Phi tần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hanxizaiyeyantu3.jpg

Phi tần (chữ Hán: 妃嬪) là tên gọi chung cho nàng hầu, vợ lẽ của các vị quân chủ trong xã hội phong kiến phương Đông, như Hoàng đế, Quốc vương hay chúa Trịnh, chúa Nguyễn thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh trong lịch sử Việt Nam.

Phi tần thuộc nội cung của nhà vua, mang danh phận thứ thiếp đứng dưới người vợ chính thất là Hoàng hậu hay Vương phi, đồng thời giữ trách nhiệm trông nom, đảm nhận các công việc nội cung. Phi tần trong xã hội phong kiến là một tập đoàn người đặc biệt, giữ mối liên hệ gần gũi với nhà vua, là cầu nối giữa hoàng tộc và các thế lực quan lại triều đình, giữ mối hòa hảo giữa các nước lân bang, ảnh hưởng lớn đến cục diện chính trị. Phi tần trong xã hội phong kiến mang nhiều danh phận với thứ bậc cao thấp khác nhau ở từng quốc gia và triều đại.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ - Thương - Chu[sửa | sửa mã nguồn]

Từ đời viễn cổ Tam Hoàng Ngũ Đế đến triều đại nhà Hạ, chúa tể cai trị thiên hạ gọi là Thiên tử (天子), sinh thời gọi là Hậu (), khi mất thì triều thần cùng chư hầu tôn thụy hiệu là Đế (), vợ chính của Thiên tử gọi là Phi (). Đến triều nhà Thương, Thiên tử đổi xưng là Vương (), vợ chính gọi là Hậu.

Trong Lễ ký - Hôn nghi ghi lại chế độ nội cung nhà Chu, "Noi gương cổ nhân dưới Hậu, Thiên tử lập sáu cung, lấy ba Phu nhân, chín Tần, hai mươi bảy Thế phụ, tám mươi mốt ngự thê":

  • Hậu (), danh phận chính thống cung đình, người bạn đời sánh đôi cùng Thiên tử.
  • Phu nhân (夫人), ba người, luận bàn về lễ độ, đức hạnh của bậc hiền phụ.
  • Tần (), chín người, quản giáo bốn đức tốt của người phụ nhân, tức phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công.
  • Thế phụ (世婦), hai mươi bảy người, coi việc lễ tiết, tế tự.
  • Ngự thê (御妻) hay Nữ ngự (女御), tám mươi mốt người, hầu việc thang mộc, yến tẩm.

Đây là những ghi chép văn tự sớm nhất trong lịch sử phong kiến về chế độ nội cung.

Tây Hán - Đông Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Refusing the Seat - Anonymous painter during the Song dynasty.jpg

Trong Hán thư - Ngoại thích truyện ghi lại, chế độ nội cung nhà Tây Hán ban đầu xếp đặt thứ bậc theo cách gọi của nhà Tần, mẹ Hoàng đế gọi là Hoàng thái hậu (皇太后), bà nội gọi là Thái hoàng thái hậu (太皇太后), vợ chính gọi là Hoàng hậu (皇后), nàng hầu có các bậc Phu nhân, lại gọi là Mỹ nhân, Lương nhân, Bát tử, Thất tử, Trưởng sử, Thiếu sử, danh phận cao thấp khác nhau. Sang thời Vũ Đế mới sửa trị lại, đặt thêm Tiệp dư, Nghinh nga, Dung hoa, Sung y, đều có tước vị, thời Nguyên Đế lại thêm bậc Chiêu nghi, tất cả gồm mười chín chức danh, chia thành mười bốn bậc:

  • Chiêu nghi (昭儀), thứ bậc sánh cùng Thừa tướng (丞相), bổng lộc sánh ngang tước Vương của chư hầu (诸侯王).
  • Tiệp dư (婕妤), thứ bậc sánh cùng Thượng khanh (上卿), bổng lộc sánh ngang Liệt hầu (列侯).
  • Nghinh nga (娙娥), bổng lộc sánh ngang Quan nội hầu (關內侯).
  • Dung hoa (傛華), thứ bậc sánh cùng Đại thượng tạo (大上造).
  • Mỹ nhân (美人), thứ bậc sánh cùng Thiếu thượng tạo (少上造).
  • Bát tử (八子), thứ bậc sánh cùng Trung canh (中更).
  • Sung y (充依), thứ bậc sánh cùng Tả canh (左更).
  • Thất tử (七子), thứ bậc sánh cùng Hữu thứ trưởng (右庶长).
  • Lương nhân (良人), thứ bậc sánh cùng Tả thứ trưởng (左庶长).
  • Trưởng sử (長使), thứ bậc sánh cùng Ngũ đại phu (五大夫).
  • Thiếu sử (少使), thứ bậc sánh cùng Công thừa (公乘).
  • Ngũ quan (五官).
  • Thuận thường (順常).
  • Vũ quyên (舞涓), Cộng hòa (共和), Ngu linh (娛靈), Bảo lâm (保林), Lương sử (良使), Dạ giả (夜者), gọi chung là Cung nhân (宮人).

Vợ chính của Hoàng thái tử Tây Hán gọi là Hoàng thái tử phi (皇太子妃), nàng hầu có các bậc Lương đệ (良娣), Nhụ tử (孺子), đều có tước vị.

Đông Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Admonitions Scroll Scene 12.jpg

Quang Vũ Đế sửa trị danh phận nội cung, dưới Hoàng hậu chia làm bốn bậc Quý nhân (貴人), Mỹ nhân (美人), Cung nhân (宮人), Thái nữ (采女). Hoàn Đế, Linh Đế hoang dâm, trong nội cung phi tần tới hơn hai vạn người. Chiếu theo lệ đời xưa, hàng năm đều tuyển mỹ nữ nhập cung, gọi là giản trạch, thái tuyển hay tuyển mỹ. Hán nghi chú ghi lại "Vào tháng tám âm lịch hàng năm, triều đình cử lễ quan tinh thông tướng số tới các miền quê quanh kinh đô Lạc Dương tuyển chọn mỹ nữ, độ tuổi từ mười ba tới hai mươi, nét mày thanh tú, cử chỉ đoan trang, tướng mạo cát lợi".

Tào Ngụy - Tây Tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngụy Văn Đế bức Hán Hiến Đế nhường ngôi, sáng lập triều đại Tào Ngụy. Chế độ nội cung ban đầu xếp đặt thứ bậc theo danh phận trong nội phủ từ thời Vũ Đế còn giữ chức Ngụy Vương, nàng hầu có các bậc Phu nhân, Chiêu nghi, Tiệp dư, Dung hoa, Mỹ nhân, danh phận cao thấp khác nhau. Đến khi Ngụy Văn Đế đăng cơ mới sửa trị lại, đặt thêm Quý tần, Thục viên, Tu dung, Thuận thành, Lương nhân, thời Minh Đế lại thêm các bậc Thục phi, Chiêu hoa, Tu nghi, phế bỏ chức Thuận thành (順成), tất cả chia thành mười hai bậc:

