Trưởng Tôn hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Trưởng Tôn hoàng hậu
长孙皇后
Hoàng hậu Đại Đường
Tại vị 4 tháng 9 năm 62628 tháng 7 năm 636
Tiền nhiệm Hoàng hậu đầu tiên
Kế nhiệm Cao Tông Vương hoàng hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Đường Thái Tông
Hậu duệ
Thụy hiệu Văn Đức Thuận Thánh hoàng hậu
(文德順聖皇后)
Thân phụ Trưởng Tôn Thịnh
Thân mẫu Cao phu nhân
Sinh 601
Hà Nam, Lạc Dương
Mất 28 tháng 7, 636
Trường An, Nhà Đường
An táng Chiêu lăng (昭陵)

Văn Đức Thuận Thánh hoàng hậu (chữ Hán: 文德順聖皇后, 601 - 28 tháng 7, 636[1]), thông thường được gọi là Trưởng Tôn hoàng hậu (长孙皇后), là Hoàng hậu duy nhất của Đường Thái Tông Lý Thế Dân.

Suốt thời gian còn sống, bà nổi tiếng là tri kỷ của Đường Thái Tông, giúp ông đắc lực trong hậu cần, từ gia sự đến việc vận động hậu phương. Ngoài ra, bà còn nổi tiếng về việc bảo vệ các đại thần như Ngụy TrưngPhòng Huyền Linh, khi họ phải chịu tội vì can gián Thái Tông.

Bà đối với Đường Thái Tông tình cảm sâu nặng, đã sinh hạ cho Thái Tông tổng cộng 7 người con: 3 hoàng tử và 4 công chúa; trong đó là Phế Hoàng thái tử Lý Thừa CànĐường Cao Tông Lý Trị.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Văn Đức hoàng hậu xuất thân từ tộc Tiên Ti, thuộc dòng dõi hoàng tộc Bắc Ngụy. Sau khi họ Thác Bạt vong quốc, tổ tiên bà vốn thuộc dòng trưởng tôn thất, nên cải họ Trưởng Tôn (长孙氏), dần dời đến Hà Nam, Lạc Dương để sinh sống. Đương thời không rõ tên thật của bà, sách Quan thế âm kinh tiên chú (观世音经笺注) chép tiểu tự của bà là Quan Âm Tì (观音婢); còn Trung Quốc Đế vương Hoàng hậu thân vương công chúa thế hệ lục [2] của Bách Dương (柏杨) lại đưa ra tên của Trưởng Tôn hoàng hậu là Trưởng Tôn Vô Cấu (长孙无垢).

Gia thế họ Trưởng Tôn cực kỳ hiển hách, từ thời Bắc Ngụy đến nhà Tùy đều có người tài ra làm quan, được gọi là Môn chuyện chung đỉnh, gia thế sơn hà (门传钟鼎,家世山河). Cha bà là Trưởng Tôn Thịnh (长孙晟), là Kiêu Vệ tướng quân nhà Tùy, từng có công bình định Đột Quyết. Mẹ đẻ của bà họ Cao, thuộc dòng dõi hoàng tộc Bắc Tề, cháu gái của Thanh Hà vương Cao Nhạc (高岳), con gái của Nhạc An vương Cao Kính Đức (高敬德), em gái của danh thần Cao Sĩ Liêm (高士廉). Trong gia đình bà có bốn người anh trai; huynh trưởng khác mẹ là Trưởng Tôn Hành Bố (長孫行布) đã qua đời năm 604 khi chống lại cuộc nổi loạn của Hán vương Dương Lượng (楊諒); Trưởng Tôn Hành An (長孫恆安); Trưởng Tôn An Nghiệp (長孫安業) và Trưởng Tôn Vô Kỵ. Vô Kỵ là anh ruột của bà, trong khi 3 người anh trước đều là con của bà vợ trước.

