Phi tần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hanxizaiyeyantu3.jpg

Phi tần (chữ Hán: 妃嬪) là cách gọi chung cho những người vợ lẽ, trắc thất, hầu thiếp của Hoàng đế hoặc Quốc vương, thuộc hậu cung của Hoàng đế hoặc Quốc vương đó. Thứ bậc, danh phận của các phi tần xếp sau Hoàng hậu (vợ chính của Hoàng đế) hay Vương hậu (vợ chính của Quốc vương), họ cũng chịu trách nhiệm quản lý, giám sát và đảm nhiệm một phần các công việc nội cung.

Phi tần trong xã hội phong kiến là một tập đoàn người đặc biệt, có mối quan hệ gần gũi với nhà vua, giữ vai trò là cầu nối giữa nhà vua các thế lực quan lại nơi triều đình, ảnh hưởng lớn đến cục diện chính trị. Các phi tần trong xã hội phong kiến phương Đông có nhiều thứ bậc, danh phận khác nhau, các thứ bậc, danh phận này cũng khác nhau ở từng quốc gia và từng triều đại.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ - Thương - Chu[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thượng cổ Tam Hoàng Ngũ Đế đến nhà Hạ, chúa tể cai trị thiên hạ gọi là Thiên tử (天子), sinh thời gọi là Hậu (), khi mất thì triều thần cùng chư hầu mới tôn thụy hiệu là Đế (), vợ chính của Thiên tử gọi là Phi (). Đến đời Ân Thương, Thiên tử đổi gọi là Vương (), vợ chính gọi là Hậu ().

Trong Lễ ký ghi lại chế độ nội cung nhà Chu: "Cổ giả Thiên tử Hậu lập lục cung, tam Phu nhân, cửu Tần, nhị thập thất Thế phụ, bát thập nhất Ngự thê".

  • Hậu (), chính vị chốn cung đình, sánh đôi cùng Thiên tử.
  • Phu nhân (夫人), ba người, luận bàn lễ độ của bậc hiền phụ.
  • Tần (), chín người, quản dạy bốn mỹ đức công, dung, ngôn, hạnh.
  • Thế phụ (世婦), hai mươi bảy người, coi việc lễ tân.
  • Ngự thê (御妻), tám mươi mốt người, coi việc yến tẩm.

Đây là những ghi chép văn tự sớm nhất trong lịch sử phong kiến Trung Hoa về chế độ hậu phi.

Tây Hán - Đông Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Refusing the Seat - Anonymous painter during the Song dynasty.jpg

Trong Hán thư - Ngoại thích truyện ghi lại chế độ hậu phi nội cung triều đại Tây Hán, ban đầu sắp xếp thứ bậc, danh phận theo cách gọi của nhà Tần, mẹ Hoàng đế gọi là Hoàng thái hậu (皇太后), bà nội gọi là Thái hoàng thái hậu (太皇太后), vợ chính gọi là Hoàng hậu (皇后), hầu thiếp có các bậc Phu nhân, lại gọi là Mỹ nhân, Lương nhân, Bát tử, Thất tử, Trưởng sử, Thiếu sử, thứ bậc danh phận cao thấp khác nhau. Sang đến đời Vũ Đế mới đặt thêm các danh hiệu Tiệp dư, Nghinh nga, Dung hoa, Sung y, đều có tước vị, đời Nguyên Đế lại thêm bậc Chiêu nghi, tất cả gồm mười chín chức danh, chia thành mười bốn bậc:

  • Chiêu nghi (昭儀), thứ bậc sánh cùng Thừa tướng (丞相), bổng lộc sánh ngang tước Vương của chư hầu (诸侯王).
  • Tiệp dư (婕妤), thứ bậc sánh cùng Thượng khanh (上卿), bổng lộc sánh ngang Liệt hầu (列侯).
  • Nghinh nga (娙娥).
  • Dung hoa (傛華), thứ bậc sánh cùng Đại thượng tạo (大上造).
  • Mỹ nhân (美人), thứ bậc sánh cùng Thiếu thượng tạo (少上造).
  • Bát tử (八子).
  • Sung y (充依).
  • Thất tử (七子).
  • Lương nhân (良人).
  • Trưởng sử (長使).
  • Thiếu sử (少使).
  • Ngũ quan (五官).
  • Thuận thường (順常).
  • Vô quyên (無涓), Cộng hòa (共和), Ngu linh (娛靈), Bảo lâm (保林), Lương sử (良使), Dạ giả (夜者), gọi chung là Cung nhân (宮人).

Dưới bậc Cung nhân là các hầu bộc, gọi chung là Gia nhân tử (家人子).

Vợ chính của Hoàng thái tử nhà Tây Hán gọi là Hoàng thái tử phi (皇太子妃), hầu thiếp có các bậc Lương đệ (良娣), Nhụ tử (孺子), đều có tước vị.

Triều đại Đông Hán, Quang Vũ Đế giản lược thứ bậc, danh phận trong nội cung, dưới Hoàng hậu là các phi tần, chia làm bốn bậc Quý nhân (貴人), Mỹ nhân (美人), Cung nhân (宮人), Thái nữ (采女).

Admonitions Scroll Scene 12.jpg

Quy định đương thời, hàng năm đều tuyển chọn phi tần nhập cung, theo Hán nghi chú ghi lại: "Vào tháng tám âm lịch hàng năm, triều đình cử người tinh thông tướng số tới các miền quê xung quanh kinh đô Lạc Dương tuyển chọn đồng nữ, tuổi từ mười ba tới hai mươi, nét mày thanh tú, cử chỉ đoan trang, tướng mạo cát lợi". Hoàn Đế, Linh Đế hoang dâm, số lượng phi tần chốn nội cung lên tới hai vạn người.

Tào Ngụy - Tây Tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngụy Văn Đế bức Hán Hiến Đế nhường ngôi. Chế độ hậu phi chốn nội cung sắp xếp thứ bậc, danh phận theo cách gọi của các hầu thiếp từ đời Ngụy Vương Tào Tháo:

  • Quý tần (貴嬪).
  • Phu nhân (夫人).
  • Thục phi (淑妃), thứ bậc sánh cùng Tướng quốc (相國), bổng lộc sánh ngang tước Vương của chư hầu (诸侯王).
  • Thục viên (淑媛), thứ bậc sánh cùng Ngự sử đại phu (御史大夫), bổng lộc sánh ngang Huyện công (縣公).
  • Chiêu nghi (昭儀), bổng lộc sánh ngang Huyện hầu (縣侯).
  • Chiêu hoa (昭華), bổng lộc sánh ngang Hương hầu (鄉侯).
  • Tu dung (修容), bổng lộc sánh ngang Đình hầu (亭侯).
  • Tu nghi (修儀), bổng lộc sánh ngang Quan nội hầu (關內侯).
  • Tiệp dư (婕妤).
  • Dung hoa (容華).
  • Mỹ nhân (美人).
  • Lương nhân (良人).
  • Ta nhân (鹾人).
Admonitions Scroll Scene 9.jpg

Tấn Vũ Đế, Hoàng đế khai quốc nhà Tây Tấn, dựa theo cổ lễ từ đời Cơ Chu mà sắp đặt lại các danh phận hậu phi của tiền triều Tào Ngụy, lấy Quý tần (貴嬪), Phu nhân (夫人), Quý nhân (貴人) làm Phu nhân, lấy Thục phi (淑妃), Thục viên (淑媛), Thục nghi (淑儀), Tu hoa (修華), Tu dung (修容), Tu nghi (修儀), Tiệp dư (婕妤), Dung hoa (容華), Sung hoa (充華) làm Cửu tần.