  • Quý tần (貴嬪).
  • Phu nhân (夫人).
  • Thục phi (淑妃), thứ bậc sánh cùng Tướng quốc (相國), bổng lộc sánh ngang tước Vương của chư hầu (诸侯王).
  • Thục viên (淑媛), thứ bậc sánh cùng Ngự sử đại phu (御史大夫), bổng lộc sánh ngang Huyện công (縣公).
  • Chiêu nghi (昭儀), bổng lộc sánh ngang Huyện hầu (縣侯).
  • Chiêu hoa (昭華), bổng lộc sánh ngang Hương hầu (鄉侯).
  • Tu dung (修容), bổng lộc sánh ngang Đình hầu (亭侯).
  • Tu nghi (修儀), bổng lộc sánh ngang Quan nội hầu (關內侯).
  • Tiệp dư (婕妤).
  • Dung hoa (容華).
  • Mỹ nhân (美人).
  • Lương nhân (良人).
Admonitions Scroll Scene 9.jpg

Tấn Vũ Đế, vị Hoàng đế khai quốc nhà Tây Tấn, dựa theo cổ lễ từ đời nhà Chu mà xếp đặt lại danh phận phi tần tiền triều, lấy Quý tần (貴嬪), Phu nhân (夫人), Quý nhân (貴人), gọi chung là Phu nhân, lấy Thục phi (淑妃), Thục viên (淑媛), Thục nghi (淑儀), Tu hoa (修華), Tu dung (修容), Tu nghi (修儀), Tiệp dư (婕妤), Dung hoa (容華), Sung hoa (充華), gọi chung là Cửu tần (九嬪).

Nam Bắc triều[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Tề[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ nội cung Bắc Tề thời Nam Bắc triều với hệ thống thứ bậc phồn thịnh bậc nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến phương Đông:

  • Thục phi (淑妃), thứ bậc sánh cùng với Tướng quốc.
  • Tả Nga anh (左娥英), Hữu Nga anh (右娥英), thứ bậc sánh cùng với Thừa tướng.
  • Tả Chiêu nghi (左昭儀), Hữu Chiêu nghi (右昭儀), thứ bậc sánh cùng với Đại phu.
  • Phu nhân (夫人): Hoằng đức (弘德), Chính đức (正德), Sùng đức (崇德), thứ bậc sánh cùng với Tam công.
  • Tần (), chín người:
    • Quang du (光猷), Chiêu huấn (昭训), Long huy (隆徽), thứ bậc sánh cùng với Tam khanh.
    • Tuyên huy (宣徽), Ngưng huy (凝暉), Tuyên minh (宣明), Thuận hoa (顺華), Ngưng hoa (凝華), Quang huấn (光训), thứ bậc sánh cùng với Lục khanh.
  • Thế phụ (世妇), hai mươi bảy người: Quảng huấn (廣訓), Tu huấn (修訓), Tĩnh huấn (靜訓), Kính huấn (敬訓), Kính uyển (敬婉), Kính tín (敬信), Chiêu ninh (昭寧), Chiêu hoa (昭華), Uyển hoa (婉華), Phương hoa (芳華), Phương du (芳猷), Chính hoa (正華), Quang chính (光正), Mậu quang (茂光), Minh phạm (明范), Minh tín (明信), Minh thục (明淑), Hoằng du (弘猷), Hoằng huy (弘徽), Lệnh tắc (令則), Huy tắc (暉則), Huy phạm (暉范), Trinh phạm (貞范), Diễm nghi (艷儀), Diệu nghi (曜儀), Diệu đức (曜德), Hòa đức (和德), hàm tòng tam phẩm.
  • Ngự nữ (御女), tám mươi mốt người, hàm chính tứ phẩm.
  • Tài nhân (才人), nhân số không hạn định.
  • Thái nữ (采女), nhân số không hạn định số.

Bắc Chu[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên Đế lập Dương Lệ Hoa làm Thiên Nguyên Đại Hoàng hậu (天元大皇后), Chu Mãn Nguyệt làm Thiên Nguyên Đế hậu (天元帝后), sau đổi làm Thiên Đại Hoàng hậu (天大皇后), Trần Nguyệt Nghi làm Thiên Trung Đại Hoàng hậu (天中大皇后), Uất Trì Sí Phồn làm Thiên Tả Đại Hoàng hậu (天左大皇后), Nguyên Lạc Thượng làm Thiên Hữu Đại Hoàng hậu (天右大皇后). Chế độ nội cung Bắc Chu dưới Hoàng hậu chia thành năm bậc phi tần:

  • Phu nhân (夫人), ba người, thứ bậc sánh cùng với Tam công. Thời Tuyên Đế ban phong Quý phi (貴妃), Đức phi (德妃), đều xếp vào hàng Phu nhân.
  • Dặc (), ba người, thứ bậc sánh cùng với Tam cô.
  • Tần (), sáu người, thứ bậc sánh cùng với Lục khanh.
  • Ngự viên (御媛), thứ bậc sánh cùng với Đại phu.
  • Ngự uyển (御婉), thứ bậc sánh cùng với .

Tùy[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Tùy thư, Văn Đế lập quốc, do người vợ nguyên phối là Độc Cô Hoàng hậu có tính ghen tuông, khiến Văn Đế không tiện sủng hạnh phi tần, chỉ theo điển lệ cũ từ đời Tần-Hán mà đặt ra các chức nữ quan Lục thượng (六尚), Lục tư (六司), Lục điển (六典), trông nom điển phạm nội cung:

  • Tần (), ba người, quản dạy bốn mỹ đức công, dung, ngôn, hạnh, hàm chính tam phẩm.
  • Thế phụ (世婦), chín người, coi việc lễ tân, hàm chính ngũ phẩm.
  • Ngự nữ (御女), ba mươi tám người, coi việc nữ công, hàm chính thất phẩm.

Đến năm 602, khi Văn Hiến Hoàng hậu qua đời, Văn Đế mới sửa trị, đặt thêm danh phận cho các tần phi:

  • Quý nhân (貴人), ba người.
  • Tần (), chín người.
  • Thế phụ (世婦), hai mươi bảy người.
  • Ngự nữ (御女), tám mươi mốt người.

Cuối đời Văn Đế sa đà vào mỹ sắc, lấy sủng phi Trần Quý nhân làm Tuyên Hoa Phu nhân (宣華夫人), Sái Quý nhân làm Dung Hoa Phu nhân (容華夫人).

Dạng Đế hoang dâm, sửa trị danh phận phi tần, trở thành khuôn thước cho nội cung của các bậc đế vương sau này:

  • Quý phi (貴妃), Thục phi (淑妃), Đức phi (德妃), gọi chung là Phu nhân (夫人), hàm chính nhất phẩm.
  • Thuận nghi (顺儀), Thuận dung (顺容), Thuận hoa (顺華), Tu nghi (修儀), Tu dung (修容), Tu hoa (修華), Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung hoa (充華), gọi chung là Cửu tần (九嬪), hàm chính nhị phẩm.
  • Tiệp dư (婕妤), mười người, hàm chính tam phẩm.
  • Mỹ nhân (美人), Tài nhân (才人), mười lăm người, gọi chung là Thế phụ (世婦), hàm chính tứ phẩm.
  • Bảo lâm (寶林), hai mươi tư người, hàm chính ngũ phẩm.
  • Ngự nữ (御女), hai mươi tư người, hàm chính lục phẩm.
  • Thái nữ (采女), ba mươi bảy người, hàm chính thất phẩm.
  • Thừa y (承衣), Đao nhân (刀人), nhân số không hạn định.