Cha bà Trưởng Tôn Thịnh Sinh đương thời có biệt danh nhất tiễn song điêu (一箭双雕), cực kỳ uy dũng thiện chiến[3]. Với chức vụ Kiêu Vệ tướng quân, ông thường đảm nhận nhiệm vụ giao hảo giữa triều đình và Đột Quyết, góp nhiều công lao đáng kể. Đột Quyết nội quốc cũng rất kính trọng ông. Giọng nói của Trưởng Tôn Thịnh như tiếng sấm vang rền, nên phủ đệ của ông còn được gọi là Phích lịch đường (霹雳堂). Sinh trưởng trong gia đình vọng tộc của một danh tướng, từ nhỏ Trưởng Tôn thị đã được thừa hưởng một nền giáo dục rất tốt và bản lĩnh không thua kém.

Trưởng Tôn thị là người con nhỏ nhất trong gia tộc, cho nên hôn sự của bà luôn được mọi người trong gia đình cẩn trọng chọn lựa. Chú của bà là Trưởng Tôn Sí (长孙炽) khi đó rất hâm mộ duệ trí của Đậu phu nhân vợ của Đường quốc công Lý Uyên. Xuất thân họ ngoại từ gia tộc Bắc Chu Vũ Văn thị, Đậu thị từng khuyên Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung đối đãi hậu hĩnh Hoàng hậu A Sử Na thị của Đột Quyết, trứ danh một thời. Trưởng Tôn Sí cảm thấy một vị phu nhân kiệt xuất như thế, ắt hẳn sinh ra con trai không phải tầm thường, vì vậy khuyên Trưởng Tôn Thịnh nên có ý định kết thông gia với Nhà Đường quốc công[4].

Năm 609, Trưởng Tôn Thịnh qua đời, ngay sau khi việc định hôn giữa Trưởng Tôn thị và Lý thị không lâu. Ngay lập tức, mẹ và anh em bà bị huynh trưởng là Trưởng Tôn An Nghiệp đuổi ra khỏi nhà, bất đắc dĩ đến nương nhờ Cao Sĩ Liêm, được đối đãi hết sức chu đáo. Đến tuổi trưởng thành, anh trai bà Trưởng Tôn Vô Kỵ kết giao với con trai thứ hai của Đường quốc công là Lý Thế Dân. Khi Cao Sĩ Liêm gặp Lý Thế Dân, cảm thấy người này quả không tầm thường, lại biết việc hôn ước khi xưa, bèn đợi sau khi mãn tang Trưởng Tôn Thịnh thì liền tiến hành hôn lễ giữa Trưởng Tôn thị và Lý Thế Dân.

Năm 613, Trưởng Tôn thị xuất giá lấy Lý Thế Dân, lúc đó bà mới 13 tuổi, còn Lý Thế Dân vừa tròn 16 tuổi. Bà đối với Lý Thế Dân vô cùng hòa thuận, 2 người như hình với bóng, làm việc gì cũng có nhau. Sau khi thành hôn, một lần về thăm nhà của người cậu, phu nhân của Cao Sĩ Liêm là Trương thị thấy bên ngoài phòng của bà xuất hiện một con ngựa lớn, cao 2 trượng, đều có yên ngựadây cương đầy đủ. Trươn g thị khiếp vía, bèn đem sự việc nói với Cao Sĩ Liêm, nhờ thầy bói giải hộ. Vị thầy bói nói: "Long là quái tượng chỉ quẻ Càn, còn Mã là quái tượng chỉ quẻ Khôn, tức chỉ hậu phi tôn vị. Trong phủ đại nhân có dị tượng này, không chừng nữ quyến về sau có điềm hỉ vinh hoa tột độ.". Cao Sĩ Liêm nghe xong cực kì vui mừng[5].

