Càn Long

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Càn Long Đế
乾隆帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
清 郎世宁绘《清高宗乾隆帝朝服像》.jpg
Flag of China (1889–1912).svg Hoàng đế Đại Thanh
Trị vì8 tháng 10 năm 17359 tháng 2 năm 1796
(&0000000000000060.00000060 năm, &0000000000000124.000000124 ngày)
Tiền nhiệmThanh Thế Tông
Kế nhiệmThanh Nhân Tông
Flag of China (1889–1912).svg Thái thượng hoàng Đại Thanh
Tại vị9 tháng 2 năm 1796 - 7 tháng 2 năm 1799
(&0000000000000002.0000002 năm, &0000000000000363.000000363 ngày)
Thông tin chung
Thê thiếpHiếu Hiền Thuần Hoàng hậu
Kế Hoàng hậu
Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
Hậu duệChi tiết
Tên húyÁi Tân Giác La Hoằng Lịch
(爱新觉罗弘曆)
Tước hiệuHoàng đế
Thái thượng hoàng
Niên hiệuCàn Long (乾隆)
Thụy hiệuPháp Thiên Long Vận Chí Thành Tiên Giác Thể Nguyên Lập Cực Phu Văn Phấn Vũ Khâm Minh Hiếu Từ Thần Thánh Thuần Hoàng đế
(法天隆運至誠先覺體元立極敷文奮武欽明孝慈神聖純皇帝)
Miếu hiệuCao Tông (高宗)
Thân phụThanh Thế Tông
Thân mẫuHiếu Thánh Hiến Hoàng hậu
Sinh(1711-09-25)25 tháng 9, 1711
Như Ý thất, Đông thư viện của phủ Ung Thân vương
Mất7 tháng 2, 1799(1799-02-07) (87 tuổi)
Ninh Thọ cung, Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Đại Thanh
An tángDụ lăng, Đông Thanh Mộ

Thanh Cao Tông (chữ Hán: 清高宗, 25 tháng 9 năm 17117 tháng 2 năm 1799), Mãn hiệu Abkai Wehiyehe Huwangdi, Hãn hiệu Mông Cổ Tengerig Tetgech Khan (腾格里特古格奇汗; Đằng Cách Lý Đặc Cổ Cách Kỳ hãn), Tây Tạng tôn vị Văn Thù Hoàng đế (文殊皇帝), là Hoàng đế thứ sáu của Nhà Thanh, và là Hoàng đế Mãn Thanh thứ tư sau khi nhập quan. Trong thời gian trị vì của mình, ông dùng niên hiệu Càn Long (乾隆), nên còn gọi là Càn Long Đế (乾隆帝).

Là vị Hoàng đế có tuổi thọ lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ trị vì của Càn Long Hoàng đế kéo dài hơn 60 năm; từ 11 tháng 10 năm 1736 đến 1 tháng 9 năm 1795; và là thời cực thịnh về kinh tế cũng như quân sự của Nhà Thanh. Vào thời này, lãnh thổ nước Thanh kéo dài đến Châu thổ sông Y LêTân Cương, lãnh thổ Trung Quốc mở rộng đến tối đa: khoảng 14.000.000 km², so với 9.600.000 km² hiện tại.

Ông học theo cách thức cai trị của ông nội mình là Thanh Thánh Tổ Khang Hi, người mà ông rất ngưỡng mộ. Khi còn trẻ, Càn Long đã khiến Khang Hi ngạc nhiên về rất nhiều lĩnh vực, nhất là về văn học nghệ thuật. Khang Hi đã cho rằng Càn Long có thể sẽ xứng đáng trở thành Hoàng đế kế vị Nhà Thanh sau Ung Chính. Lúc lên ngôi, Càn Long có mở một số cuộc viễn chinh với kết quả lẫn lộn, ông cũng thu nạp nhiều phi tần, tuần du các nơi, kết nạp lộng thần tham nhũngHòa Thân.