Bắc Tề[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ phi tần chốn nội cung triều đại Bắc Tề thời Nam Bắc triều với hệ thống tước vị phức tạp bậc nhất trong suốt hàng ngàn năm xã hội phong kiến phương Đông:

  • Thục phi (淑妃), thứ bậc sánh cùng với Tướng quốc.
  • Tả Nga anh (左娥英), Hữu Nga anh (右娥英), thứ bậc sánh cùng với Thừa tướng.
  • Tả Chiêu nghi (左昭儀), Hữu Chiêu nghi (右昭儀), thứ bậc sánh cùng với Đại phu.
  • Phu nhân (夫人): Hoằng đức (弘德), Chính đức (正德), Sùng đức (崇德), thứ bậc sánh cùng với Tam công.
  • Tần (), chín người:
    • Quang du (光猷), Chiêu huấn (昭训), Long huy (隆徽), thứ bậc sánh cùng với Tam khanh.
    • Tuyên huy (宣徽), Ngưng huy (凝暉), Tuyên minh (宣明), Thuận hoa (顺華), Ngưng hoa (凝華), Quang huấn (光训), thứ bậc sánh cùng với Lục khanh.
  • Thế phụ (世妇), hai mươi bảy người: Quảng huấn (廣訓), Tu huấn (修訓), Tĩnh huấn (靜訓), Kính huấn (敬訓), Kính uyển (敬婉), Kính tín (敬信), Chiêu ninh (昭寧), Chiêu hoa (昭華), Uyển hoa (婉華), Phương hoa (芳華), Phương du (芳猷), Chính hoa (正華), Quang chính (光正), Mậu quang (茂光), Minh phạm (明范), Minh tín (明信), Minh thục (明淑), Hoằng du (弘猷), Hoằng huy (弘徽), Lệnh tắc (令則), Huy tắc (暉則), Huy phạm (暉范), Trinh phạm (貞范), Diễm nghi (艷儀), Diệu nghi (曜儀), Diệu đức (曜德), Hòa đức (和德), hàm tòng tam phẩm.
  • Ngự nữ (御女), tám mươi mốt người, hàm chính tứ phẩm.
  • Tài nhân (才人), nhân số không hạn định.
  • Thái nữ (采女), nhân số không hạn định số.

Tùy[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Tùy thư, Văn Đế khai quốc, do người vợ nguyên phối là Độc Cô Hoàng hậu có tính ghen tuông, khiến Văn Đế không tiện sủng hạnh phi tần, chỉ theo điển lệ cũ từ đời Tần - Hán mà đặt ra các chức nữ quan Lục thượng (六尚), Lục tư (六司), Lục điển (六典), coi giữ nội cung điển nghi:

  • Tần (), ba người, quản dạy bốn mỹ đức công, dung, ngôn, hạnh, hàm chính tam phẩm.
  • Thế phụ (世婦), chín người, coi việc lễ tân, hàm chính ngũ phẩm.
  • Ngự nữ (御女), ba mươi tám người, coi việc nữ công, hàm chính thất phẩm.

Đến năm 602, khi Văn Hiến Hoàng hậu qua đời, Văn Đế mới định lệ chế độ phi tần chốn nội cung:

  • Quý nhân (貴人), ba người.
  • Tần (), chín người.
  • Thế phụ (世婦), hai mươi bảy người.
  • Ngự nữ (御女), tám mươi mốt người.

Cuối đời Văn Đế sa đà vào mỹ sắc, tấn phong sủng phi Trần Quý nhân làm Tuyên Hoa Phu nhân (宣華夫人), Sái Quý nhân làm Dung Hoa Phu nhân (容華夫人).

Dạng Đế hoang dâm, đổi gọi danh phận cho phi tần, trở thành khuôn thước cho nội cung của các bậc đế vương sau này:

  • Quý phi (貴妃), Thục phi (淑妃), Đức phi (德妃), gọi chung là Phu nhân (夫人), hàm chính nhất phẩm.
  • Thuận nghi (顺儀), Thuận dung (顺容), Thuận hoa (顺華), Tu nghi (修儀), Tu dung (修容), Tu hoa (修華), Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung hoa (充華), gọi chung là Cửu tần (九嫔), hàm chính nhị phẩm.
  • Tiệp dư (婕妤), mười người, hàm chính tam phẩm.
  • Mỹ nhân (美人), Tài nhân (才人), mười lăm người, gọi chung là Thế phụ (世婦), hàm chính tứ phẩm.
  • Bảo lâm (寶林), hai mươi tư người, hàm chính ngũ phẩm.
  • Ngự nữ (御女), hai mươi tư người, hàm chính lục phẩm.
  • Thái nữ (采女), ba mươi bảy người, hàm chính thất phẩm.

Dưới nữa là bậc Thừa y (承衣), Đao nhân (刀人), nhân số không hạn định.

Đường[sửa | sửa mã nguồn]

揮扇仕女圖(局部).jpg

Trong Đường thư ghi lại, Cao Tổ khai quốc, chế độ phi tần nội cung nhà Đường ban đầu giữ theo lệ phép cũ đã có từ tiền triều nhà Tùy, sau lại theo cổ lễ từ đời Cơ Chu mà sắp đặt lại. Danh phận của các phi tần dưới Hoàng hậu, dựa theo quan lại trên triều đình mà phân biệt thứ bậc từ nhất phẩm đến cửu phẩm:

  • Quý phi (貴妃), Thục phi (淑妃), Đức phi (德妃), Hiền phi (賢妃), gọi chung là Phu nhân (夫人), hàm chính nhất phẩm.
  • Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Chiêu viên (昭媛), Tu nghi (修儀) Tu dung (修容), Tu viên (修媛), Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung viên (充媛), gọi chung là Cửu tần (九嫔), hàm chính nhị phẩm.
  • Thế phụ (世婦), hai mươi bảy người:
    • Tiệp dư (婕妤), chín người, hàm chính tam phẩm.
    • Mỹ nhân (美人), chín người, hàm chính tứ phẩm.
    • Tài nhân (才人), chín người, hàm chính ngũ phẩm.
  • Ngự thê (御妻), tám mươi mốt người:
    • Bảo lâm (寶林), hai mươi bảy người, hàm chính lục phẩm.
    • Ngự nữ (御女), hai mươi bảy người, hàm chính thất phẩm.
    • Thái nữ (采女), hai mươi bảy người, hàm chính bát phẩm.

Cao Tông niên hiệu Long Sóc ban chiếu chỉ thay đổi danh hiệu cho các phi tần:

  • Tán đức (贊德), hai người, thứ bậc sánh cùng Phu nhân.
  • Tuyên nghi (宣儀), bốn người, thứ bậc sánh cùng Tần.
  • Thừa khuê (承閨), năm người, thứ bậc sánh cùng Mỹ nhân.
  • Thừa chỉ (承旨), năm người, thứ bậc sánh cùng Tài nhân.
  • Vệ tiên (衛仙), sáu người, thứ bậc sánh cùng Bảo lâm.
  • Cung phụng (供奉), tám người, thứ bậc sánh cùng Ngự nữ.
  • Thị trất (侍櫛), hai mươi người, thứ bậc sánh cùng Thái nữ.
  • Thị cân (侍巾), hai mươi người, hàm chính cửu phẩm.

Các danh hiệu này ban hành hai năm thì phế bỏ.

