệp, nhưng bà không hề có người con nào với Huyền Tông, khiến ông rất buồn phiền. Võ thị nhập cung, Vương hoàng hậu lo sợ thân phận gần với Võ Tắc Thiên mà khuyên ông nên xa lánh, điều này làm rạn nứt mối quan hệ giữa Huyền Tông và Vương hoàng hậu.

Năm Khai Nguyên thứ 10 (722), Huyền Tông bí mật nghị bàn cùng đại thần Khương Kiều (姜皎) về việc phế truất Vương hoàng hậu vì hoàng hậu không có con, không xứng đáng giữ ngôi vị[2]. Năm thứ 12 (724), anh trai hoàng hậu là Vương Thủ Nhất bị phát hiện dùng bùa chú trong cung, ông ta đưa cho hoàng hậu một chiếc vòng thuật với hy vọng hoàng hậu có thể mang thai. Huyền Tông biết chuyện, nổi giận và phế truất Vương hoàng hậu. Vương hoàng hậu do quá đau buồn mà mất sau đó không lâu.

Tấn phong Huệ phi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngang hàng Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Khai Nguyên thứ 12 (724), sau khi Vương hoàng hậu bị hạ bệ, Đường Huyền Tông phong cho Võ Tiệp dư làm Huệ phi (惠妃), đứng hàng đầu các phi tần trong hậu cung của Đường Huyền Tông. Cùng thời gian đó, mẹ Huệ phi là Dương thị được sắc phong làm Trịnh Quốc phu nhân (鄭國夫人), hai em trai là Võ Trung (武忠) và Võ Tín (武信) được phong làm Quốc Tử tế tửuBí thư giám.

Năm Khai Nguyên thứ 14 (726), Huyền Tông có ý định lập Võ Huệ phi làm Hoàng hậu. Ngự sử Phan Hảo Lễ (潘好礼) dâng sớ không đồng tình, một phần vì bà có họ hàng với Võ Diên Tú cùng Võ Tam Tư đã làm loạn kỉ cương, một phần vì muốn bảo vệ Thái tử Lý Anh (李瑛) - nhị hoàng tử sinh bởi Triệu Lệ phi. Bản thân Võ Huệ phi cũng có hai người con trai, nếu Võ huệ phi được lập làm Hoàng hậu thì địa vị của Thái tử sẽ trở nên nguy hiểm, vì những lý do lớn đó mà triều thần kiêng quyết phản đối lập Võ huệ phi làm Hoàng hậu. Huyền Tông cũng vì ân tình cũ, thương xót con của Lệ phi nên xuôi theo[3].

Đại lược tấu sớ của Phan Hảo Lễ năm ấy:

Tuy không được lập làm Hoàng hậu, Huyền Tông vẫn yêu cầu cung nhân, thái giám, thị tỳ đều chuẩn bị nghi trượng, quần áo và sắp xếp lễ nghi cho bà không khác gì một Hoàng hậu[4][5]. Con trai bà là Lý Mạo được phong Thọ vương, Lý Kỳ phong Thịnh vương, các con gái là Hàm Nghi công chúa xuất giá lấy Dương Hồi, con trai của Trường Ninh công chúa; Thái Hoa công chúa lấy Dương Kỹ, là con của Dương Huyền Khuê (杨玄珪), bá phụ của Thọ vương phi Dương thị, con dâu của Huệ phi và là vợ của Lý Mạo.

Mưu hại hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Võ Huệ phi đắc sủng, những phi tần khác đều thất sủng, do vậy Thái tử Lý Anh, cùng Ngạc vương Lý Dao (李瑤) và Quang Vương Lý Cư (李琚) bất bình thay cho mẫu thân, liền không có quan hệ tốt với Huệ phi. Con rể Dương Hồi vì biết tâm ý của bà, nên rất chú ý nhất cử nhất động của Thái tử, có gì đều mật tấu, do vậy Huệ phi nhân vào đó thường khuyên Huyền Tông phế bỏ Thái tử. Đường Huyền Tông tin là thật, bèn muốn phế, nhưng Thượng thư lệnh Trương Cửu Linh (张九龄) dẫn chuyện Độc Cô hoàng hậu năm xưa, việc bèn tạm thôi.

Sau đó, Trương Cửu Linh bị bãi quan, Đường Huyền Tông lấy Lý Lâm Phủ thay vào, đó là người được Võ Huệ phi tiến cử. Lâm Phủ chịu ơn tiến cử của Huệ phi nên nguyện theo bà ta phò trợ Thọ vương, do vậy cùng với Võ Huệ phi thông đồng với đại thần và Dương Hồi muốn phế truất Thái tử Lý Anh, để con trai bà đăng ngôi Thái tử.

