Vương Thái hậu (Đường Kính Tông)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nghĩa An Vương Thái hậu
義安王太后
Đường Kính Tông sinh mẫu
Hoàng thái hậu Đại Đường
Tại vị824 - 845
(đồng tại vị Tích Khánh Thái hậu)
Tiền nhiệmÝ An Quách Thái hậu
Kế nhiệmHiếu Minh Trịnh Thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫuĐường Mục Tông
Lý Hằng
Hậu duệĐường Kính Tông
Thụy hiệu
Cung Hi hoàng hậu
(恭僖皇后)
Thân phụVương Thiệu Khanh
Thân mẫuTrương phu nhân
Sinh?
Việt Châu, Đại Đường
Mất22 tháng 2, năm 845
Nghĩa An điện, Trường An
An tángQuang lăng (光陵)

Nghĩa An Vương Thái hậu (chữ Hán: 義安王太后, ? - 22 tháng 2, năm 845 [1]), còn gọi là Bảo Lịch Thái hậu (寶曆太后) hoặc Cung Hi hoàng hậu (恭僖皇后), là một phi tần của Đường Mục Tông Lý Hằng và là mẹ sinh của Đường Kính Tông Lý Đam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa An Vương Thái hậu nguyên quán tại Việt Châu (越州); nay là Thiệu Hưng, Chiết Giang, cha là Huyện lệnh Vương Thiệu Khanh (王紹卿), mẹ là Trương phu nhân[2][3]. Khi còn trẻ tuổi, Vương thị nhập Đông cung, trở thành thị thiếp của Thái tử Lý Hằng. Năm Nguyên Hòa thứ 4 (809), Vương thị hạ sinh Trưởng tử Lý Đam[2][4].

Năm Nguyên Hòa thứ 15 (820), Thái tử Lý Hằng đăng cơ, tức Đường Mục Tông. Vương thị được sách phong thành Phi, nhưng Không rõ địa vị phi tần của bà[2], còn con trai bà Lý Đam được phong làm Cảnh vương (景王). Năm Trường Khánh thứ 2 (822), Mục Tông bất cẩn ngã ngựa, từ đó thành bệnh không thể đi lại được nữa. Sau đó, theo thỉnh cầu của Lý Phùng Cát (李逢吉) và Bùi Độ (裴度), Mục Tông lập Cảnh vương Lý Đam làm Hoàng thái tử[5].

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Kính Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Trường Khánh thứ 4 (824), mùa xuân, Đường Mục Tông băng hà, Hoàng thái tử Lý Đam kế vị, tức Đường Kính Tông. Ngày 11 tháng 3 cùng năm, Kính Tông tôn tổ mẫu là Quách Thái hậu làm Thái hoàng thái hậu, sau đó đến ngày 17 tháng 3 thì lại tôn mẫu thân Vương thị làm Hoàng thái hậu[6]. Cha bà là Vương Thiệu Khanh được tặng làm Tư không, còn mẹ bà là Trương thị được phong làm Triệu Quốc phu nhân (趙國夫人), cả nhà hiển quý.

Mùa hè năm đó, triều đình xảy ra một vụ chính biến. Tháng 5, thầy bói Tô Huyền Minh (蘇佐明) cùng cung nhân Trương Thiều (張韶) thân thiện với nhau. Tô Huyền Minh thuyết phục Trương Thiều rằng kim thượng ở ngoài cung chơi bời luôn, nên nhân đó mà khởi đại sự. Sau đó, Trương Thiều cùng Huyền Minh liên kết với hơn mấy trăm kẻ vô lại, nhân một hôm Kính Tông đang mải chơi, đã nhân đem tối tấn công vào cung trung. Kính Tông đang ở Thanh Tư điện (清思殿) chơi đá cầu, nghe được tin có biến, vô cùng hoảng sợ, bèn bỏ trốn đến trụ sở Thần Sách tả quân do hoạn quan Mã Tồn Lượng (馬存亮) nắm đầu. Sau đó, quân Thần Sách cử đại tướng Khang Nghệ Toàn (康藝全) dẫn quân diệt tặc.

Đường Kính Tông lo sợ cho hai vị Thái hậu, cũng sai đón vào Thần Sách quân tránh nạn. Lúc đó, Trương Triều cùng Tô Huyền Minh lên ngự trên ngai trong Thanh Tư điện và cùng ăn[7], nhưng ngay lúc đó, Khang Nghệ Toàn đã dẫn binh đánh tới, Trương Thiều và Tô Huyền Minh hai người cùng bè đảng đều bị sát, một số tên còn lẩn lút cũng nhanh chóng bị bắt minh nhật. Mấy hôm sau, Kính Tông về cung và cho xử tội những kẻ âm mưu làm loạn, đồng thời ban thưởng cho quân sĩ. Khang Nghệ Toàn được phong Phu Phường tiết độ sứ.[8]

Thời Văn Tông và Vũ Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bảo Lịch thứ 2 (826), Đường Kính Tông bị ám sát bởi Tô Tá Minh (蘇佐明). Hoạn quan Lưu Khắc Minh (劉克明) trợ giúp em trai Mục Tông là Giáng vương Lý Ngộ (李悟), thế nhưng thế lực của Vương Thủ Trừng (王守澄), Dương Thừa Hòa (楊承和), Ngụy Tòng Giản (魏從簡) và Lương Thủ Khiêm (梁守謙) lật đổ Lưu Khắc Minh và Lý Ngộ, trợ giúp em trai của Kính Tông là Giang vương Lý Ngang nối ngôi, tức Đường Văn Tông. Văn Tông tôn phong mẹ là Tiêu phu nhân lên làm Hoàng thái hậu và sống ở đại nội.