Zhou Fang. Court Ladies Wearing Flowered Headdresses. (46x180) Liaoning Provincial Museum, Shenyang..jpg

Huyền Tông năm Khai Nguyên thứ mười hai (724), Hoàng đế lại ban chỉ dụ, đổi gọi danh phận cho nội cung tần phi:

  • Huệ phi (惠妃), Lệ phi (麗妃), Hoa phi (華妃), luận bàn lễ độ của bậc hiền phụ, hàm chính nhất phẩm.
  • Quý tần (貴嬪), hàm tòng nhất phẩm.
  • Thục nghi (淑儀), Đức nghi (德儀), Hiền nghi (賢儀), Thuận nghi (順儀), Uyển nghi (婉儀), Phương nghi (芳儀), quản dạy bốn mỹ đức công, dung, ngôn, hạnh, hàm chính nhị phẩm.
  • Mỹ nhân (美人), bốn người, coi việc lễ tân, hàm chính tam phẩm.
  • Tài nhân (才人), bảy người, coi việc yến tẩm, hàm chính tứ phẩm.
  • Thượng cung (尚宮), Thượng nghi (尚儀), Thượng phục (尚服), mỗi tước vị hai người, hàm chính ngũ phẩm.
  • Tư quan (司官), Điển quan (典官), theo lệ phép cũ mà sắp xếp, bố trí thứ bậc từ lục phẩm tới cửu phẩm.

Huyền Tông năm Thiên Bảo thứ tư (745), Hoàng đế khôi phục tước vị Quý phi (貴妃), đứng đầu nội cung tần phi, phong Dương Thái Chân làm Quý phi. Từ đời Túc Tông, Hoàng đế khôi phục chế độ nội cung thời Cao Tổ khai quốc. Giai đoạn cuối triều đại nhà Đường, nội cung tần phi mang các tước vị của ngoại mệnh phụ như Quốc phu nhân (國夫人), Quận phu nhân (郡夫人), thứ bậc Quận phu nhân kế dưới Tài nhân. Đức Tông năm Trinh Nguyên thứ bảy (791) xuống dụ, sau khi Tiên đế băng hà, sinh mẫu của Hoàng tử gọi là Thái phi (太妃), sinh mẫu của Công chúa gọi là Thái nghi (太儀).

Vợ chính Hoàng thái tử nhà Đường gọi là Hoàng thái tử phi (皇太子妃), hầu thiếp có các danh phận:

  • Lương đệ (良娣), hai người, hàm chính tam phẩm.
  • Lương viên (良媛), sáu người, hàm chính ngũ phẩm.
  • Thừa huy (承徽), mười người, hàm chính lục phẩm.
  • Chiêu huấn (昭訓), mười sáu người, hàm chính thất phẩm.
  • Phụng nghi (奉儀), hai mươi tư người, hàm chính cửu phẩm.

Hoàng tử nhà Đường nhận phong tước Vương của chư hầu (诸侯王), vợ chính gọi là Vương phi (王妃), nàng hầu, vợ lẽ cũng được sắc phong ngoại mệnh phụ, như các bà Chiêu Thành Hoàng hậu, Trang Hiến Hoàng hậu khi còn là hầu lẽ của Hoàng tử đều phong làm Nhụ nhân (孺人).

Tống - Kim[sửa | sửa mã nguồn]

Empress of Renzong of Song.jpg

Chế độ nội cung nhà Tống ban đầu sắp xếp thứ bậc, danh phận theo cách gọi của nhà Đường. Các triều vua Chân Tông, Nhân Tông đều định thêm tước vị mới:

  • Quý phi (貴妃), Thục phi (淑妃), Đức phi (德妃), Hiền phi (賢妃), hàm chính nhất phẩm.
  • Thái nghi (太儀), Quý nghi (貴儀), Thục nghi (淑儀), Thục dung (淑容), Thuận nghi (顺儀), Thuận dung (顺容), Uyển nghi (婉儀), Uyển dung (婉容), Chân Tông năm Đại Trung Tường Phù thứ sáu định lệ, hàm tòng nhất phẩm, thời Nhân Tông truất xuống hàm chính nhị phẩm.
  • Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Chiêu viên (昭媛), Tu nghi (修儀) Tu dung (修容), Tu viên (修媛), Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung viên (充媛), hàm chính nhị phẩm.
  • Tiệp dư (婕妤), chín người, hàm chính tam phẩm.
  • Mỹ nhân (美人), chín người, hàm chính tứ phẩm.
  • Tài nhân (才人), chín người, hàm chính ngũ phẩm.
  • Quý nhân (貴人), Chân Tông định lệ, không phẩm hàm, Thần Tông thăng đến hàm chính ngũ phẩm.

Dưới hàng phi tần là các cung quan được sủng hạnh, có Thị ngự (侍御), Tử hà bí (紫霞帔), Hồng hà bí (紅霞帔), Thính tuyên (聽宣), Thính trực (聽直), Thư trực (書直), lại phong thêm các tước hiệu của ngoại mệnh phụ như Huyện quân (县君), Quận quân (郡君), Quận phu nhân (郡夫人), Quốc phu nhân (國夫人).

Năm Minh Đạo thứ nhất (1032), Chương Hiến Lưu Thái hậu sắc phong Lý Thuận dung, sinh mẫu của Nhân Tông làm Thần phi (宸妃), đứng đầu các bậc phi tần. Lý Thần phiThần phi duy nhất của triều đại nhà Tống. Đời Huy Tông, Hoàng đế phong sủng phi họ Lưu lên hàng Thục phi, lại xưng là An phi (安妃).

Chế độ nội cung nhà Kim ban đầu cũng sắp xếp thứ bậc, danh phận theo cách gọi của nhà Đường. Tuyên Tông niên hiệu Trinh Hựu định lệ chế độ phi tần:

  • Nguyên phi (元妃), Quý phi (貴妃), Chân phi (真妃), Thục phi (淑妃), Lệ phi (麗妃), Nhu phi (柔妃).
  • Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Chiêu viên (昭媛), Tu nghi (修儀) Tu dung (修容), Tu viên (修媛), Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung viên (充媛).
  • Tiệp dư (婕妤).
  • Lệ nhân (麗人), Tài nhân (才人).
  • Thuận nghi (顺儀), Thục hoa (淑華), Thục nghi (淑儀).

Hải Lăng Vương định lệ mười hai tước vị phi tử, gọi là Nguyên phi (元妃), Xu phi (姝妃), Huệ phi (惠妃), Quý phi (貴妃), Hiền phi (賢妃), Thần phi (宸妃), Lệ phi (麗妃), Thục phi (淑妃), Đức phi (德妃), Chiêu phi (昭妃), Ôn phi (溫妃), Nhu phi (柔妃), thứ bậc danh phận cao thấp khác nhau.

Minh[sửa | sửa mã nguồn]

明憲宗行樂圖(局部)5.jpg

Thái Tổ năm Hồng Vũ thứ năm định lệ chế độ hậu phi nhà Minh. Bậc phi trừ Quý phi kế dưới Hoàng hậu có danh phận cao nhất, còn có các tước vị Hiền phi (賢妃)," Thần phi " Thục phi (淑妃), Trang phi (莊妃), Kính phi (敬妃), Huệ phi (惠妃), Thuận phi (顺妃), Khang phi (康妃), Ninh phi (寧妃) lấy các mỹ từ "Hiền", "Thục", "Trang", "Kính"... làm huy hiệu mà phân biệt tôn ty. Dưới hậu phi là các hạng tần ngự, có Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Tiệp dư (婕妤), Quý nhân (貴人), Mỹ nhân (美人).

Thế Tông năm Gia Tĩnh thứ mười (1531) dựa theo cổ lễ lập thêm Cửu tần gồm Đức tần (德嫔), Hiền tần (賢嬪), Trang tần (莊嫔), Lệ tần (麗嬪), Huệ tần (惠嬪), An tần (安嫔), Hòa tần (和嬪), Hy tần (僖嬪), Khang tần (康嬪), tước vị dưới phi. Đại Tông năm 1457 phong sủng phi họ Đường làm Hoàng quý phi, sau khi Anh Tông phục vị, danh phận của Đường thị bị phế bỏ. Đến đời Hiến Tông lại ban cho Vạn Quý phi tôn hiệu "Hoàng" (), gọi là Hoàng quý phi (皇贵妃). Từ đó danh hiệu Hoàng quý phi được các Hoàng đế hai triều Minh - Thanh sử dụng, là danh phận tôn quý nhất của nội cung tần phi.