Không lâu sau vài tháng sự kiện dị tượng xảy ra, Tùy Dạng Đế Dương Quảng phát động viễn chinh, Đường quốc công Lý Uyên cùng Nhị công tử Lý Thế Dân theo quân Tùy xuất chinh. Tháng 5 năm đó, Đậu phu nhân năm đó qua đời ở Trác quận. Tháng sau, Dương Huyền Cảm mưu phản, liên lụy đến Cao Sĩ Liêm bị biếm truất. Một là mẹ sinh, một là người cậu như cha ruột, cặp vợ chồng trẻ cùng gặp chuyện trong gia đình. Cả hai trong hoàn cảnh đó lại càng tương trợ lẫn nhau, tạo nên một mối quan hệ sâu đậm.

Năm 616, Tùy Dạng Đế phong Lý Uyên làm An Phủ đại sứ ở Thái Nguyên, nhận mệnh đến đó làm trấn thủ. Lý Thế Dân cùng Trưởng Tôn thị cùng theo Lý Uyên đến nhậm chức tại Thái Nguyên. Đậu phu nhân qua đời, trong nhà không có ai lớn tuổi, 17 tuổi Trưởng Tôn thị trở thành người chủ quản cả gia đình, trên dưới đều một tay bà sắp xếp ngăn nắp.

Tần vương phi và thái tử phi[sửa | sửa mã nguồn]

Vào mùa xuân năm 618, tướng Vũ Văn Hóa Cập tiến hành binh biến sát hại Tùy Dạng Đế tại Giang Đô (江都, nay thuộc Dương Châu, Giang Tô). Khi tin tức này truyền đến Trường An, Lý Uyên buộc Tùy Cung Đế phải thiện nhượng. Lý Uyên trở thành Đường Cao Tổ, khởi đầu triều Đường. Ông khôi phục phần lớn các thể chế dưới thời Tùy Văn Đế, đảo ngược một số thay đổi mà Tùy Dạng Đế đã tiến hành.

Đường Cao Tổ giáng Dương Hựu làm Hi quốc công (酅國公), lập trưởng tử Lý Kiến Thành làm Hoàng thái tử, phong Lý Thế Dân là Tần vương (秦王), và phong Lý Nguyên Cát là Tề vương (齊王). Trong khi đó, các quan lại triều Tùy ở đông đô Lạc Dương đã tôn một người cháu của Tùy Dạng Đế là Việt vương Dương Đồng làm Hoàng đế, từ chối công nhận Đường Cao Tổ. Lý Thế Dân được phong ngôi vị Tần vương, Trưởng Tôn thị cũng được phong làm Tần vương phi (秦王妃).

Tần vương Lý Thế Dân đường thời là gương mặt sáng giá nhất trong các hoàng tử, khi một mình ông là chủ lực đánh bại các phiên quân hùng mạnh như Tần đế Tiết Nhân Cảo, Định Dương khả hãn Lưu Vũ Chu, Trịnh đế Vương Thế Sung và Hạ vương Đậu Kiến Đức; chính uy thế này khiến cho Thái tử khi đó là Lý Kiến Thành trở nên bị lu mờ và có hiềm khích với Lý Thế Dân. Trưởng Tôn phi trong thời gian này hết mực cung kính Cao Tổ và đứng ra hòa giải mối quan hệ căng thẳng giữa 2 anh em Kiến Thành và Thế Dân, nhưng tình hình vẫn không có chuyển biến tốt do mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng.

Năm 626, Sự biến Huyền Vũ môn do Thái tử Lý Kiến Thành và Tề vương Lý Nguyên Cát phát động xảy ra, Tần vương Lý Thế Dân đã lật đổ chính biến và sát hại cả hai người anh em của mình. Cao Tổ Lý Uyên biết được, đành phong Lý Thế Dân trở thành Thái tử, do đó Trưởng Tôn thị trở thành Thái tử phi (太子妃). Không lâu sau, Cao Tổ truyền ngôi cho Lý Thế Dân, trở thành Đường Thái Tông, bà được phong thành Hoàng hậu.

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Trên cương vị Hoàng hậu Nhà Đường, bà được đánh giá là khiêm tốn, hòa nhã và tiêu dùng rất tiết kiệm. Bà đã khuyên Thái Tông thả ngay 2000 cung nữ về với gia đình. Ngoài ra, đối với cung nữ, hoạn quan phục vụ mình, bà rất hiếm khi la mắng, roi vọt.