Đường[sửa | sửa mã nguồn]

揮扇仕女圖(局部).jpg

Theo Đường thư, Cao Tổ sáng lập triều đại, chế độ nội cung ban đầu xếp đặt thứ bậc theo cách gọi cũ từ nhà Tùy, sau lại theo cổ lễ từ đời nhà Chu mà sửa trị lại danh phận của tần phi, nội mệnh phụ, chia thành chín bậc như các quan lại triều đình:

  • Quý phi (貴妃), Thục phi (淑妃), Đức phi (德妃), Hiền phi (賢妃), gọi chung là Phu nhân (夫人), hàm chính nhất phẩm.
  • Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Chiêu viên (昭媛), Tu nghi (修儀) Tu dung (修容), Tu viên (修媛), Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung viên (充媛), gọi chung là Cửu tần (九嬪), hàm chính nhị phẩm.
  • Thế phụ (世婦), hai mươi bảy người:
    • Tiệp dư (婕妤), chín người, hàm chính tam phẩm.
    • Mỹ nhân (美人), chín người, hàm chính tứ phẩm.
    • Tài nhân (才人), chín người, hàm chính ngũ phẩm.
  • Ngự thê (御妻), tám mươi mốt người:
    • Bảo lâm (寶林), hai mươi bảy người, hàm chính lục phẩm.
    • Ngự nữ (御女), hai mươi bảy người, hàm chính thất phẩm.
    • Thái nữ (采女), hai mươi bảy người, hàm chính bát phẩm.

Cao Tông niên hiệu Long Sóc ban chỉ dụ, sửa lại danh phận của nội cung:

  • Tán đức (贊德), hai người, thứ bậc sánh cùng Phu nhân.
  • Tuyên nghi (宣儀), bốn người, thứ bậc sánh cùng Tần.
  • Thừa khuê (承閨), năm người, thứ bậc sánh cùng Mỹ nhân.
  • Thừa chỉ (承旨), năm người, thứ bậc sánh cùng Tài nhân.
  • Vệ tiên (衛仙), sáu người, thứ bậc sánh cùng Bảo lâm.
  • Cung phụng (供奉), tám người, thứ bậc sánh cùng Ngự nữ.
  • Thị trất (侍櫛), hai mươi người, thứ bậc sánh cùng Thái nữ.
  • Thị cân (侍巾), hai mươi người, hàm chính cửu phẩm.

Các danh phận này ban hành hai năm thì phế bỏ.

Zhou Fang. Court Ladies Wearing Flowered Headdresses. (46x180) Liaoning Provincial Museum, Shenyang..jpg

Huyền Tông năm Khai Nguyên thứ mười hai (724), Hoàng đế lại ban chỉ dụ, theo đó sửa trị, sắp đặt lại danh phận của tần phi, nội mệnh phụ:

  • Huệ phi (惠妃), Lệ phi (麗妃), Hoa phi (華妃), luận bàn về lễ độ, đức hạnh của bậc hiền phụ, hàm chính nhất phẩm.
  • Quý tần (貴嬪), hàm tòng nhất phẩm.
  • Thục nghi (淑儀), Đức nghi (德儀), Hiền nghi (賢儀), Thuận nghi (順儀), Uyển nghi (婉儀), Phương nghi (芳儀), quản giáo bốn đức tốt của người phụ nhân, tức phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công, hàm chính nhị phẩm.
  • Mỹ nhân (美人), bốn người, coi việc lễ tiết, tế tự, hàm chính tam phẩm.
  • Tài nhân (才人), bảy người, hầu việc thang mộc, yến tẩm, hàm chính tứ phẩm.
  • Thượng cung (尚宮), Thượng nghi (尚儀), Thượng phục (尚服), mỗi tước vị hai người, hàm chính ngũ phẩm.
  • Tư quan (司官), Điển quan (典官), theo lệ định cũ mà xếp đặt, bố trí thứ bậc từ lục phẩm tới cửu phẩm.

Huyền Tông năm Thiên Bảo thứ tư (745), Hoàng đế khôi phục danh hiệu Quý phi (貴妃), đứng đầu nội cung phi tần, phong Dương Thái Chân làm Quý phi. Sau thời Túc Tông, nhà vua khôi phục chế độ nội cung thời Cao Tổ lập quốc. Giai đoạn cuối triều đại nhà Đường, nội cung tần phi mang các tước vị của ngoại mệnh phụ như Quốc phu nhân (國夫人), Quận phu nhân (郡夫人), thứ bậc Quận phu nhân kế dưới Tài nhân. Đức Tông năm Trinh Nguyên thứ bảy (791) xuống dụ, sau khi Tiên đế qua đời, sinh mẫu của Hoàng tử gọi là Thái phi (太妃), sinh mẫu của Công chúa gọi là Thái nghi (太儀).

Vợ chính Hoàng thái tử nhà Đường gọi là Hoàng thái tử phi (皇太子妃), hầu thiếp ở Đông cung có các bậc:

  • Lương đệ (良娣), hai người, hàm chính tam phẩm.
  • Lương viên (良媛), sáu người, hàm chính ngũ phẩm.
  • Thừa huy (承徽), mười người, hàm chính lục phẩm.
  • Chiêu huấn (昭訓), mười sáu người, hàm chính thất phẩm.
  • Phụng nghi (奉儀), hai mươi tư người, hàm chính cửu phẩm.

Hoàng tử nhà Đường nhận phong tước Vương của chư hầu (诸侯王), vợ chính gọi là Vương phi (王妃), nàng hầu, vợ lẽ cũng được ban phong ngoại mệnh phụ, như các bà Chiêu Thành, Trang Hiến khi còn là hầu lẽ của Hoàng tử đều phong làm Nhụ nhân (孺人).

Tống - Kim[sửa | sửa mã nguồn]

Empress of Renzong of Song.jpg

Chế độ nội cung nhà Tống ban đầu xếp đặt thứ bậc theo cách gọi của nhà Đường. Các triều vua Chân Tông, Nhân Tông đều sửa trị lại, đặt thêm danh phận mới:

  • Quý phi (貴妃), Thục phi (淑妃), Đức phi (德妃), Hiền phi (賢妃), hàm chính nhất phẩm.
  • Thái nghi (太儀), Quý nghi (貴儀), Thục nghi (淑儀), Thục dung (淑容), Thuận nghi (顺儀), Thuận dung (顺容), Uyển nghi (婉儀), Uyển dung (婉容), Chân Tông năm Đại Trung Tường Phù thứ sáu định lệ, hàm tòng nhất phẩm, thời Nhân Tông giáng xuống hàm chính nhị phẩm.
  • Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Chiêu viên (昭媛), Tu nghi (修儀) Tu dung (修容), Tu viên (修媛), Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung viên (充媛), hàm chính nhị phẩm.
  • Tiệp dư (婕妤), chín người, hàm chính tam phẩm.
  • Mỹ nhân (美人), chín người, hàm chính tứ phẩm.
  • Tài nhân (才人), chín người, hàm chính ngũ phẩm.
  • Quý nhân (貴人), Chân Tông định lệ, không phẩm hàm, Thần Tông thăng lên hàm chính ngũ phẩm.

Dưới hàng phi tần là các cung quan được sủng hạnh, có Thị ngự (侍御), Tử hà bí (紫霞帔), Hồng hà bí (紅霞帔), Thính tuyên (聽宣), Thính trực (聽直), Thư trực (書直), lại gia phong các tước hiệu của ngoại mệnh phụ như Huyện quân (县君), Quận quân (郡君), Quận phu nhân (郡夫人), Quốc phu nhân (國夫人).