Vợ chính của Hoàng thái tử nhà Minh gọi là Hoàng thái tử phi (皇太子妃), hầu thiếp có các hạng Tài nhân (才人), Tuyển thị (選侍), Thục nữ (淑女).

Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

令妃.jpg

Lúc quốc sơ, nhà Thanh chưa định chế độ hậu phi. Theo lệ phép cũ từ đời Hậu Kim, hậu phi xưng hiệu Phúc tấn (福晋) và Cách cách (格格), vợ chính gọi là Đại phúc tấn (大福晉). Hoàng Thái Cực năm Sùng Đức thứ nhất lập Đại phúc tấn Triết Triết làm Thanh Ninh cung Hoàng hậu (清寧宮 皇后), sắc phong bốn vị Trắc phúc tấn theo thứ tự làm Quan Thư cung Thần phi (關雎宮 宸妃) Hải Lan Châu, Lân Chỉ cung Quý phi (麟趾宮 貴妃), Diễn Khánh cung Thục phi (衍庆宮 淑妃), Vĩnh Phúc cung Trang phi (永福宮 莊妃) Bố Mộc Bố Thái, Thanh sử gọi là Sùng Đức ngũ cung (崇德五宮).

Tới năm Thuận Trị thứ mười lăm, theo kiến nghị của lễ quan, chế độ hậu phi nhà Thanh mới được định lệ:

  • Càn Thanh cung (乾清宮):
    • Phu nhân (夫人), một người.
    • Thục nghi (淑儀), một người.
    • Uyển thị (婉侍), sáu người.
    • Nhu uyển (柔婉), Phương uyển (芳婉), ba mươi người.
  • Từ Ninh cung (慈寧宮):
    • Trinh dung (貞容), một người.
    • Thận dung (慎容), hai người.
    • Cần thị (勤侍), không hạn định nhân số.

Theo Thanh sử cảo, từ sau đời Khang Hy chế độ hậu phi mới đầy đủ. Hoàng hậu là vợ chính, danh phận chính thống nội đình, dưới Hoàng hậu phân biệt tám thứ bậc phi tần:

  • Hoàng quý phi (皇貴妃), một người, hàm chính nhất phẩm.
  • Quý phi (貴妃), hai người, hàm chính nhị phẩm.
  • Phi (), bốn người, hàm chính tam phẩm.
  • Tần (), sáu người, hàm chính tứ phẩm.
  • Quý nhân (貴人), nhân số không hạn định, hàm chính ngũ phẩm.
  • Thường tại (常在), nhân số không hạn định, hàm chính lục phẩm.
  • Đáp ứng (答應), nhân số không hạn định, hàm chính thất phẩm.
  • Quan nữ tử (官女子), nhân số không hạn định, không phẩm hàm.

Danh phận Hoàng quý phi đến Tần kính xưng là nương nương, được ban quyền làm chủ một cung trong nội đình. Còn từ Quý nhân đến Đáp ứng chỉ gọi là tiểu chủ, riêng Quan nữ tử danh phận không khác cung nữ, là những cung nữ được Hoàng đế sủng hạnh. Phi tần được tuyển chọn từ những Tú nữ (秀女) tham gia tuyển tú hoặc truyền gọi trực tiếp từ các gia tộc quan lại có công. Tú nữ nhập cung được phong tần phi, ban hôn cho các thành viên hoàng thất hoặc giữ lại nội đình làm nữ quan. Thứ bậc, danh phận giữa các phi tần còn được phân định một cách không chính thức theo ân sủng của Hoàng đế, mỹ hiệu được phong tặng cũng như xuất thân, theo thứ tự là Mãn quân kỳ, Mông quân kỳ và Hán quân kỳ. Chế độ nội cung quy định trước đại hôn của Hoàng đế, tuyển chọn tám cung nữ lớn tuổi tham dạy các bí thuật phòng the, các cung nữ này đều được ban danh phận như Tư trướng (司账), Tư tẩm (司寝), Tư nghi (司儀), Tư môn (司門).

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Nội mệnh phụ nhà Triều Tiên bao gồm Vương phi (왕비) và Hậu cung (후궁), có nhiệm vụ hầu hạ Quốc vương. Thứ tự trong nội mệnh phụ từ chính nhất phẩm đến tòng cửu phẩm chia ra hai nhánh chính là Nội quan (내관) và Cung quan (궁관). Các nội quan là thành viên của vương thất:

  • Tần (), hàm chính nhất phẩm.
  • Quý nhân (귀인), hàm tòng nhất phẩm.
  • Chiêu nghi (소의), hàm chính nhị phẩm.
  • Thục nghi (숙의), hàm tòng nhị phẩm.
  • Chiêu dung (소용), hàm chính tam phẩm.
  • Thục dung (숙용), hàm tòng tam phẩm.
  • Chiêu viên (소원), hàm chính tứ phẩm.
  • Thục viên (숙원), hàm tòng tứ phẩm.

Nội quan thuộc hàng Tần được ban một mỹ hiệu khi sắc phong, như Hy tần (희빈), Thục tần (숙빈), Tĩnh tần (정빈), Ánh tần (영빈). Từ Quý nhân đến Thục viên lấy họ mà phân biệt với những nội quan cùng danh phận. Nội quan của nội mệnh phụ có thể được sắc phong Vương phi, vợ chính của nhà vua, kính xưng là Trung điện (중전). Sau án Hy tần họ Trương dùng thuật phù thủy mưu hại Nhân Hiển Vương hậu nhằm tiếm đoạt ngôi Trung điện, Túc Tông ban dụ cấm các hậu cung trở thành Vương phi. Dưới nội quan còn có cung quan từ chính ngũ phẩm đến tòng cửu phẩm. Dưới thời bạo chúa Yên Sơn Quân, nhà vua hoang dâm vô độ, tổ chức tuyển chọn mỹ nữ trên cả nước sung vào nội mệnh phụ, lại đặt thêm nhiều danh hiệu cho các hậu cung như Thục hoa (숙화), Lệ viên (여원), Nhàn nga (한아). Trung Tông phản chính, các danh hiệu trên đều bị phế bỏ.

Cung quan là các Thượng cung (상궁) và Cung nữ (궁녀), không được coi là thành viên của vương thất:

  • Thượng cung (상궁), Thượng nghi (상의), hàm chính ngũ phẩm.
  • Thượng phục (상복), Thượng thực (상식), hàm tòng ngũ phẩm.
  • Thượng tẩm (상침), Thượng công (상공), hàm chính lục phẩm.
  • Thượng chính (상정), Thượng ký (상기), hàm tòng lục phẩm.
  • Điển tân (전빈), Điển y (전의), Điển thiện (전선), hàm chính thất phẩm.
  • Điển thiết (전설), Điển chế (전제), Điển ngôn (전언), hàm tòng thất phẩm.
  • Điển tán (전찬), Điển sức (전식), Điển dược (전약), hàm chính bát phẩm.
  • Điển đăng (전등), Điển thái (전채), Điển chính (전정), hàm tòng bát phẩm.
  • Tấu cung (주궁), Tấu thương (주상), Tấu giác (주각), hàm chính cửu phẩm.
  • Tấu biến trưng (주변치), Tấu trưng (주치), Tấu vũ (주우), Tấu biến cung (주변궁), hàm tòng cửu phẩm.

Cung quan được nhà vua sủng hạnh có thể tiến phong nội quan hoặc Thừa ân Thượng cung (승은상궁), là danh hiệu đứng đầu các bậc Thượng cung.

Nhà Triều Tiên giai đoạn cáo chung, trước sự xâm lăng của Nhật Bản cũng như thoát ly ảnh hưởng nhà Thanh, vua Cao Tông xưng đế, vương thất nước Triều Tiên trở thành hoàng thất của Đại Hàn đế quốc, nội mệnh phụ của nhà vua cũng có những sự thay đổi. Như việc Cao Tông truy tặng người vợ nguyên phối Mẫn thị làm Minh Thành Hoàng hậu, bà là Hoàng hậu (황후) đầu tiên của đất nước Hàn Quốc.