Nếu Đường Thái Tông cố ý tức giận với một cung nhân nào mà không có lý do, bà cũng sẽ giả vờ tức giận rồi bí mật thẩm vấn họ, sau đó giấu họ ở một nơi chăm sóc chu đáo, rồi khi Thái Tông nguôi cơn giận thì bà sẽ xin dùm tội cho họ. Sử còn nói rằng, nếu một cung tần nào của Thái Tông đau ốm, bà sẽ đích thân đến hỏi thăm và trích tiền tiêu dùng của mình để chữa trị cho họ.

Năm 627, anh trưởng khác mẹ của Hoàng hậu là Trưởng Tôn An Nghiệp bị tội tạo phản. Khi đó, nhiều người nghĩ Hoàng hậu sẽ bỏ rơi ông ta vì việc đối xử tệ hại của ông ta đối với mẹ và anh em bà trước đây, nhưng Hoàng hậu cuối cùng vẫn can thiệp và xin cho An Nghiệp khỏi tội chết, chỉ bị đày đi Xuyên Châu (巂州; nay là Lương Sơn, tỉnh Tứ Xuyên).

Trưởng Tôn hoàng hậu thường nói chuyện xưa cho Thái Tông nghe để giúp ông những vấn đề khó khăn trong việc triều chính. Nhưng khi ông đang có ý muốn ban thưởng hoặc xử tội quần thần, ông có hỏi bà cho ý kiến và bà thường từ chối nêu ra vì cho rằng bổn phận của mình không được can dự vào. Anh trai bà là Trưởng Tôn Vô Kỵ khi đó là trọng thần, đã giúp đỡ Thái Tông rất nhiều trong sự biến Huyền Vũ môn khi xưa, nay Thái Tông có ý phong ông ta làm Tể tướng, thế nhưng bà từ chối: "Thần thiếp đã có thể ở lại trong cung và hưởng vinh hoa phú quý, đã là phúc phận to lớn. Thiếp không muốn trèo cao, để gia tộc anh em nắm đại quyền, hoàn toàn không phải điều nên làm. Cứ xem việc xảy ra với gia tộc của Lữ hậuHoắc Quang khi xưa chẳng phải là ví dụ điển hình hay sao? Thần thiếp kính mong Hoàng thượng đừng lập anh trai thần thiếp chức vị Tể tướng."

Không đồng ý với ý kiến của bà, Thái Tông vẫn lập Vô Kỵ làm Tể tướng vào mùa thu năm 627. Sau đó, Trưởng Tôn Vô Kỵ cũng cùng chung chí hướng với Hoàng hậu, dâng sớ xin bãi bỏ chức Tể tướng của mình. Do thỉnh cầu khẩn thiết từ Vô Kỵ và sự cứng rắn của Hoàng hậu, Đường Thái Tông đành đưa ông ta ra khỏi vị trí Tể tướng.

Năm 632, Thái Tông gả con gái lớn của Trưởng Tôn hoàng hậu là Trường Lạc công chúa Lý Lệ Chất cho con trai của Trưởng Tôn Vô Kỵ là Trưởng Tôn Trùng. Do là con gái của Hoàng hậu và cũng là ái nữ của mình, Thái Tông ban đầu tính cho của hồi môn của Công chúa hơn mức bình thường, còn trội hơn của hồi môn của em gái ông là Vĩnh Gia Trưởng công chúa (永嘉長公主). Tuy nhiên, đại thần Ngụy Trưng can ngăn, nói lại việc Hán Minh Đế Lưu Trang trước đây, phân rõ Hoàng tử con của ông không thể ngang hoặc hơn các chú của ông được trong việc phân phong đất đai. Thái Tông nghe tấu xong bèn nói với Hoàng hậu. Bà cực kì tán thưởng Ngụy Trưng và xin đem vànglụa ban thưởng cho ông ta.