Năm Khai Nguyên thứ 25 (737), tháng 4, Dương Hồi mật tấu Vũ Huệ Phi, nói anh của Thái tử phi Tiết thị là Tiết Đồng muốn cùng Thái tử tiến hành binh biến. Nghe thấy thế, Võ Huệ phi tiến hành âm mưu, bà ta lừa rằng trong cung có gian tặc, gọi 3 vị hoàng tử vào cung với yêu cầu họ phải mặc áo giáp để vào. Sau khi ba hoàng tử vào, Huệ phi liền khóc lóc nói với Huyền Tông rằng ba hoàng tử có ý tạo phản, mang quân đội vào hòng ép buộc Huyền Tông nhường ngôi cho Thái tử. Huyền Tông tra khảo và phát hiện đúng sự tình, sai bắt giam cả ba Hoàng tử mặc cho họ kêu oan thống thiết. Hôm sau, Huyền Tông gọi các đại thần vào nghị sự chuyện của Thái tử, Lý Lâm Phủ lúc này đã là đại thần trụ cột của triều đình, khuyên nhà vua nên tự quyết định. Đường Huyền Tông do ảnh hưởng của Huệ phi mà phế truất cả ba hoàng tử, đồng thời ép cả ba phải tự sát[6][7].

Kinh hãi mà qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện kể lại, Võ Huệ phi đêm nằm mơ thường thấy ba hoàng tử đến ám mình, nên sinh bệnh, bà ta mời thầy cúng vào trong cung, cúng bái quỷ thần nhưng vẫn tiếp tục những cơn ác mộng. Bà cho mời thầy cúng, lại tiếp tục cải táng 3 vị hoàng tử, hay thậm chí cho người tuẫn tang, tất cả mọi biện pháp nhưng đều không có kết quả.

Năm Khai Nguyên thứ 25 (737), tháng 12, Võ Huệ phi tự mình hù chết, qua đời khi chưa đến 40 tuổi. Khi Huệ phi qua đời, Đường Huyền Tông vô cùng tiếc thương, truy phong bà là Trinh Thuận hoàng hậu (貞順皇后), táng ở Kính lăng (敬陵), cách Trường An tầm 30km, ở phía Nam của Hạo Thiên quan cũng lập Miếu thờ[8]. Ngày Võ thị mất, Huyền Tông hạ chiếu:

Sau khi Huệ phi qua đời, Đường Huyền Tông cho lập miếu cầu tự ngày đêm cúng vái, ra chiều thương tiếc cho đến khi sủng hạnh con dâu bà là Dương Quý phi. Sau này vào thời Càn Nguyên, Đường Túc Tông đăng cơ, xét Võ Huệ phi âm mưu giết hại hoàng tử, tước bỏ phong vị Hoàng hậu, cũng phế đi việc tế tự vốn có, triệt bỏ hậu miếu[9].

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Võ Huệ phi sinh cho Đường Huyền Tông Lý Long Cơ tổng 7 người con, 4 hoàng tử và 3 hoàng nữ, trong đó 3 người chết non.

  1. Hạ Điệu vương Lý Nhất [夏悼王李一; 716 - 717], hoàng tử thứ 9, chết non[10].
  2. Hoài Tư vương Lý Mẫn [怀哀王李敏; 719 - 720], hoàng tử thứ 15, chết non.
  3. Thọ vương Lý Mạo [壽王李瑁; ? - 775], bổn danh Lý Thanh (李清), hoàng tử thứ 18.
    Các con đầu của Huệ phi đều chết yểu, nên khi Lý Thanh sinh ra bèn đưa cho Ninh vương Lý Hiến nuôi dưỡng, tròn hơn 10 năm. Năm 725, phong Vương, trở về cung và cải tên [Lý Mạo]. Võ Huệ phi mưu cùng Lý Lâm Phủ triệt hạ Thái tử Lý Anh, hòng đưa Thọ vương Lý Mạo lên ngôi Thái tử không thành. Lý Mạo lấy Dương thị làm phi, sau bị Đường Huyền Tông ép phải ly hôn. Mất dưới thời Đường Đại Tông.
  4. Thịnh vương Lý Kì [盛王李琦; ? - 764], bổn danh Lý Mộc (李沐), hoàng tử thứ 21.
    Năm 725, phong Vương, sang năm 727 lãnh Đô đốc Dương Châu. Đến năm 732, nhận vinh hàm Khai phủ nghi đồng Tam ti, đổi tên [Lý Kỳ]. Loạn An Sử, cùng Thọ vương Mạo hộ tống Huyền Tông đến Thục. Mất dưới thời Đường Đại Tông, tặng Thái phó.
  5. Thượng Tiên công chúa [上仙公主], sinh khoảng năm đầu Khai Nguyên, mấy ngày sau chết non.
    Khi công chúa qua đời, xuất hiện [Tường phong thụy hồng; 祥風瑞虹], Trương Cửu Linh nói công chúa là thần tiên hạ phàm, thỉnh cầu Đường Huyền Tông đem chuyện này coi như điềm lành ghi vào sách sử, cũng tặng hiệu [Thượng Tiên].
  6. Hàm Nghi công chúa [咸宜公主; ? - 784], sinh khoảng sau năm 721.
    Vì duyên cớ Võ Huệ phi, công chúa hưởng thực ấp 1.000 hộ, vượt hơn nhiều mức 500 tiêu chuẩn cho một công chúa. Năm 735, công chúa hạ giá Dương Hồi (杨洄), con trai của Trường Ninh công chúa - con gái thứ của Đường Trung TôngDương Chân Giao (杨慎交). Cả hai sinh một con trai Dương Thuyết (杨說), về sau lấy Kiến Bình công chúa - một con gái khác của Đường Huyền Tông. Năm 761, Kỳ vương Lý Trân phản loạn thất bại, Phò mã Dương Hồi bị liên lụy và ban chết, công chúa tái giá Thôi Tung (杨洄). Mất dưới đời Đường Đức Tông.
  7. Thái Hoa công chúa [太華公主], hoàng nữ thứ 21.
    Năm 745, hạ giá lấy Dương Kỹ (杨锜) - con trai của Dương Huyền Khuê (杨玄珪), em họ của Dương Quý phi. Dương Kỹ nhân đó được bái Bạc Thanh Quang lộc đại phu, Vệ Úy khanh, Phò mã Đô úy hầu Ngự sử. Trong năm Thiên Bảo đời Huyền Tông, Thái Hoa công chúa qua đời.