Nội mệnh phụ hầu hạ Vương thế tử ở Đông cung cũng phân biệt phẩm hàm:

  • Vương thế tử tần (왕세자빈), vợ chính của Vương thế tử, kính xưng là Tần cung (빈궁).
  • Nội quan:
    • Lương đệ (양제), hàm tòng nhị phẩm.
    • Lương viên (양원), hàm tòng tam phẩm.
    • Thừa huy (승휘), hàm tòng tứ phẩm.
    • Chiêu huấn (소훈), hàm tòng ngũ phẩm.
  • Cung quan:
    • Thủ khuê (수규), Thủ tắc (수칙), hàm tòng lục phẩm.
    • Chưởng soạn (장찬], Chưởng chính (장정), hàm tòng thất phẩm.
    • Chưởng thư (장서), Chưởng phùng (장봉), hàm tòng bát phẩm.
    • Chưởng tàng (장장), Chưởng thực (장식), Chưởng y (장의), hàm tòng cửu phẩm.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng cung[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu phi và tần ngự của Thiên hoàng cư ngụ tại hậu cung (こうきゅう), nội lý (だいり). Thứ bậc của Hoàng hậu và các phi tần:

  • Hoàng hậu (こうごう, 皇后), một người.
  • Trung cung (ちゅうぐう, 中宮), một người, lúc quốc sơ dùng như kính ngữ thể hiện danh phận chính thống nội cung của Hoàng hậu. Từ đời Nhất Điều Thiên hoàng, Trung cung trở thành tước vị cho người vợ chính thứ hai của Thiên hoàng, thứ bậc sánh cùng Hoàng hậu.
  • Nữ ngự (にょうご, 女御), danh phận cao nhất của phi tần, thường xuất thân Nội thân vương, Nữ vương của hoàng thất hay các sỹ tộc Thái chính quan.
  • Canh y (こうい, 更衣).

Nữ quan và cung nữ thuộc hậu cung thập nhị ty:

  • Thượng thị (ないしのかみ, 尚侍), hai người, nữ quan quản lý hậu cung thập nhị ty.
  • Điển thị (ないしのすけ, 典侍), bốn người, nữ quan giúp việc cho Thượng thị.
  • Chưởng thị (ないしのじょう, 掌侍), bốn người.
  • Nữ nhụ (にょじゅ, 女孺).
  • Ngự Hạp điện Biệt đương (みくしげとののべっとう, 御匣殿別当), nữ quan đứng đầu Ngự Hạp điện (みくしげどの), chuyên hầu việc phục sức của Thiên hoàng, thường do những hầu thiếp được Thiên hoàng ân sủng đảm nhiệm.
  • Nữ tàng nhân (にょくろうど, 女蔵人).
  • Thái nữ (うねめ, 采女), thị nữ hầu hạ trong nội cung.

Hậu cung thập nhị ty (こうきゅうじゅうにし) có nhiệm vụ hầu hạ Thiên hoàng và hoàng thất Nhật Bản, phân biệt mười hai ty gồm Tàng ty (藏司), Thư ty (書司), Dược ty (藥司), Binh ty (兵司), Xiển ty (闡司), Điện ty (殿司), Tảo ty (掃司), Thủy ty (水司), Thiện ty (膳司), Tửu ty (酒司), Phùng ty (縫司).

Mạc phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Chiyoda Ooku Hanami.jpg

Thời kỳ Mạc phủ Tokugawa, nội cung thành Edo được biết đến với tên gọi Ōoku (Đại áo, おおおく, 大奥) do Shōgun Tokugawa Hidetada thành lập. Ōoku là một xã hội thu nhỏ, tập hợp hơn một ngàn phụ nữ với danh phận cao thấp khác nhau từ vợ chính, vợ lẽ, nàng hầu của Tướng quân đến các tổng quản, hầu bộc, gọi chung là Áo nữ trung (おくじょちゅう, 奥女中) giữ nhiệm vụ phụng sự Tướng quân và gia tộc Tokugawa. Trong đó chỉ một số ít áo nữ trung được hưởng đặc ân diện kiến Tướng quân, số còn lại chỉ là các hạng thị tỳ, nô bộc chuyên dọn dẹp, nấu nướng, may vá. Vợ chính của Tướng quân gọi là Ngự đài sở (みだいどころ, 御台所) là người phụ nữ có danh phận tôn quý nhất tại Ōoku. Tuy vậy trên thực tế, các nữ quan tổng quản Thượng lạp ngự niên kýNgự niên ký là những người chịu trách nhiệm coi sóc, quản lý các công việc trong Ōoku.

Những người vợ góa của Tướng quân quá cố, theo điển lệ của nữ giới quý tộc Nhật Bản, được triều thần Mạc phủ tôn các pháp hiệu, xuống tóc và lui về Phật đường tu hành như Sùng Nguyên viện (すうげんいん, 崇源院), vợ chính của Hidetada, Thiên Chương viện (てんしょういん, 天璋院), vợ chính của Iesada, Tĩnh Khoan viện cung (せいかんいんのみや, 静寛院宮), vợ chính của Iemochi.

Các tổng quản phụng sự gia tộc Shōgun với trách nhiệm trông nom, chỉnh tề công việc trong Ōoku cũng có sự phân chia thứ bậc:

  • Thượng lạp ngự niên ký (じょうろうおとしより, 上臈御年寄), xuất thân từ quý tộc tại kinh đô Kyoto, giữ vai trò quản lý việc lễ nghi.
  • Ngự niên ký (おとしより, 御年寄), xuất thân từ tầng lớp Samurai cao cấp, giữ vai trò trông nom các sự vụ trong Ōoku.

Một số tước vị khác:

  • Ngự trung lạp (おちゅうろう, 御中臈), nữ quan hầu cận của Ngự đài sở, được tuyển chọn làm hầu thiếp cho Shōgun.
  • Trung niên ký (ちゅうどしより, 中年寄), nữ quan giúp việc cho Ngự niên ký.
  • Trung lạp (ちゅうろう, 中臈).
  • Ngự tiểu tính (おこしょう, 御小姓).
  • Ngự đĩnh khẩu (おじょうぐち, 御錠口).
  • Biểu sử (おもてづかい, 表使).
  • Ngự hữu bút (ごゆうひつ, 御右筆).
  • Ngự thứ (おつぎ, 御次).

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuốn Đại Việt thông sử do Lê Quý Đôn biên soạn có đoạn viết: "Quốc thống nước ta nếu vẫn cứ theo như ngày xưa, phong tục cũ chưa thay đổi thì có Tiên Hoàng đế nhà Đinh lập năm Hoàng hậu, một là Đan Gia, hai là Trinh Minh, ba là Kiểu Quốc, bốn là Cồ Quốc, năm là Ca Ông. Đại Hành Hoàng đế nhà Lê lập Hoàng thái hậu nhà Đinh là Dương thị làm Đại Thắng Minh Hoàng hậu, cùng với Phụng Càn Chí Lý, Thuận Thánh Minh Đạo, Trịnh Quốc, Phạm Hoàng hậu là năm Hoàng hậu. Thái Tổ Hoàng đế nhà Lý lập sáu Hoàng hậu, duy có đích phu nhân gọi là Lập Giáo Hoàng hậu, quy chế xe kiệu và y phục khác hẳn với các cung khác, sau lại lập thêm ba Hoàng hậu nữa. Thái Tông Hoàng đế nhà Lý lập bảy Hoàng hậu, có người thiếp yêu được phong hậu, gọi là Thiên Cảm Hoàng hậu". Đời Lý Thánh Tông, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư chỉ nhắc đến đích hậu là Dương Hoàng hậu, Nhân Tông lập hai Hoàng hậu là Thánh Cực, Chiêu Thánh, đến tháng giêng năm Hội Tường Đại Khánh thứ sáu (1115) lại phong thêm ba Hoàng hậu là Lan Anh, Khâm Thiên, Chấn Bảo. Từ đời Thần Tông nhà Lý đến các triều đại phong kiến sau này, có sự tiếp thu tư tưởng Nho giáo và lễ giáo cung đình phương Bắc, nhà vua lập duy nhất một Hoàng hậu tại vị, thứ bậc tần phi chốn nội cung cũng được phân minh.