Năm Minh Đạo nguyên niên (1032), Chương Hiến Lưu Thái hậu tấn phong Lý Thuận dung, sinh mẫu của Nhân Tông làm Thần phi (宸妃), đứng đầu các phi tần, Lý Thần phiThần phi duy nhất của triều đại nhà Tống. Thời Huy Tông, nhà vua tấn phong sủng phi Lưu thị lên hàng Thục phi, lại xưng là An phi (安妃).

Chế độ nội cung nhà Kim ban đầu cũng xếp đặt thứ bậc theo cách gọi của nhà Đường. Tuyên Tông niên hiệu Trinh Hựu định lệ danh phận phi tần:

  • Nguyên phi (元妃), Quý phi (貴妃), Chân phi (真妃), Thục phi (淑妃), Lệ phi (麗妃), Nhu phi (柔妃).
  • Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Chiêu viên (昭媛), Tu nghi (修儀) Tu dung (修容), Tu viên (修媛), Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung viên (充媛).
  • Tiệp dư (婕妤).
  • Lệ nhân (麗人), Tài nhân (才人).
  • Thuận nghi (顺儀), Thục hoa (淑華), Thục nghi (淑儀).

Hải Lăng Vương định ra mười hai mỹ hiệu cho các phi tử, gọi là Nguyên phi (元妃), Xu phi (姝妃), Huệ phi (惠妃), Quý phi (貴妃), Hiền phi (賢妃), Thần phi (宸妃), Lệ phi (麗妃), Thục phi (淑妃), Đức phi (德妃), Chiêu phi (昭妃), Ôn phi (溫妃), Nhu phi (柔妃), thứ bậc cao thấp khác nhau.

Minh[sửa | sửa mã nguồn]

明憲宗行樂圖(局部)5.jpg

Thái Tổ năm Hồng Vũ thứ 5 định lệ chế độ nội cung. Bậc phi trừ Quý phi kế dưới Hoàng hậu có danh phận cao nhất, còn có các tước vị Hiền phi (賢妃), Thục phi (淑妃), Trang phi (莊妃), Kính phi (敬妃), Huệ phi (惠妃), Thuận phi (顺妃), Khang phi (康妃), Ninh phi (寧妃) lấy các mỹ từ "Hiền", "Thục", "Trang", "Kính"... làm huy hiệu mà phân biệt tôn ty. Dưới hậu phi là hàng tần ngự, có Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Tiệp dư (婕妤), Quý nhân (貴人), Mỹ nhân (美人).

Thế Tông năm Gia Tĩnh thứ mười (1531) dựa theo cổ lễ lập thêm Cửu tần, gồm Đức tần (德嫔), Hiền tần (賢嬪), Trang tần (莊嫔), Lệ tần (麗嬪), Huệ tần (惠嬪), An tần (安嫔), Hòa tần (和嬪), Hy tần (僖嬪), Khang tần (康嬪), danh phận dưới phi. Đại Tông năm 1457 phong sủng phi Đường thị làm Hoàng quý phi, sau khi Anh Tông phục vị, danh phận của Đường thị bị phế bỏ. Đến đời Hiến Tông lại ban cho Vạn Quý phi tôn hiệu "Hoàng" (), gọi là Hoàng quý phi (皇貴妃). Từ đó danh hiệu Hoàng quý phi được Hoàng đế hai triều Minh-Thanh sử dụng, là danh phận tôn quý nhất của nội cung tần phi.

Vợ chính của Hoàng thái tử nhà Minh gọi là Hoàng thái tử phi (皇太子妃), hầu thiếp có các bậc Tài nhân (才人), Tuyển thị (選侍), Thục nữ (淑女).

Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

令妃.jpg

Lúc quốc sơ, nhà Thanh chưa đặt chế độ nội cung. Theo lệ định cũ từ đời Hậu Kim, hậu phi xưng hiệu Phúc tấn (福晋) và Cách cách (格格), vợ chính gọi là Đại phúc tấn (大福晉). Hoàng Thái Cực năm Sùng Đức thứ nhất tấn phong Đại phúc tấn làm Thanh Ninh cung Hoàng hậu (清寧宮 皇后), lấy bốn vị Trắc phúc tấn theo thứ tự làm Quan Thư cung Thần phi (關雎宮 宸妃), Lân Chỉ cung Quý phi (麟趾宮 貴妃), Diễn Khánh cung Thục phi (衍庆宮 淑妃), Vĩnh Phúc cung Trang phi (永福宮 莊妃), Thanh sử cảo gọi là Sùng Đức ngũ cung (崇德五宮).

Tới năm Thuận Trị thứ mười lăm, theo kiến nghị của lễ quan, mới đặt ra chế độ nội cung:

  • Càn Thanh cung (乾清宮):
    • Phu nhân (夫人), một người.
    • Thục nghi (淑儀), một người.
    • Uyển thị (婉侍), sáu người.
    • Nhu uyển (柔婉), Phương uyển (芳婉), ba mươi người.
  • Từ Ninh cung (慈寧宮):
    • Trinh dung (貞容), một người.
    • Thận dung (慎容), hai người.
    • Cần thị (勤侍), không hạn định nhân số.

Theo Thanh sử cảo, từ sau đời Khang Hy chế độ hậu phi mới được hoàn chỉnh, dưới Hoàng hậu chia làm tám bậc gồm:

  • Hoàng quý phi (皇貴妃), một người, hàm chính nhất phẩm.
  • Quý phi (貴妃), hai người, hàm chính nhị phẩm.
  • Phi (), bốn người, hàm chính tam phẩm.
  • Tần (), sáu người, hàm chính tứ phẩm.
  • Quý nhân (貴人), nhân số không hạn định, hàm chính ngũ phẩm.
  • Thường tại (常在), nhân số không hạn định, hàm chính lục phẩm.
  • Đáp ứng (答應), nhân số không hạn định, hàm chính thất phẩm.
  • Quan nữ tử (官女子), nhân số không hạn định, không phẩm hàm.

Danh phận Hoàng quý phi đến Tần kính ngữ gọi là nương nương, được ban quyền làm chủ một cung trong nội đình. Từ Quý nhân đến Đáp ứng gọi là tiểu chủ, riêng Quan nữ tử danh phận không khác cung nữ, là những cung nữ được Hoàng đế sủng hạnh. Phi tần được tuyển chọn từ những Tú nữ (秀女) tham gia tuyển tú hoặc tiến cung từ các gia tộc quan lại có công. Tú nữ nhập cung, dựa theo gia thế, phẩm hạnh cùng mỹ sắc, được phong phi tần, ban hôn cho các thành viên hoàng tộc hoặc giữ lại nội đình làm nữ quan. Thứ bậc giữa các phi tần còn được phân định một cách không chính thức theo ân sủng của Hoàng đế, mỹ hiệu được phong tặng cũng như xuất thân, theo thứ tự là Mãn quân kỳ, Mông quân kỳ và Hán quân kỳ.Chiếu theo lệ định, trước đại hôn của Hoàng đế, tuyển chọn tám cung nữ lớn tuổi tham dạy các bí thuật phòng the, các cung nữ này được ban phong các tước vị Tư trướng (司賬), Tư tẩm (司寝), Tư nghi (司儀), Tư môn (司門).