Lại trong một dịp khác sau đó, Thái Tông ở trên triều thường bị Ngụy Trưng nói thẳng can ngăn, phản đối những quyết định của ông khiến ông rất tức giận và có ý định xử tội Ngụy Trưng. Nghe xong sự việc, Hoàng hậu quay lại phòng ngủ và mặc một bộ đồ trang trọng nhất, cung kính lạy Thái Tông. Hoàng đế ngạc nhiên hỏi vì sao, thì Trưởng Tôn hoàng hậu nói: "Thần thiếp nghe nói, chỉ có minh quân mới có được những thần tử chính trực. Nay Ngụy Trưng tính tình khẳng khái thanh liêm như vậy, chẳng phải là vì Hoàng thượng là một minh quân sao? Như vậy đã đáng để thần thiếp chúc mừng Hoàng thượng.". Sau đó, từ tức giận, Thái Tông trở nên vui vẻ và không trách phạt Ngụy Trưng nữa. Sự tích này được người đời sau gọi là Triều phục tiến gián (朝服进谏)[6].

Vào những ngày khác, bà cùng Thái Tông đến Đại An cung (大安宮) để thăm Thái thượng hoàng Lý Uyên, và Đế Hậu thường tổ chức những lễ hội để cho Thượng hoàng vui vẻ.

Sau khi lên ngôi, Đường Thái Tông thường xuyên trở bệnh, Hoàng hậu ngày đêm hầu hạ thuốc thang không rời. Có cung nhân đã chứng kiến Hoàng hậu luôn mang thuốc độc bên mình, nếu Thái Tông đột ngột băng hà thì bà cũng sẽ tự tử theo ông. Bên cạnh đó, bà mắc chứng hen suyễn, và càng ngày càng trở nên trầm trọng hơn vào năm 634 khi bà mắc một cơn bệnh nặng. Tuy vậy, lúc đó có mật báo của Sài Thiệu (柴紹) báo về tình hình biên cương, Hoàng hậu vẫn ung dung giúp Thái Tông mặc giáp và mang vũ khí lên mình[7].

Khoảng đầu năm 636, bệnh tình của Hoàng hậu trở nên nặng hơn. Thái tử Lý Thừa Càn lo lắng cho mẹ mình, đưa ra một chủ ý bắt nhiều người dân thường trở thành nhà sưđạo sĩ, để cầu đảo mang lại may mắn cho Hoàng hậu. Trưởng Tôn hoàng hậu biết Thái Tông không thích Phật giáoĐạo giáo, và bản thân bà cũng không tin dị đoan nên phản đối ý định này. Thái tử bèn nói với Phòng Huyền Linh thuyết phục Thái Tông, và Hoàng đế đã cân nhắc ý định này. Một lần nữa, Hoàng hậu từ chối.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 636, Trưởng Tôn hoàng hậu yếu đến nỗi chỉ có thể nằm trên giường. Vào lúc này, Phòng Huyền Linh đắc tội với Thái Tông và bị bãi chức, phải bị chịu giam cầm trong nhà. Hoàng hậu đã nói với Thái Tông:

"Phòng Huyền Linh đã phục vụ Hoàng thượng nhiều năm. Bản tính ông ấy cẩn trọng, những chiến lược và kế hoạch của ông ấy không hề dễ dàng bị phát giác. Trừ phi những lỗi lầm tày đình không thể tha thứ, thì thiếp mong Hoàng thượng đừng bỏ rơi ông ấy. Như trong Trưởng tôn gia tộc của thần thiếp, nhiều người tận hưởng phú quý là do bản thân ngôi vị Hoàng hậu của thần thiếp, chứ không hẳn vì tài đức, cho nên không thể trông cậy vào họ. Để có thể giữ gìn và quản lý gia tộc thần thiếp, cúi mong Hoàng thượng đừng trao cho họ chức vị quan trọng, chỉ cần cho họ tham dự những dịp lễ quan trọng như Sóc Vọng[8] là đủ rồi. Thiếp thân tại sinh chả có công đức gì to tát, nay chết đi cũng mong không làm nhọc sức dân. Xin Hoàng thượng đừng xây lăng mộ to lớn gì cả, đừng lãng phí sức dân và của cải. Chỉ cần tạo một ngôi mộ bằng một nấm đất, rồi dùng gạchgỗ xây bao quanh là được rồi. Thần thiếp hi vọng Hoàng thượng sẽ tiếp tục lắng nghe người hiền, xa lánh kẻ tiểu nhân, nhận những lời cương trực thẳng thắn, tránh những lời xu nịnh đê tiện. Nếu được như thế, thần thiếp có đến suối vàng cũng mãn nguyện. Và cuối cùng, đừng gọi các con đến gặp thần thiếp vào lúc này, thấy chúng khóc lóc, thần thiếp chỉ càng thấy thương tâm mà thôi."[9][10]

