Hương phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hương phi - Iparhan trong trang phục áo giáp

Hương phi (tiếng Trung Quốc: 香妃, bính âm: Xiāngfēi; tiếng Uyghur: ئىپارخان / Iparxan / Ипархан) là một nhân vật trong truyền thuyết Trung Quốc, là phi tần của Thanh Cao Tông Càn Long Đế vào thế kỉ XVIII.

Mặc dù câu chuyện về Hương phi được tin là thần thoại, nhưng nó có thể được xây dựng dựa trên Dung phi Hòa Trác thị, một phi tần có thật của Càn Long Đế đến từ miền viễn Tây Trung Quốc. Tuy nhiên, một số người khẳng định Dung phi và Hương phi là hai người phụ nữ khác nhau.

Có rất nhiều phiên bản khác nhau giữa truyền thuyết của người Hán và người Uyghur.

Truyền thuyết về Hương phi[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù lời thuật lại có khác nhau, câu chuyện căn bản do người Hán kể lại về mối tình của Càn Long Đế về một cô gái người Uyghur có tên là Iparhan (伊帕尔罕; Y Mạt Nhĩ Hãn), là vợ (có thuyết là cháu gái) của Khwāja-i Jahān (霍集占; Hắc Tập Chiêm), thủ lĩnh Tiểu Hòa Trác, thành phố ốc đảo Kashgar. Đáng chú ý hơn vẻ đẹp tuyệt thế của nàng là một thứ hương thơm tự nhiên tỏa ra từ khắp cơ thể, quyến rũ người khác. Càn Long đã sắc phong nàng trở thành phi tần trong Hậu Cung. Nàng tiến cung như một lễ vật dành Càn Long và được hộ tống cẩn thận trên suốt quãng đường đến Bắc Kinh, tắm rửa hằng ngày trên đường đi bằng sữa lạc đà để không làm mất đi thứ hương thơm bí ẩn của nàng.

Khi đến Tử cấm thành ở Bắc Kinh, Hương phi được Càn Long sủng ái ban cho một cung điện sang trọng và một ngự hoa viên. Nhớ nhà và hoảng loạn, nàng vẫn ủ rũ mặc dù Càn Long đã rất nỗ lực để tái hiện lại hình ảnh thành phố quê hương xa xôi nhằm làm nàng cảm thấy hạnh phúc: xây dựng một thánh đường Hồi giáo, một ốc đảo thu nhỏ và một bazaar (ngôi chợ truyền thống của người Hồi giáo) bên ngoài cung điện của nàng.

Cuối cùng, nàng cũng cảm động và chấp nhận tình yêu của Càn Long khi hoàng đế sai sứ giả đến Kashgar và mang về một cây táo mọc những trái táo vàng để làm lễ vật tặng nàng. Hương phi trở thành một phi tần "đầu ấp tay gối" với Càn Long cho đến khi bà qua đời. Như một biểu tượng lâu dài của sự hợp nhất và hòa hợp dân tộc, thi hài của bà đã được mang về quê hương Kashgar, nơi hiện đang mai táng bà, bằng cuộc diễu hành của 120 người trong suốt 3 năm.

Truyền thuyết về Iparhan[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng Abakh Khoja tại thị xã Kashgar

Câu chuyện của người Uyghur có phần kém lãng mạn hơn. Iparhan có chồng là một thủ lĩnh Uyghur chống lại triều đình Mãn Thanh. Nàng bị bắt cóc và mang đến Bắc Kinh. Iparhan giấu dao găm trong tay áo để phòng vệ khi cần nếu bị Hoàng đế ve vãn. Một số câu chuyện còn miêu tả Iparhan như một nhân vật chống lại triều đình Mãn Thanh trong thời kì người dân vùng Uqturpan nổi loạn (1765), một thủ lĩnh quốc gia nhưng sớm bị quân đội Mãn Thanh bắt được và giao nộp cho Càn Long.

Có ý kiến cho rằng ngoài việc bảo vệ sự trong trắng của mình, Iparhan còn lên kế hoạch giết Càn Long để trả thù việc vua đã chiếm giữ quê hương Tân Cương của mình. Càn Long đã bị quyến rũ bởi sắc đẹp của Iparhan, và cuối cùng Sùng Khánh hoàng thái hậu đã sắp xếp các hoạn quan trung thành của mình giết chết Iparhan trước sự kháng cự kiên cường của Iparhan và các mối đe dọa đến Hoàng Đế.

Lăng mộ của Apak Khojar nằm ở ngoại ô Kashgar, được xây dựng vào năm 1640 và bao gồm một khu phức hợp lớn với thánh đường và trường học Hồi giáo, khu nhà mộ của năm thế hệ gia đình Apak Khoja, trong đó có cả thi thể của Hương phi.

Trên thực tế, Dung phi Hòa Trác thị thực sự qua đời năm 1788 sau một cơn bạo bệnh và được chôn cất trong lăng mộ hoàng gia ở Bắc Kinh.

Phim ảnh truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fuller, Graham E. and Jonathan N. Lipman. "Islam in Xinjiang" in Xinjiang: China's Muslim Borderland. Armonk, N.Y.: M.E. Sharpe Inc., c2004. (ISBN 0-7656-1318-2).
  • Millward, James A. "A Uyghur Muslim in Qianlong's Court: The Meaning of the Fragant Concubine." The Journal of Asian Studies 53, no. 2 (1994): 427-58.
  • Tyler, Christian. Wild West China: The Taming of Xinjiang. London: John Murray, c2003. (ISBN 0-8135-3533-6)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]