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Nội mệnh phụ nhà Triều Tiên bao gồm Vương phi (왕비), Hậu cung (후궁) và Cung nữ (궁녀), có nhiệm vụ phụng sự Quốc vương. Thứ bậc nội mệnh phụ từ chính nhất phẩm đến tòng cửu phẩm chia hai nhánh chính là Nội quan (내관) và Cung quan (궁관). Các nội quan là thành viên của vương thất:

  • Tần (), hàm chính nhất phẩm.
  • Quý nhân (귀인), hàm tòng nhất phẩm.
  • Chiêu nghi (소의), hàm chính nhị phẩm.
  • Thục nghi (숙의), hàm tòng nhị phẩm.
  • Chiêu dung (소용), hàm chính tam phẩm.
  • Thục dung (숙용), hàm tòng tam phẩm.
  • Chiêu viên (소원), hàm chính tứ phẩm.
  • Thục viên (숙원), hàm tòng tứ phẩm.

Nội quan thuộc hàng Tần được ban một mỹ hiệu khi sắc phong, như Hy tần (희빈), Thục tần (숙빈), Tĩnh tần (정빈), Ánh tần (영빈). Từ Quý nhân đến Thục viên lấy họ mà phân biệt với những nội quan cùng danh phận. Nội quan của nội mệnh phụ có thể được lập làm Vương phi, người vợ chính của nhà vua, kính ngữ gọi là Trung điện (중전). Sau án Hy tần họ Trương dùng thuật phù thủy mưu hại Nhân Hiển Vương hậu, Túc Tông ban dụ cấm các hậu cung trở thành Vương phi. Dưới thời cai trị của bạo chúa Yên Sơn Quân, nhà vua hoang dâm vô độ, tổ chức tuyển chọn mỹ nữ trên cả nước sung vào nội mệnh phụ, lại đặt thêm nhiều danh phận cho các hậu cung như Thục hoa (숙화), Lệ viên (여원), Nhàn nga (한아). Trung Tông phản chính, các danh hiệu trên đều bị phế bỏ.

Dưới nội quan còn có cung quan từ chính ngũ phẩm đến tòng cửu phẩm, không được coi là thành viên của vương thất:

  • Thượng cung (상궁), Thượng nghi (상의), hàm chính ngũ phẩm.
  • Thượng phục (상복), Thượng thực (상식), hàm tòng ngũ phẩm.
  • Thượng tẩm (상침), Thượng công (상공), hàm chính lục phẩm.
  • Thượng chính (상정), Thượng ký (상기), hàm tòng lục phẩm.
  • Điển tân (전빈), Điển y (전의), Điển thiện (전선), hàm chính thất phẩm.
  • Điển thiết (전설), Điển chế (전제), Điển ngôn (전언), hàm tòng thất phẩm.
  • Điển tán (전찬), Điển sức (전식), Điển dược (전약), hàm chính bát phẩm.
  • Điển đăng (전등), Điển thái (전채), Điển chính (전정), hàm tòng bát phẩm.
  • Tấu cung (주궁), Tấu thương (주상), Tấu giác (주각), hàm chính cửu phẩm.
  • Tấu biến trưng (주변치), Tấu trưng (주치), Tấu vũ (주우), Tấu biến cung (주변궁), hàm tòng cửu phẩm.

Cung quan được nhà vua sủng hạnh có thể tấn phong nội quan hoặc Thừa ân Thượng cung (승은상궁), là danh hiệu đứng đầu các bậc Thượng cung.

Nhà Triều Tiên giai đoạn cáo chung, trước sự xâm lược của Nhật Bản cũng như thoát ly ảnh hưởng nhà Thanh, Cao Tông xưng đế, vương thất nước Triều Tiên trở thành hoàng thất của Đại Hàn đế quốc, nội mệnh phụ của nhà vua cũng có những sự thay đổi. Như việc Cao Tông truy tặng người vợ nguyên phối Mẫn thị làm Minh Thành Hoàng hậu, bà là Hoàng hậu (황후) đầu tiên của đất nước Hàn Quốc.

Nội mệnh phụ hầu hạ Vương thế tử ở Đông cung cũng có sự phân chia phẩm hàm:

  • Vương thế tử tần (왕세자빈), vợ chính của Vương thế tử, kính ngữ gọi là Tần cung (빈궁).
  • Nội quan:
    • Lương đệ (양제), hàm tòng nhị phẩm.
    • Lương viên (양원), hàm tòng tam phẩm.
    • Thừa huy (승휘), hàm tòng tứ phẩm.
    • Chiêu huấn (소훈), hàm tòng ngũ phẩm.
  • Cung quan:
    • Thủ khuê (수규), Thủ tắc (수칙), hàm tòng lục phẩm.
    • Chưởng soạn (장찬], Chưởng chính (장정), hàm tòng thất phẩm.
    • Chưởng thư (장서), Chưởng phùng (장봉), hàm tòng bát phẩm.
    • Chưởng tàng (장장), Chưởng thực (장식), Chưởng y (장의), hàm tòng cửu phẩm.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng cung[sửa | sửa mã nguồn]

Empress Shoshi and son.jpg

Hậu phi của Thiên hoàng cư ngụ tại hậu cung (こうきゅう) hay nội lý (だいり):

  • Hoàng hậu (こうごう, 皇后), một người.
  • Trung cung (ちゅうぐう, 中宮), một người. Nguyên được dùng như kính ngữ tôn vinh danh phận chính thống nội cung của Hoàng hậu, từ đời Nhất Điều Thiên hoàng, Trung cung trở thành tước hiệu cho người vợ chính thứ hai của Thiên hoàng, thứ bậc sánh cùng Hoàng hậu.
  • Nữ ngự (にょうご, 女御), danh phận cao nhất của phi tần, thường xuất thân Nội thân vương, Nữ vương của hoàng thất hay các sỹ tộc Thái chính quan.
  • Canh y (こうい, 更衣).

Nữ quan và cung nữ thuộc hậu cung thập nhị ty:

  • Thượng thị (ないしのかみ, 尚侍), hai người, trưởng quan phụ trách quản lý hậu cung thập nhị ty.
  • Điển thị (ないしのすけ, 典侍), bốn người, nữ quan phụ tá giúp việc cho Thượng thị.
  • Chưởng thị (ないしのじょう, 掌侍), bốn người.
  • Nữ nhụ (にょじゅ, 女孺).
  • Ngự Hạp điện Biệt đương (みくしげとののべっとう, 御匣殿別当), trưởng quan của Ngự Hạp điện (みくしげどの), chăm lo việc phục sức của Thiên hoàng, thường do những hầu thiếp được Thiên hoàng ân sủng đảm nhiệm.
  • Nữ tàng nhân (にょくろうど, 女蔵人).
  • Thái nữ (うねめ, 采女), thị nữ hầu hạ trong hậu cung.

Hậu cung thập nhị ty (こうきゅうじゅうにし) có nhiệm vụ hầu hạ Thiên hoàng và hoàng thất Nhật Bản, phân biệt mười hai ty gồm Tàng ty (藏司), Thư ty (書司), Dược ty (藥司), Binh ty (兵司), Xiển ty (闡司), Điện ty (殿司), Tảo ty (掃司), Thủy ty (水司), Thiện ty (膳司), Tửu ty (酒司), Phùng ty (縫司).