Triều đại nhà Lý, Thái Tông định lệ chế độ hậu phi: "Hoàng hậu và phi tần mười ba người, Ngự nữ mười tám người, Nhạc kỹ hơn trăm người". Chính sử không phân định về thứ bậc, chỉ dựa vào ghi chép qua các đời vua Thánh Tông, Thần Tông, Anh Tông, nội cung phi tử trừ Nguyên phi (元妃) kế dưới Hoàng hậu, đứng đầu các phi tần, kế dưới lại đặt thêm Thần phi (宸妃), Quý phi (貴妃), Đức phi (德妃), Thục phi (淑妃), Hiền phi (賢妃). Dưới hậu phi là các chức Phu nhân (夫人), lệ được ban hai mỹ từ làm huy hiệu như Thánh Tông có Ỷ Lan Phu nhân, Nhân Tông có Thần Anh Phu nhân, Thần TôngCảm Thánh Phu nhân, Nhật Phong Phu nhân, Phụng Thánh Phu nhân, Huệ Tông có Thuận Trinh Phu nhân. Nội cung nhà Trần vẫn giữ nguyên cách sắp xếp thứ bậc, danh phận từ đời tiền triều nhà Lý.

Triều đại Lê sơ, Thánh Tông Thuần Hoàng đế định ra các danh hiệu:

  • Tam phi (三妃): Quý phi (貴妃), Minh phi (明妃), Kính phi (敬妃).
  • Cửu tần (九嬪):
    • Tam chiêu (三昭): Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Chiêu viên (昭媛).
    • Tam tu (三修): Tu nghi (修儀) Tu dung (修容), Tu viên (修媛).
    • Tam sung (三充): Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung viên (充媛).
  • Lục chức (六職): Tiệp dư (婕妤), Dung hoa (容華), Tuyên vinh (宣榮), Tài nhân (才人), Lương nhân (良人), Mỹ nhân (美人).

Các Hoàng đế Lê sơ có lệ không lập Hoàng hậu, chỉ lấy bậc phi đứng đầu cai quản công việc nội cung.

NamPhuong.jpg

Triều nhà Nguyễn theo lệ cũ nhà Lê không lập Hoàng hậu vì lo sợ quyền lực ngoại thích lớn mạnh. Trừ trường hợp Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, người vợ tào khang theo phò Gia Long từ thuở hàn vi và Nam Phương Hoàng hậu, Hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, được Bảo Đại sách lập, một Hoàng đế chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa phương Tây. Tất cả vợ chính của các Hoàng đế từ Minh Mạng đến Khải Định như các bà Nghi Thiên Chương Hoàng hậu, Lệ Thiên Anh Hoàng hậu, Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu đều chỉ là Hoàng quý phi hoặc Nhất giai phi. Hoàng quý phi ở trên bậc nhất giai, giúp Hoàng thái hậu coi sóc, chỉnh tề công việc nội cung, là danh hiệu tôn nhất nội cung nhà Nguyễn.

Theo Nội các triều Nguyễn - Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, vào đầu thời Nguyễn, phi tần nội cung được quy định theo thứ bậc như sau: "Lúc quốc sơ định lệ cung giai. Tam phi là Quý phi, Minh phi, Kính phi. Tam tu là Tu nghi, Tu dung, Tu viên. Cửu tần là Quý tần, Hiền tần, Trang tần, Đức tần, Thục tần, Huệ tần, Lệ tần, An tần, Hòa tần. Tam chiêu là Chiêu nghi, Chiêu dung, Chiêu viên. Tam sung là Sung nghi, Sung dung, Sung viên. Lục chức là Tiệp dư, Dung hoa, Nghi nhân, Tài nhân, Linh nhân, Lương nhân".

Đến năm Minh Mạng thứ mười bảy (1836), Thánh Tổ Nhân Hoàng đế có chỉ dụ định lại thứ bậc của nội cung: "Nay theo gương người xưa, đặt chín bậc phi tần ở nội cung, khiến cho chốn khuê môn được trật tự phân minh, tỏ phong hóa tôn nghiêm, tuân theo mãi mãi".

  • Hoàng quý phi (皇貴妃).
  • Quý phi (貴妃), Hiền phi (賢妃), Thần phi (宸妃) làm bậc nhất hay Nhất giai phi (一階妃).
  • Đức phi (德妃), Thục phi (淑妃), Huệ phi (惠妃) làm bậc nhì hay Nhị giai phi (二階妃).
  • Quý tần (貴嬪), Hiền tần (賢嬪), Trang tần (莊嬪) làm bậc ba hay Tam giai tần (三階嬪).
  • Đức tần (德嬪), Thục tần (淑嬪), Huệ tần (惠嬪) làm bậc bốn hay Tứ giai tần (四階嬪).
  • Lệ tần (麗嬪), An tần (安嬪), Hòa tần (和嬪) làm bậc năm hay Ngũ giai tần (五階嬪).
  • Tiệp dư (婕妤) làm bậc sáu hay Lục giai Tiệp dư (六階婕妤).
  • Quý nhân (貴人) làm bậc bảy hay Thất giai Quý nhân (七階貴人).
  • Mỹ nhân (美人) làm bậc tám hay Bát giai Mỹ nhân (八階美人).
  • Tài nhân (才人) làm bậc chín hay Cửu giai Tài nhân (九階才人).
  • Tài nhân vị nhập giai (才人未入階), còn gọi là Tài nhân vị nhập lưu (才人未入流)
  • Cung nga (宮娥), Thể nữ (婇女), gọi chung là Cung nhân (宮人).

Lại xuống dụ: "Trước đã chuẩn định nội cung chín bậc, trong đó có Đức phi, nay đổi làm Gia phi (嘉妃) ".

Các tước vị vừa kể không cố định mà thường thay đổi qua các triều Hoàng đế hoặc ngay trong cùng một triều. Như hai năm sau khi ban hành quy định trên, năm Minh Mạng thứ mười chín (1838), Thánh Tổ Nhân Hoàng đế lại có chỉ dụ thay đổi vị trí của bậc ngũ giai như sau: "Nguyên trước định lệ cung giai, Lệ tần, An tần, Hòa tần cùng là bậc ngũ giai, nay đổi làm An tần, Hoà tần, Lệ tần". Cũng trong năm này, danh xưng của các phi tần trong chín bậc lại có sự thay đổi như sau:

  • Hoàng quý phi (皇貴妃).
  • Quý phi (貴妃), Đoan phi (端妃), Lệ phi (麗妃) làm bậc nhất hay Nhất giai phi (一階妃).
  • Thành phi (成妃), Tính phi (併妃), Thục phi (淑妃) làm bậc nhì hay Nhị giai phi (二階妃).
  • Quý tần (貴嬪), Lương tần (良嬪), Đức tần (德嬪) làm bậc ba hay Tam giai tần (三階嬪).
  • Huy tần (徽嬪), Ý tần (懿嬪), Nhu tần (柔嬪) làm bậc bốn hay Tứ giai tần (四階嬪).
  • Nhân thần (仁嬪), Nhã tần (雅嬪), Thuận tần (順嬪) làm bậc năm hay Ngũ giai tần (五階嬪).
  • Từ Lục giai Tiệp dư (六階婕妤) xuống đến Thất giai Quý nhân (七階貴人), Bát giai Mỹ nhân (八階美人), Cửu giai Tài nhân (九階才人), Tài nhân vị nhập giai (才人未入階) và Cung nga (宮娥), Thể nữ (婇女) không thay đổi.

Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), Hiến Tổ Chương Hoàng đế lại cho đổi gọi Đoan phi làm Lương phi, vì chữ "Lương" đã được đưa lên tấn phong cho bậc nhất giai nên Lương tần ở tam giai được đổi thành Thụy tần (瑞嬪).

Quốc Sử quán đã ghi rõ trong sách Đại Nam thực lục rằng vào tháng năm năm Tự Đức thứ ba, tức là tháng sáu, năm 1850, Dực Tông Anh Hoàng đế xuống dụ "định rõ thứ bậc ở nội cung". Theo tờ dụ này, "về Hoàng quý phi trở lên, đã có lệ sẵn, còn từ phi tần trở xuống, thì chia làm các bậc với các danh xưng và mỹ từ như sau":

  • Thuận phi (順妃), Thiện phi (善妃), Nhã phi (雅妃) làm bậc nhất hay Nhất giai phi (一階妃).
  • Cung phi (恭妃), Cần phi (勤妃), Chiêu phi (昭妃) làm bậc nhì hay Nhị giai phi (二階妃).
  • Khiêm tần (謙嬪), Thận tần (慎嬪), Nhân tần (仁嬪), Thái tần (泰嬪) làm bậc ba hay Tam giai tần (三階嬪).
  • Khoan tần (寬嬪), Giai tần (佳嬪), Tuệ tần (慧嬪), Giản tần (簡嬪) làm bậc bốn hay Tứ giai tần (四階嬪).
  • Tĩnh tần (靜嬪), Cẩn tần (勤嬪), Tín tần (信嬪), Uyển tần (婉嬪) làm bậc năm hay Ngũ giai tần (五階嬪).
  • Tiệp dư (婕妤) làm bậc sáu hay Lục giai Tiệp dư (六階婕妤).
  • Quý nhân (貴人) làm bậc bảy hay Thất giai Quý nhân (七階貴人).
  • Mỹ nhân (美人) làm bậc tám hay Bát giai Mỹ nhân (八階美人).
  • Tài nhân (才人) làm bậc chín hay Cửu giai Tài nhân (九階才人).
  • Tài nhân vị nhập giai (才人未入階), còn gọi là Tài nhân vị nhập lưu (才人未入流).
  • Cung nga (宮娥), Thể nữ (婇女), gọi chung là Cung nhân (宮人).

Riêng hàng phi trong chín bậc ấy, đến tháng mười hai năm Tự Đức thứ mười bốn, tức tháng một năm 1862, Cần phi được đổi thành Đôn phi (敦妃), và sau đó một tháng, Chiêu phi được đổi thành Mẫn phi (敏妃).

Hai ba vo cua vua Thanh Thai.jpg

Tháng tám năm Đồng Khánh thứ nhất, tức năm 1885, Cảnh Tông Thuần Hoàng đế ban dụ: "Căn cứ theo tấu trình của Cơ Mật viện và Lễ bộ nói rằng nội chức cũng cần có người, nên xin xem xét ban phong để sáng tỏ quốc điển, vì vậy đành phải chuẩn y cho phép thi hành. Nay xét những cung tần gồm năm người hầu hạ trong cung đã lâu ngày, nghiêm chỉnh tuân thủ phép tắc, truyền chuẩn y tấn phong cho Trần Đăng thị làm Quán phi (觀妃), Phan Văn thị làm Giai phi (佳妃), Hồ Văn thị làm Chính tần (正嬪), Nguyễn Văn thị làm Nghi tần (宜嬪), Trần Văn thị làm Dụ tần (裕嬪)".

Để tổ chức mọi việc liên quan đến sự quản lý, dạy dỗ phi tần và giữ gìn đồ vật trong nội cung, triều đình đặt ra Lục thượng (六尚), do các nữ quan đảm nhận:

  • Thượng nghi (尚儀) coi việc lễ nghi, lấy Chưởng nghi (掌儀), Chưởng lễ (掌禮) làm bậc thủ đẳng, Tư hương (司香), Tư chương (司章) làm bậc thứ đẳng, Điển sự (典事) làm bậc trung đẳng.
  • Thượng diên (尚筵) coi việc ẩm thực, lấy Chưởng diên (掌筵), Chưởng yến (掌宴) làm bậc thủ đẳng, Tư trà (司茶), Tư thiện (司膳) làm bậc thứ đẳng, Điển soạn (典饌), Điển giai (典亥) làm bậc trung đẳng.
  • Thượng trân (尚珍) coi giữ trân bảo, lấy Chưởng châu (掌珠), Chưởng ngọc (掌玉) làm bậc thủ đẳng, Tư kim (司金), Tư ngân (司銀) làm bậc thứ đẳng, Điển hoàn (典環), Điển mãn (典滿) làm bậc trung đẳng.
  • Thượng y (尚衣) coi việc phục sức, lấy Chưởng bào (掌袍), Chưởng cừu (掌裘) làm bậc thủ đẳng, Tư y (司衣), Tư phi (司紕) làm bậc thứ đẳng, Điển nhu (典襦), Điển chẩn (典袗) làm bậc trung đẳng.
  • Thượng phục (尚服) coi việc màn trướng, lấy Chưởng duy (掌帷), Chưởng vi (掌闈) làm bậc thủ đẳng, Chưởng thường (掌裳), Chưởng đái (掌帶) làm bậc thứ đẳng, Điển cân (典巾), Điển nhục (典褥) làm bậc trung đẳng.
  • Thượng thảng (尚帑) coi giữ nội khố, lấy Chưởng trân (掌珍), Chưởng ngoạn (掌玩) làm bậc thủ đẳng, Tư thảng (司帑), Tư khí (司器) làm bậc thứ đẳng, Điển cẩm (典錦), Điển thái (典采) làm bậc trung đẳng.

Trong mỗi ty, trông nom sự vụ là hai nữ quan thủ đẳng, cất đặt là hai nữ quan thứ đẳng và thừa hành hai nữ quan trung đẳng. Nữ quan thường là các bà trong nội cung được Hoàng đế tin tưởng hay do triều đình tuyển dụng, người đứng đầu tổ chức nữ quan là Hoàng quý phi. Nữ quan cũng được chia thành sáu bậc là Quản sự (管事), Thống sự (統事), Thừa sự (承事), Tùy sự (隨事), Tòng sự (從事) và Trưởng ban (長班). Trong đó Hoàng quý phi, thường giữ chức Quản sự, thâu tóm công việc trong Lục thượng.

Quy chế nội cung nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cung Khôn Thái là nơi dành riêng cho Hoàng quý phi ở, điện Trinh Minh là nơi ở của các Cung phi, viện Thuận Huy là nơi ở của các Cung tần. Ngoài ra còn có viện Đoan Huy, Đoan Thuận, Đoan Hòa, Đoan Trang và Đoan Trường là chỗ ở của các bậc Tiệp dư, Tài nhân, Mỹ nhân, Quý nhân cùng những Tài nhân vị nhập giai, các viện trên gọi là Lục viện.
  • Để tuyển phi tần, triều đình thường chọn các con gái của quan đại thần trong triều, con của người nào có phẩm trật cao thì được tuyển vào cấp bậc cao, phẩm trật thấp thì cấp bậc thấp. Con của thường dân được tuyển vào cung là những trường hợp đặc biệt, phải đẹp và khi mới tuyển thì chưa được xếp vào cửu giai mà chỉ được gọi là Tài nhân vị nhập lưu.