Ngày 28 tháng 7 năm đó, Trưởng Tôn hoàng hậu băng thệ, hưởng thọ khoảng 35 tuổi. Sau khi bà qua đời, sử thần cung kính dâng lên một bộ sách 30 quyển do Hoàng hậu viết, mang tên Nữ tắc (女則) cùng bộ sách bình giải của Minh Đức Mã hoàng hậu nhà Hán, đều trình dâng lên Thái Tông. Khi Thái Tông xem sách của bà xong, xúc động mà nói lên:

"Cuốn sách này của Hoàng hậu, có thể xem là kinh điển cho hậu thế. Dẫu biết ý trời như thế nào và có khóc thương cũng vô dụng, nhưng giờ đây, Hoàng hậu không còn bên Trẫm, Trẫm cảm thấy mọi thứ thành hư vô. Không còn được nghe những lời can gián của nàng ấy, và không thể quên đi hình bóng của nàng."

Sau đó, Thái Tông cho gọi Phòng Huyền Linh về triều và ban lại chức tước như cũ. Trưởng Tôn hoàng hậu được hợp táng với nghi lễ long trọng của một Hoàng hậu, nhưng giản lược nhất có thể theo ý nguyện của bà. Sau khi băng hà, Đường Thái Tông cũng được táng vào phần mộ kế bên bà, gọi là Chiêu lăng (昭陵).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thường Sơn quận vương → Trung Sơn quận vương → Thái tử Lý Thừa Càn [李承乾].
  2. Nghi Đô quận vương → Vệ vương → Việt vương → Ngụy vương → Đông Lai quận vương → Thuận Dương quận vương → Bộc Cung vương Lý Thái [李泰].
  3. Đường Cao Tông Lý Trị [李治].
  4. Trường Lạc công chúa (長樂公主, 621 - 643), tên là Lý Lệ Chất (李丽质). Hạ giá Trưởng Tôn Trùng (長孫冲), con trai của Trưởng Tôn Vô Kị.
  5. Thành Dương công chúa (城陽公主, ? - 671), hạ giá Đỗ Hà (杜荷), con trai Đỗ Như Hối (杜如晦). Năm 644, Đỗ Hà do liên quan đến vụ án Thái tử Lý Thừa Càn mà bị giết, công chúa cải giá lấy Tiết Quán (薛瓘). Năm 664, do liên quan vụ án Vu cổ (巫蛊), công chúa cùng chồng bị đày đi Phòng châu và cả hai người đều qua đời tại đây.
  6. Tấn Dương công chúa (晉陽公主, 633 - 644), tên tự là Minh Đạt (明達), nhũ danh Hủy Tử (兕子). Là công chúa duy nhất được Đường Thái Tông nuôi dưỡng, cực kì sủng ái.
  7. Tân Thành công chúa (新城公主, 634 - 663), phong hiệu ban đầu là Hành Sơn công chúa (衡山公主). Lúc đầu công chúa có hôn ước với Ngụy Thúc Ngọc (魏叔玉), sau hôn ước bị hủy, hạ giá Trưởng Tôn Thuyên (长孙诠). Về sau, Trưởng Tôn Thuyên bị giết do đối đầu với Võ Tắc Thiên, công chúa cải giá Vi Chánh Củ (韦正矩). Công chúa bất mãn với Chánh Củ, thường xảy ra cải vã, vợ chồng không hòa hợp. Năm 663, công chúa đột ngột qua đời, không rõ nguyên nhân, người đời đều cho là Vi Chánh Củ giết công chúa. Đường Cao Tông đại nộ, giết Chánh Củ.
  8. Dự Chương công chúa (豫章公主), vốn là con của phi tần, mẹ mất sớm, công chúa được Trưởng Tôn hoàng hậu phụ dưỡng. Hạ giá Đường Nghĩa Thức (唐義識), con trai của Công thần Đường Kiệm (唐俭).