Mạc phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Chiyoda Ooku Hanami.jpg

Thời kỳ Mạc phủ Tokugawa, nội cung thành Edo được biết đến với tên gọi Ōoku (Đại áo, おおおく, 大奥), một xã hội thu nhỏ tập hợp hơn một ngàn nữ nhân, được thành lập bởi Shōgun Hidetada. Từ người vợ chính thất tới các cung tần mỹ nữ, người hầu kẻ hạ trong Ōoku gọi chung là Áo nữ trung (おくじょちゅう, 奥女中), giữ nhiệm vụ phụng sự Tướng quân và gia tộc Tokugawa. Trong đó chỉ một số ít các cung nhân được hưởng ân huệ diện kiến Tướng quân, số còn lại chỉ là hạng hầu bộc chuyên nấu nướng, may vá và những việc nặng nhọc khác. Người vợ chính thất của Tướng quân gọi là Ngự đài sở (みだいどころ, 御台所) mang danh phận tôn quý nhất, đứng trên hết thảy trong Ōoku. Tuy vậy quyền lực thực tế lại thuộc về các nữ quan tổng quản, những người chịu trách nhiệm trôm nom, sửa trị và chỉnh tề các công việc lớn nhỏ tại Ōoku. Nàng hầu của Tướng quân sinh được con trai nối dõi gọi là Ngự bộ ốc dạng (おへやさま,御部屋様), sinh con gái gọi là Ngự phúc dạng (おはらさま, 御腹様), hoặc được cất nhắc làm vợ lẽ chính thức.

Vợ chính và hầu lẽ của Tướng quân quá cố, theo điển lệ của giới quý tộc Nhật Bản, được Thiên triều và Mạc phủ ban phong các pháp danh, xuống tóc và lui về thiền tự tu hành như Sùng Nguyên viện (すうげんいん, 崇源院), vợ chính của Hidetada, Thiên Chương viện (てんしょういん, 天璋院), vợ chính của Iesada, Tĩnh Khoan viện cung (せいかんいんのみや, 静寛院宮), vợ chính của Iemochi.

Các tổng quản phụng sự gia tộc Tướng quân với trách nhiệm trông nom, sửa trị và chỉnh tề công việc lớn nhỏ tại Ōoku cũng có sự phân chia thứ bậc:

  • Thượng lạp ngự niên ký (じょうろうおとしより, 上臈御年寄), các tiểu thư quý tộc tại kinh đô Kyoto bồi giá theo chính thất Ngự đài sở, coi việc lễ nghi và dạy dỗ các cung nhân.
  • Ngự niên ký (おとしより, 御年寄), xuất thân từ tầng lớp Samurai, nắm thực quyền quản lý sự vụ trong Ōoku.

Một số tước vị khác:

  • Ngự trung lạp (おちゅうろう, 御中臈), nguyên là cung tần Trung lạp hầu cận Ngự đài sở, được Shōgun sủng hạnh.
  • Trung lạp (ちゅうろう, 中臈), cung tần hầu cận Ngự đài sở, được tuyển chọn làm hầu thiếp của Shōgun.
  • Trung niên ký (ちゅうどしより, 中年寄), nữ quan phụ tá giúp việc cho Ngự niên ký.
  • Ngự khách ứng đáp (おきゃくあしらい, 御客應答), nữ quan coi việc lễ tân.
  • Ngự tiểu tính (おこしょう, 御小姓), các thiếu nữ độ tuổi từ bảy tới mười sáu hầu cận Ngự đài sở.
  • Ngự đĩnh khẩu (おじょうぐち, 御錠口), nữ quan canh giữ cửa Ngự Linh lang hạ (おすずろうか, 御鈴廊下), là cửa chính tại Ōoku.
  • Biểu sử (おもてづかい, 表使).
  • Ngự hữu bút (ごゆうひつ, 御右筆).
  • Ngự thứ (おつぎ, 御次).

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Việt thông sử do Lê Quý Đôn biên soạn có đoạn viết: "Quốc thống nước ta nếu vẫn noi gương người xưa, phong tục cũ chưa đổi, có Đinh Tiên Hoàng lập năm Hoàng hậu, một là Đan Gia (丹嘉), hai là Trinh Minh (貞明), ba là Kiểu Quốc (矯國), bốn là Cồ Quốc (𡚝國), năm là Ca Ông (歌翁). Lê Đại Hành lập Hoàng thái hậu nhà Đinh là Dương thị làm Đại Thắng Minh Hoàng hậu (大勝明), cùng với Phụng Càn Chí Lý (奉乾至理), Thuận Thánh Minh Đạo (順聖明道), Trịnh Quốc (鄭國), Phạm Hoàng hậu là năm Hoàng hậu. Lý Thái Tổ lập sáu Hoàng hậu, duy có đích phu nhân gọi là Lập Giáo Hoàng hậu (立教), quy chế xe kiệu và y phục khác hẳn với các cung khác, sau lại lập thêm ba Hoàng hậu nữa. Lý Thái Tông lập bảy Hoàng hậu, có Mai Hoàng hậu, Đinh Hoàng hậu, Vương Hoàng hậu, lại có nàng hầu được lập làm Thiên Cảm Hoàng hậu (天感). Lý Nhân Tông lập hai Hoàng hậu là Thánh Cực (聖極), Chiêu Thánh (昭聖), sau lại lập thêm ba Hoàng hậu là Lan Anh (蘭英), Khâm Thiên (欽天), Chấn Bảo (震寶) ". Từ thời Lý Thần Tông, do sự tiếp thu tư tưởng Nho học và lễ giáo cung đình phương Bắc, nhà vua lập duy nhất một Hoàng hậu tại vị, lại xếp đặt, sửa trị cho chế độ nội cung được trật tự phân minh.

Triều đại nhà Lý, Thái Tông ban chỉ dụ về thứ bậc chốn nội cung: "Hoàng hậu và phi tần mười ba người, Ngự nữ mười tám người, Nhạc kỹ hơn trăm người". Ghi chú của chính sử không phân định về tôn ty danh phận, nhưng dựa theo sử liệu qua các đời Thánh Tông, Thần Tông, Anh Tông, nội cung phi tần trừ Nguyên phi (元妃) kế dưới Hoàng hậu, có danh phận cao nhất, còn có các tước vị Thần phi (宸妃), Quý phi (貴妃), Đức phi (德妃), Thục phi (淑妃), Hiền phi (賢妃), Thứ phi (庶妃), Phu nhân (夫人). Bậc Phu nhân lệ được ban hai mỹ từ làm huy hiệu, như Thánh TôngỶ Lan (倚蘭), Nhân TôngThần Anh (宸英), Thần TôngMinh Bảo (明寶), Cảm Thánh (感聖), Phụng Thánh (奉聖), Huệ Tông có Thuận Trinh (順貞). Chế độ nội cung nhà Trần ban đầu xếp đặt thứ bậc theo cách gọi của nhà Lý. Thời Minh TôngSung viên (充媛) Lê thị, nhiều khả năng nhà Vua dựa theo lễ giáo cung đình phương Bắc mà dùng các tước vị trong Cửu tần (九嬪) ban phong cho nội cung.