Theo lệ trong cung đình nhà Nguyễn, phi tần từ Tiệp dư trở lên được gọi bằng , từ Quý nhân trở xuống được gọi bằng chị.

Một số phi tần nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ỷ Lan Nguyên phi họ Lê, dã sử cho rằng tên bà là Khiết hoặc Yến. Sinh thời là Ỷ Lan Nguyên phi của Thánh Tông, mẹ sinh của Nhân Tông, có thuyết cho rằng là mẹ của Sùng Hiền Hầu. Nhân Tông truy tặng thụy hiệu Phù Thánh Linh Nhân Hoàng thái hậu.
  • Linh Chiếu Thái hậu họ Lê, sinh thời là Cảm Thánh Phu nhân của Thần Tông, mẹ sinh Anh Tông. Trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính dưới thời Anh Tông.
  • Lê Lan Xuân, sinh thời là Phụng Thánh Phu nhân của Thần Tông, em gái Linh Chiếu Thái hậu, hợp mưu cùng chị giành ngôi cho Anh Tông.
  • Đỗ Thụy Châu, sinh thời là Thục phi của Anh Tông, mẹ sinh của Cao Tông. Nhiếp chính dưới thời Cao Tông với tôn hiệu Chiêu Thiên Chí Lý Hoàng thái hậu, thụy hiệu là Linh Đạo Hoàng hậu.

Nhà Trần[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huệ Túc Phu nhân họ Hoàng, con gái của di thần nhà Tống là Hoàng Bính, được coi là người mở đầu cho thuật tử vi, tướng số phát triển tại Việt Nam. Sinh thời là Huệ Túc Phu nhân của Thái Tông.
  • Tuyên Từ Hoàng hậu họ Trần, con gái của Hưng Đạo Đại vương, em gái Bảo Thánh Hoàng hậu. Sinh thời là phi tần của Nhân Tông. Do có công dưỡng dục nên được Anh Tông tôn làm Tuyên Từ Hoàng thái hậu.
  • Chiêu Từ Hoàng hậu họ Trần, con gái của Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng và Công chúa Thụy Bảo. Sinh thời là Huy Tư Hoàng phi của Anh Tông, mẹ sinh của Minh Tông. Minh Tông truy tặng thụy hiệu Chiêu Từ Hoàng thái hậu.
  • Minh Từ Nguyên phi họ Lê, sinh thời là Anh Tư Nguyên phi của Minh Tông, em gái cùng mẹ với Lệ Thánh Hoàng hậu, mẹ sinh Hiến TôngNghệ Tông, cô của Hồ Quý Ly. Nghệ Tông truy tặng Minh Từ Hoàng thái phi.
  • Đôn Từ Thần phi họ Lê, sinh thời là Sung viên của Minh Tông, em gái cùng cha với Anh Tư Nguyên phi, mẹ sinh của Duệ Tông. Nghệ Tông truy tặng Quang Hiến Thần phi, Duệ Tông gia phong Đôn Từ Hoàng thái phi.
  • Nguyên Thị Bích Châu, sinh thời chỉ là Cung nhân của Duệ Tông. Hy sinh tế thần biển để Duệ Tông và ba quân lên đường đánh Chiêm Thành, truy tặng làm Thần phi.

Nhà Lê[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Thị Anh, sinh thời là Thần phi của Thái Tông, mẹ sinh của Nhân Tông, trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính dưới triều Nhân Tông. Bị Lệ Đức Hầu Lê Nghi Dân giết hại, Thánh Tông lên ngôi truy tặng làm Tuyên Từ Hoàng thái hậu. Bà được các học giả triều Lê - Trịnh coi là người gây nên vụ oan án vụ án Lệ Chi viên nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.
  • Ngô Thị Ngọc Dao, sinh thời là Tiệp dư của Thái Tông, mẹ sinh của Thánh Tông. Nhân Tông phong làm Sung viên do có công phụng thờ hương khói tại Thái miếu, Thánh Tông lên ngôi tôn làm Thánh Mẫu Hoàng thái hậu. Thụy hiệu Quang Thục Hoàng thái hậu.
  • Nguyễn Thị Hằng, sinh thời là Quý phi của Thánh Tông, mẹ sinh của Hiến Tông. Trở thành Trường Lạc Thánh Từ Hoàng thái hậu dưới thời Hiến Tông. Bà bị cháu nội là Uy Mục Đế giết hại, thụy hiệu Huy Gia Thuần Hoàng hậu.
  • Phùng Diễm Quý, sinh thời là Chiêu nghi của Thánh Tông, mẹ sinh của Kiến Vương Lê Tân, bà nội của Tương Dực Đế. Thụy hiệu Nhu Huy Thuần Hoàng hậu.
  • Nguyễn Thị Cận, sinh thời là hầu thiếp của Hiến Tông khi ông còn là Thái tử, sinh mẫu của Uy Mục Đế. Uy Mục Đế truy tặng thụy hiệu Chiêu Nhân Hoằng Ý Hoàng thái hậu.
  • Nguyễn Kính phi, sinh thời là Kính phi của Hiến Tông, dưỡng mẫu của Uy Mục Đế. Bà góp công lớp trong việc đưa Uy Mục Đế lên ngôi.
  • Mai Ngọc Đỉnh, sinh thời là Chiêu nghi của Hiến Tông, mẹ sinh trưởng tử của Hiến Tông là Hậu Trạch Đại vương Lê Tuân. Thụy hiệu Từ Trinh Liêm Hoàng hậu.

Nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Thị Đang, sinh thời là Đệ nhị cung của Hoàng Đế Gia Long, mẹ sinh Minh Mạng. Trở thành Nhân Tuyên Hoàng thái hậu dưới triều Minh Mạng, Thiệu Trị truy tôn làm Thuận Thiên Cao Hoàng hậu.
  • Lê Ngọc Bình, con gái Lê Hiển Tông, em gái Công chúa Lê Ngọc Hân, Hoàng hậu của Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn, Đệ tam cung của Gia Long nhà Nguyễn. Gia Long truy tặng Cung Thận Đức phi.
  • Hồ Thị Hoa, sinh thời là nguyên phối của Minh Mạng khi ông còn là Đông cung Hoàng thái tử, mẹ sinh Thiệu Trị. Minh Mạng truy tặng Thuận Đức Chiêu nghi, sau lại tấn phong lên bậc Thần phi, Thiệu Trị truy tôn làm Tá Thiên Nhân Hoàng hậu.
  • Ngô Thị Chính, sinh thời là Nhất giai Hiền phi của Minh Mạng, con gái Ngô Văn Sở, phi tần được Minh Mạng sủng ái bậc nhất. Thụy hiệu là Tuệ Khiết Hiền phi.
  • Nguyễn Thị Bảo, sinh thời là Tứ giai Thục tần của Minh Mạng, mẹ sinh Tùng Thiện Vương và Tam khanh (Nguyệt Đình, Mai Am, Huệ Phố). Thụy hiệu là Đoan Liệt Thục tần .
  • Nguyễn Thị Hương, sinh thời là Nhị giai Học phi của Tự Đức, mẹ nuôi Kiến Phúc.
  • Nguyễn Nhược Thị Bích, sinh thời là Lục giai Tiệp dư của Tự Đức, nổi tiếng với tài thi phú, Từ Dụ Hoàng thái hậu sách phong Tam giai Lễ tần.
  • Hồ Thị Chỉ, sinh thời là Nhất giai Nhất giai Ân phi của Khải Định, con gái Thượng thư Hồ Đắc Trung, chính phi được triều đình cưới hỏi sau khi Khải Định lên ngôi.
  • Hoàng Thị Cúc, sinh thời là Nhất giai Huệ phi của Khải Định, sau này là Đoan Huy Hoàng thái hậu, Hoàng thái hậu cuối cùng của phong kiến Việt Nam.
  • Bùi Mộng Điệp, tình nhân của Bảo Đại.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]