Xem Thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《全唐文》《郑国夫人神道碑》:“郑国夫人者,弘农杨氏之女也,开元神武皇帝惠妃之母。曾祖讳谌,以礼乐习文,为越州司马。祖衍,以折冲学武,为游击将军。父宏,以门才入仕,为雍县丞,而早卒。初则天之代,夫人言归武氏,曰恒安郡王,生惠妃及家令忠、太子仆信。开元十年三月,终於通化里,其四月,卜宅於少陵原。”
  2. ^ Cựu Đường thư, quyển 51, liệt truyện 1
  3. ^ 【新唐书卷七十六 列传第一】将遂立皇后,御史潘好礼上疏曰:"《礼》,父母仇,不共天。《春秋》,子不复仇,不子也。陛下欲以武氏为后,何以见天下士!妃再从叔三思也,从父延秀也,皆干纪乱常,天下共疾。夫恶木垂荫,志士不息;盗泉飞溢,廉夫不饮。匹夫匹妇尚相择,况天子乎?愿慎选华族,称神祇之心。《春秋》:宋人夏父之会,无以妾为夫人;齐桓公誓葵丘曰:'无以妾为妻。'此圣人明嫡庶之分。分定,则窥竞之心息矣。今人间咸言右丞相张说欲取立后功图复相,今太子非惠妃所生,而妃有子,若一俪宸极,则储位将不安。古人所以谏其渐者,有以也!"遂不果立。
  4. ^ Cựu Đường thư, quyển 51: 及王庶人廢後,特賜號為惠妃,宮中禮秩,一同皇后。
    Dịch: "Sau khi Vương thứ nhân bị phế, bà được đặc cách phong hiệu là Huệ phi. Hễ khi trong cung có lễ tiết, bà đều được dùng ngự như Hoàng hậu".
  5. ^ Tân Đường thư, quyển 76: 時王皇后廢,故進冊惠妃,其禮秩比皇后。
    Dịch:"Khi ấy Vương hoàng hậu bị phế, bà được phong Huệ phi. Các nghi lễ đều như Hoàng hậu".
  6. ^ Cựu Đường thư, quyển 107
  7. ^ 【新唐书卷七十六 列传第一】希妃意陷太子、鄂光二王,皆废死。
  8. ^ 【旧唐书卷五十一 列传第一】: 惠妃以开元二十五年十二月薨,年四十余。下制曰:"存有懿范,没有宠章,岂独被于朝班,故乃施于亚政,可以垂裕,斯为通典。故惠妃武氏,少而婉顺,长而贤明,行合礼经,言应图史。承戚里之华胄,升后庭之峻秩,贵而不恃,谦而益光。以道饬躬,以和逮下,四德粲其兼备,六宫咨而是则。法度在己,靡资珩佩;躬俭化人,率先絺纮。夙有奇表,将加正位,前后固让,辞而不受,奄至沦殁,载深感悼,遂使玉衣之庆,不及于生前;象服之荣,徒增于身后。可赠贞顺皇后,宜令所司择日册命。"葬于敬陵。时庆王琮等请制齐衰之服,有司请以忌日废务,上皆不许之。立庙于京中昊天观南,乾元之后,祠享亦绝。
  9. ^ 【旧唐书卷51后妃上】: 葬於敬陵。時慶王琮等請制齊衰之服,有司請以忌日廢務,上皆不許之。立廟於京中昊天觀南,乾元之後,祠享亦絕。
  10. ^ 《全唐文·卷二百五十六·大唐故悼王石塔铭》: 唐开元五年岁在丁巳四月庚午朔二十一日庚寅,故悼王薨於上阳之中禁,年曰二岁,而未及周。呜呼哀哉!王即开元神武皇帝第九之爱子也,以某月二十七日景申,葬於万安山之东南岭。圹唯五尺,棺不三寸,垒石塔一丈於其上,不雕不砻,从省薄也。其铭曰:南有万安兮北有洛城,城可望兮天之京,呜呼悼王宁不恋兮?呜呼悼王宁不见兮?倚素塔兮陵翠微,空不碍兮云则飞,呜呼悼王兮其何归?