Triều đại Lê sơ, Thánh Tông đặt ra chế độ nội cung:

  • Tam phi (三妃): Quý phi (貴妃), Minh phi (明妃), Kính phi (敬妃).
  • Cửu tần (九嬪):
    • Tam chiêu (三昭): Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Chiêu viên (昭媛).
    • Tam tu (三修): Tu nghi (修儀) Tu dung (修容), Tu viên (修媛).
    • Tam sung (三充): Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung viên (充媛).
  • Lục chức (六職): Tiệp dư (婕妤), Dung hoa (容華), Tuyên vinh (宣榮), Tài nhân (才人), Lương nhân (良人), Mỹ nhân (美人).

Các Hoàng đế Lê sơ có lệ không lập Hoàng hậu, chỉ lấy bậc Quý phi đứng đầu trông nom công việc nội cung.

NamPhuong.jpg

Triều nhà Nguyễn thường không lập Hoàng hậu, trừ trường hợp Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, người vợ tào khang theo phò Gia Long từ thuở hàn vi, Lệ Thiên Anh Hoàng hậu được Tự Đức di chiếu tấn phong và Nam Phương Hoàng hậu, Hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, được Bảo Đại - vị Hoàng đế chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây sách lập. Hầu hết vợ chính của các Hoàng đế từ Minh Mạng đến Khải Định đều chỉ là Hoàng quý phi hoặc Nhất giai phi. Theo quy định nhà Nguyễn, Hoàng quý phi ở trên bậc nhất giai, giúp Hoàng thái hậu cất đặt và chỉnh tề công việc nội cung, là danh hiệu tôn quý nhất nội

Theo Nội các triều Nguyễn-Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, vào đầu thời Nguyễn, thứ bậc nội cung được quy định: "Lúc quốc sơ định lệ cung giai. Tam phi là Quý phi, Minh phi, Kính phi. Tam tu là Tu nghi, Tu dung, Tu viên. Cửu tần là Quý tần, Hiền tần, Trang tần, Đức tần, Thục tần, Huệ tần, Lệ tần, An tần, Hòa tần. Tam chiêu là Chiêu nghi, Chiêu dung, Chiêu viên. Tam sung là Sung nghi, Sung dung, Sung viên. Lục chức là Tiệp dư, Dung hoa, Nghi nhân, Tài nhân, Linh nhân, Lương nhân".

Đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Thánh Tổ có chỉ dụ định lại thứ bậc của nội cung, "Nay theo gương cổ nhân, đặt chín bậc phi tần ở nội cung, khiến cho chốn khuê môn trật tự phân minh, phong hóa tôn nghiêm, tuân theo mãi mãi":

  • Hoàng quý phi (皇貴妃).
  • Quý phi (貴妃), Hiền phi (賢妃), Thần phi (宸妃) làm bậc nhất hay Nhất giai phi (一階妃).
  • Đức phi (德妃), Thục phi (淑妃), Huệ phi (惠妃) làm bậc nhì hay Nhị giai phi (二階妃).
  • Quý tần (貴嬪), Hiền tần (賢嬪), Trang tần (莊嬪) làm bậc ba hay Tam giai tần (三階嬪).
  • Đức tần (德嬪), Thục tần (淑嬪), Huệ tần (惠嬪) làm bậc bốn hay Tứ giai tần (四階嬪).
  • Lệ tần (麗嬪), An tần (安嬪), Hòa tần (和嬪) làm bậc năm hay Ngũ giai tần (五階嬪).
  • Tiệp dư (婕妤) làm bậc sáu hay Lục giai Tiệp dư (六階婕妤).
  • Quý nhân (貴人) làm bậc bảy hay Thất giai Quý nhân (七階貴人).
  • Mỹ nhân (美人) làm bậc tám hay Bát giai Mỹ nhân (八階美人).
  • Tài nhân (才人) làm bậc chín hay Cửu giai Tài nhân (九階才人).
  • Tài nhân vị nhập giai (才人未入階), còn gọi là Tài nhân vị nhập lưu (才人未入流)
  • Cung nga (宮娥), Thể nữ (婇女), gọi chung là Cung nhân (宮人).

Lại xuống dụ: "Trước đã chuẩn định nội cung chín bậc, trong đó có Đức phi, nay đổi làm Gia phi (嘉妃) ".

Các danh hiệu không cố định mà thay đổi qua các triều Hoàng đế hoặc ngay trong cùng một triều. Như hai năm sau khi ban hành chế độ trên, năm Minh Mạng thứ 19 (1838), Thánh Tổ lại có chỉ dụ thay đổi trong bậc ngũ giai như sau: "Nguyên trước định lệ cung giai, Lệ tần, An tần, Hòa tần cùng là bậc ngũ giai, nay đổi làm An tần, Hòa tần, Lệ tần". Cũng trong năm này, danh xưng của các phi tần trong chín bậc lại có sự thay đổi như sau:

  • Hoàng quý phi (皇貴妃).
  • Quý phi (貴妃), Đoan phi (端妃), Lệ phi (麗妃) làm bậc nhất hay Nhất giai phi (一階妃).
  • Thành phi (誠妃), Tính phi (性妃), Thục phi (淑妃) làm bậc nhì hay Nhị giai phi (二階妃).
  • Quý tần (貴嬪), Lương tần (良嬪), Đức tần (德嬪) làm bậc ba hay Tam giai tần (三階嬪).
  • Huy tần (徽嬪), Ý tần (懿嬪), Nhu tần (柔嬪) làm bậc bốn hay Tứ giai tần (四階嬪).
  • Nhân thần (仁嬪), Nhã tần (雅嬪), Thuận tần (順嬪) làm bậc năm hay Ngũ giai tần (五階嬪).
  • Từ Lục giai Tiệp dư (六階婕妤) xuống đến Thất giai Quý nhân (七階貴人), Bát giai Mỹ nhân (八階美人), Cửu giai Tài nhân (九階才人), Tài nhân vị nhập giai (才人未入階) và Cung nga (宮娥), Thể nữ (婇女) không thay đổi.

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Hiến Tổ lại cho đổi gọi Đoan phi làm Lương phi, vì chữ "Lương" () đã được đưa lên tấn phong cho bậc nhất giai nên Lương tần ở tam giai được đổi thành Thụy tần (瑞嬪).

Quốc Sử quán ghi lại trong Đại Nam thực lục vào tháng 5 năm Tự Đức thứ 3 (1850), Dực Tông xuống dụ "Định rõ thứ bậc ở nội cung". Theo tờ dụ này, "Về Hoàng quý phi trở lên, đã có lệ sẵn, còn từ phi tần trở xuống, thì chia làm các bậc với các danh xưng và mỹ từ như sau":

  • Thuận phi (順妃), Thiện phi (善妃), Nhã phi (雅妃) làm bậc nhất hay Nhất giai phi (一階妃).
  • Cung phi (恭妃), Cần phi (勤妃), Chiêu phi (昭妃) làm bậc nhì hay Nhị giai phi (二階妃).
  • Khiêm tần (謙嬪), Thận tần (慎嬪), Nhân tần (仁嬪), Thái tần (泰嬪) làm bậc ba hay Tam giai tần (三階嬪).
  • Khoan tần (寬嬪), Giai tần (佳嬪), Tuệ tần (慧嬪), Giản tần (簡嬪) làm bậc bốn hay Tứ giai tần (四階嬪).
  • Tĩnh tần (靜嬪), Cẩn tần (勤嬪), Tín tần (信嬪), Uyển tần (婉嬪) làm bậc năm hay Ngũ giai tần (五階嬪).
  • Tiệp dư (婕妤) làm bậc sáu hay Lục giai Tiệp dư (六階婕妤).
  • Quý nhân (貴人) làm bậc bảy hay Thất giai Quý nhân (七階貴人).
  • Mỹ nhân (美人) làm bậc tám hay Bát giai Mỹ nhân (八階美人).
  • Tài nhân (才人) làm bậc chín hay Cửu giai Tài nhân (九階才人).
  • Tài nhân vị nhập giai (才人未入階), còn gọi là Tài nhân vị nhập lưu (才人未入流).
  • Cung nga (宮娥), Thể nữ (婇女), gọi chung là Cung nhân (宮人).