Hậu cung lúc này có đến 3 vị Thái hậu, là Quách Thái hoàng thái hậu ở Hưng Khánh cung (興慶宮), Vương Thái hậu ở Nghĩa An điện (義安殿) và Tiêu thái hậu ở đại nội. Đường Văn Tông lấy lễ pháp mà luôn cung kính, hiếu thuận với [Tam Cung thái hậu; 三宮太后]. Mỗi khi các nơi tiến công kì trân dị vật thì trước đưa đến tông miếu, tiếp đó dâng đến ba cung còn dư thừa mới để tự mình chi dùng[8].

Năm Đại Hòa thứ 8 (834), triều đình kiến nghị cần đặt phong hiệu để tránh nhầm lẫn giữa 3 vị Thái hậu. Vương Thái hậu được tôn Bảo Lịch Thái hậu (寶曆太后), theo niên hiệu khi trước của Mục Tông. Tuy nhiên, các đại thần cho rằng phong hiệu không thích hợp, cần đặt theo tên cung điện mà mỗi vị Thái hậu ở, do đó tôn hiệu của Vương Thái hậu được cải thành [Nghĩa An Thái hậu; 義安太后] bởi vì bà sống ở Nghĩa An điện. Đường Văn Tông đồng ý[3][9][10].

Năm Hội Xương thứ 5 (845), ngày 22 tháng 2, Nghĩa An điện Hoàng thái hậu Vương thị qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi[11] được Đường Vũ Tông Lý Viêm truy phong với thụy hiệuCung Hi hoàng hậu (恭僖皇后). Bà được an táng tại phía Đông viên của Quang lăng (光陵)[3].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.sinica.edu.tw/ftms-bin/kiwi1/luso.sh?lstype=2&dyna=%AD%F0&king=%AAZ%A9v&reign=%B7%7C%A9%F7&yy=5&ycanzi=&mm=1&dd=&dcanzi=%A9%B0%A5%D3
  2. ^ a ă â Cựu Đường Thư, quyển 52.
  3. ^ a ă â Tân Đường thư, quyển 77
  4. ^ Cả hai tiểu sử của Vương thái hậu trong Cựu Đường ThưTân Đường thư chỉ ra rằng bà trở thành vương phi của Lý Hằng tại Đông cung (i.e., Đông cung thái tử), nhưng Lý Hằng chưa sắc phong thành Thái tử đến năm 812 và bà hạ sinh ra Lý Đam năm 809, Lý Hằng chưa thành thái tử trong thời gian này. Hơn nữa, huynh trưởng của ông, Lý Ninh là Thái tử khoảng thời gian đó. Xuất hiện dự đoán bà nhập cung cùng thời điểm khi cha của Lý Hằng là Đường Hiến Tông hoặc ông nội Đường Thuận Tông còn là Thái tử và về sau mới trở thành vương phi. Xem Tư trị thông giám, quyển 236, 237, 238.
  5. ^ Tư trị thông giám, quyển 242.
  6. ^ Tân Đường thư, quyển 76
  7. ^ Trước đó, Trương Thiều đã đoán được hai người sẽ được ngự trên ngai vàng và cùng ăn với nhau
  8. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 243.
  9. ^ 《旧唐書·卷五十二·列传第二·后妃传》:穆宗恭僖皇后王氏,越人。父紹卿,婺州金華令。後少入太子宮,元和四年生敬宗。穆宗皇帝立為妃。長慶四年二月,尊為皇太后。昭湣崇重母族,贈紹卿司空,後母張氏贈趙國夫人。文宗即位之初,號寶曆太后。大和八年詔:「伏以皇太后與寶曆太后,每有司行遣,稱號未分,禮式非便,稽諸前代,詔令所施,不斥言太后,以宮名為稱。今寶曆太后居義安殿,宜准故事稱義安太后。」
  10. ^ 《新唐書·卷七十七·列传第二·后妃传》: 穆宗恭僖皇后王氏,越州人,本仕家子。幼得侍帝東宮,生敬宗。長慶時,冊為妃。敬宗立,上尊號為皇太后,贈後父紹卿司空,母張追封趙國夫人。文宗時,稱寶歷太后。大和五年,宰相建白以太皇太后與寶歷太后稱號未辨,前代詔令不敢斥言,皆以宮為稱,今寶歷太后居義安殿,宜曰義安太后。詔可。會昌五年崩,有司上謚,葬光陵東園。
  11. ^ Tư trị thông giám, quyển 248.