Trong văn hoá đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Nhân vật Diễn viên
2004 Tần vương Lý Thế Dân Trưởng Tôn hoàng hậu Trần Tú Lệ
2014 Võ Mị Nương truyền kỳ Trưởng Tôn hoàng hậu Trương Định Hàm

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 兩千年中西曆轉換
  2. ^ 中国帝王皇后亲王公主世系录
  3. ^ Bắc sử, quyển 22, Liệt truyện đệ thập: 晟字季晟,性通敏,略涉书记,善弹工射,矫捷过人。年十八,仕周为司卫上士。初未知名,唯隋文帝一见深异焉,谓曰:“长孙武艺逸群,又多奇略。后之名将,非此子邪?”及突厥摄图请婚,周以赵王招女妻之。周与摄图各相夸竞,妙选骁勇以充使者,因遣晟副汝南公宇文神庆送千金公主至其牙。前后使人数十辈,摄图多不礼之,独爱晟,每共游猎,留之竟岁。尝有二雕,飞而争肉,因以箭两只与晟,请射取之。晟驰往,遇雕相玃,遂一发双贯焉。摄图喜,命诸子弟贵人皆相亲友,冀昵近之,以学弹射。其弟处罗侯号突利设,尤得众心,为摄图所忌,密托心腹,阴与晟盟。晟与之游猎,因察山川形势,部众强弱。皆尽知之。还,拜奉车都尉
  4. ^ Tân Đường thư, Trưởng Tôn hoàng hậu truyện: 晟兄炽,为周通道馆学士。尝闻太穆劝抚突厥女,心志之。每语晟曰:“此明睿人,必有奇子,不可以不图昏。”故晟以女太宗
  5. ^ Cựu Đường thư, Liệt truyện đệ nhất Hậu phi - thượng: 隋大业中,常归宁于永兴里,后舅高士廉媵张氏,于后所宿舍外见大马,高二丈,鞍勒皆具,以告士廉。命筮之,遇《坤》之《泰》,筮者曰:“至哉坤元,万物资生,乃顺承天。坤厚载物,德合无疆。牝马地类,行地无疆。变而之《泰》,内阳而外阴,内健而外顺,是天地交而万物通也。《象》曰:后以辅相天地之宜而左右人也。龙,《乾》之象也。马,《坤》之象也。变而为《泰》,天地交也。繇协于《归妹》,妇人之兆也。女处尊位,履中居顺也。此女贵不可言
  6. ^ Tư trị thông giám, quyển 194: 上尝罢朝,怒曰:“会须杀此田舍翁。”后问为谁,上曰:“魏征每廷辱我。”后退,具朝服立于庭,上惊问其故。后曰:“妾闻主明臣直;今魏征直,由陛下之明故也,妾敢不贺!”上乃悦
  7. ^ Tư trị thông giám, quyển 194:后素有气疾,前年从上幸九成宫,柴绍等中夕告变,上擐甲出阁问状,后扶疾以从,左右止之,后曰:“上既震惊,吾何心自安!”由是疾遂甚
  8. ^ tức ngày mồng 1 và ngày 15 trong tháng
  9. ^ Tư trị thông giám, quyển 194
  10. ^ Tân Đường thư, Trưởng Tôn hoàng hậu truyện

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]