Riêng hàng phi trong chín bậc ấy, đến tháng 12 năm Tự Đức thứ 14 (1862), Cần phi được đổi thành Đôn phi (敦妃), và sau đó một tháng, Chiêu phi được đổi thành Mẫn phi (敏妃). Đến năm Tự Đức thứ 23 (1870), Lượng tần (諒嬪) Nguyễn Văn thị được tấn phong làm Khiêm phi (謙妃), sau đổi làm Học phi (學妃).

Hai ba vo cua vua Thanh Thai.jpg

Tháng 8 năm Đồng Khánh nguyên niên (1885), Cảnh Tông ban dụ: "Căn cứ theo tấu trình của Cơ Mật viện và Lễ bộ nói rằng nội chức cũng cần có người, nên xin xem xét ban phong để sáng tỏ quốc điển, vì vậy đành phải chuẩn y cho phép thi hành. Nay xét những cung tần gồm năm người hầu hạ trong cung đã lâu ngày, nghiêm chỉnh tuân thủ phép tắc, truyền chuẩn y tấn phong cho Trần Đăng thị làm Quán phi (觀妃), Phan Văn thị làm Giai phi (佳妃), Hồ Văn thị làm Chính tần (正嬪), Nguyễn Văn thị làm Nghi tần (宜嬪), Trần Văn thị làm Dự tần (豫嬪)".

Để quản lý sự vụ trong nội cung, triều đình đặt ra Lục thượng (六尚), do các nữ quan đảm nhận:

  • Thượng nghi (尚儀) coi việc lễ nghi, lấy Chưởng nghi (掌儀), Chưởng lễ (掌禮) làm bậc thủ đẳng, Tư hương (司香), Tư chương (司章) làm bậc thứ đẳng, Điển sự (典事) làm bậc trung đẳng.
  • Thượng diên (尚筵) coi việc ẩm thực, lấy Chưởng diên (掌筵), Chưởng yến (掌宴) làm bậc thủ đẳng, Tư trà (司茶), Tư thiện (司膳) làm bậc thứ đẳng, Điển soạn (典饌), Điển giai (典亥) làm bậc trung đẳng.
  • Thượng trân (尚珍) coi giữ trân bảo, lấy Chưởng châu (掌珠), Chưởng ngọc (掌玉) làm bậc thủ đẳng, Tư kim (司金), Tư ngân (司銀) làm bậc thứ đẳng, Điển hoàn (典完), Điển mãn (典滿) làm bậc trung đẳng.
  • Thượng y (尚衣) coi việc phục sức, lấy Chưởng bào (掌袍), Chưởng cừu (掌裘) làm bậc thủ đẳng, Tư y (司衣), Tư phi (司紕) làm bậc thứ đẳng, Điển nhu (典襦), Điển chẩn (典袗) làm bậc trung đẳng.
  • Thượng phục (尚服) coi việc màn trướng, lấy Chưởng duy (掌帷), Chưởng vi (掌闈) làm bậc thủ đẳng, Chưởng thường (掌裳), Chưởng đới (掌帶) làm bậc thứ đẳng, Điển cân (典巾), Điển nhục (典褥) làm bậc trung đẳng.
  • Thượng thảng (尚帑) coi giữ nội khố, lấy Chưởng trân (掌珍), Chưởng ngoạn (掌玩) làm bậc thủ đẳng, Tư thảng (司帑), Tư khí (司器) làm bậc thứ đẳng, Điển cẩm (典錦), Điển thái (典采) làm bậc trung đẳng.

Trong mỗi ty, trông nom sự vụ là hai nữ quan thủ đẳng, cất đặt là hai nữ quan thứ đẳng và thừa hành hai nữ quan trung đẳng. Nữ quan cũng được chia thành sáu bậc là Quản sự (管事), Thống sự (統事), Thừa sự (承事), Tùy sự (隨事), Tòng sự (從事) và Trưởng ban (長班). Trong đó Hoàng quý phi, thường giữ chức Quản sự, thâu tóm công việc trong Lục thượng.

Quy chế nội cung nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cung Khôn Thái nguyên lúc quốc sơ đời Gia Long gọi là cung Khôn Đức, là tẩm cung của Hoàng hậu, đến những năm Minh Mạng nhân định lại thứ bậc của nội cung mới đổi tên làm Khôn Thái, trở thành tẩm cung của Hoàng quý phi. Các cung thất trong sáu viện lấy điện Trinh Minh làm nơi ở của bậc các nhất-nhị giai, viện Thuận Huy làm nơi ở của các bậc tam-tứ-ngũ giai, viện Đoan Huy làm nơi ở của bậc lục giai. Từ bậc thất giai trở xuống đến hàng vị nhập giai phân chia các viện Đoan Thuận, Đoan Hòa, Đoan Trang và Đoan Trường.
  • Để tuyển phi tần, triều đình thường chọn con gái của quan đại thần, con gái các quan phẩm hàm cao được tuyển vào cấp bậc cao, phẩm hàm thấp thì cấp bậc thấp. Con nhà thường dân được tuyển vào cung là những trường hợp đặc biệt, phải đẹp và khi mới tuyển thì chưa được xếp vào cửu giai mà chỉ được xếp vào hạng Tài nhân vị nhập lưu.
  • Theo lệ trong cung đình nhà Nguyễn, phi tần từ Tiệp dư trở lên được gọi bằng , từ Quý nhân trở xuống được gọi bằng chị.

Một số phi tần nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Trần[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huệ Túc Phu nhân họ Hoàng: Huệ Túc Phu nhân của Thái Tông, con gái của di thần nhà Tống là Hoàng Bính, người mở đầu cho thuật tử vi phát triển Việt Nam.
  • Tuyên Từ Hoàng hậu họ Trần: phi tần của Nhân Tông, do có ơn dưỡng dục nên Anh Tông tôn làm Tuyên Từ Hoàng thái hậu.
  • Chiêu Từ Hoàng hậu họ Trần: Huy Tư Hoàng phi của Anh Tông, con gái của Trần Bình Trọng, truy tôn Chiêu Từ Hoàng thái hậu dưới triều con trai là Minh Tông.
  • Minh Từ Hoàng thái phi họ Lê: Anh Tư Nguyên phi của Minh Tông, em gái cùng mẹ Lệ Thánh Hoàng hậu, mẹ sinh Hiến TôngNghệ Tông, cô trong họ của Hồ Quý Ly.
  • Đôn Từ Hoàng thái phi họ Lê: Sung viên của Minh Tông, em gái cùng cha Minh Từ, mẹ sinh Duệ Tông.
  • Nguyễn Thị Bích Châu: phi tần của Duệ Tông, truy tặng Thần phi do tuẫn tiết tế thần biển.

Nhà Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]