Năm 1796, ông nhường ngôi cho con trai thứ 15 là Vĩnh Diễm, lên làm Thái Thượng hoàng, vẫn giữ quyền chính trong cung, sử gọi là Huấn chính (训政), vẫn là vị quân chủ tối cao của Đại Thanh không thay đổi. Đến năm Gia Khánh thứ 4 (1799) thì ông mới qua đời, hưởng thọ 88 tuổi. Ông là một trong 4 vị Đế vương thọ nhất của Trung Hoa, trên 80 tuổi, ông (88 tuổi), ba người kia là Lương Vũ Đế (86 tuổi), Võ Tắc Thiên (82 tuổi) và Tống Cao Tông (81 tuổi). Đồng thời ông cũng là vị Hoàng đế có tuổi thọ cao nhất trong lịch sử Trung Hoa.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Càn Long tên thật là Ái Tân Giác La Hoằng Lịch (爱新觉罗弘曆), sinh vào ngày 13 tháng 8 (tức ngày 25 tháng 9 dương lịch) năm Khang Hi thứ 50 (1711), nửa đêm, sinh ra tại Như Ý thất (如意室), Đông thư viện của phủ Ung Thân vương[1][2], tên khi còn bé nhỏ là Nguyên Thọ (元寿).[3] Thân phụ của ông là Thanh Thế Tông Ung Chính Đế, khi ấy còn là Ung Thân vương. Còn thân mẫu ông là Nữu Hộ Lộc thị, khi ấy còn là Cách cách trong phủ Ung Thân vương.

Khi Hoằng Lịch chào đời, huynh trưởng của ông là Hoằng Huy (弘暉), Hoằng Phán (弘昐), Hoằng Quân (弘昀) đều sớm tạ thế. Hoằng Thời, anh trai thứ 4 (trên danh nghĩa là thứ 3) của Hoằng Lịch, là người con trai trưởng thành nhất của Ung Thân vương. Hoằng Lịch là con trai thứ 5 (trên danh nghĩa là thứ 4) của Ung Thân vương, thực tế là đứng thứ 2.

Từ nhỏ, Hoằng Lịch tư chất hơn người, học đâu nhớ đó. Năm Khang Hi thứ 60 (1721), Khang Hy nghe nói cháu nội Hoằng Lịch ở Ung Thân vương phủ rất thông minh, bèn cho mời gặp. Sau khi gặp, Khang Hi rất thích Hoằng Lịch, lệnh đưa vào cung học vấn, sau đó còn cho đi theo mình đến Nhiệt Hà sơn trang. Khi đó, Hoằng Lịch mới 10 tuổi.[4]

Khi Khang Hi qua đời (1722), Ung Thân vương đăng cơ, tức [Ung Chính Đế]. Con trưởng Hoàng Thời hành vi phóng túng, rất không được Ung Chính Đế yêu thích,[5] mà Hoằng Lịch vào những năm cuối, được Khang Hi Đế sủng ái, nên vô hình trung đã khiến địa vị của Ung Chính Đế trong cuộc tranh đoạt Hoàng vị suôn sẻ hơn. Đây có lẽ là lý do Ung Chính Đế đã ngấm ngầm chọn Hoằng Lịch làm Trữ quân.

Lên ngôi Hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Bảo Thân vương Hoằng Lịch.

Trước khi Hoằng Lịch lên ngôi, tin tức về người kế vị đã được nhiều người biết đến. Hoằng Lịch chính là người được tổ phụ là Khang Hy và phụ hoàng là Ung Chính đánh giá cao. Trên thực tế, Ung Chính đã giao cho Hoằng Lịch nhiều công việc quan trọng từ khi Hoằng Lịch còn là hoàng tử, bao gồm cả những việc triều chính liên quan đến các chiến lược quân sự.

Theo mật chỉ do Ung Chính công bố, ngay từ năm Ung Chính nguyên niên (1723), tháng 8, Ung Chính đã chỉ định Hoàng tứ tử Hoằng Lịch chính thức trở thành Trữ quân. Do vậy, sự giáo dục của Hoằng Lịch từ thời khắc đó trở nên chú trọng hơn, bao gồm các lão thần Trương Đình Ngọc, Từ Nguyên Mộng, Thái Thế Xa,... ngoài ra các Hoàng thân như Doãn Lộc, Doãn Hi cũng đều kèm cặp cưỡi ngựa bắn cung cho Hoằng Lịch, để Hoằng Lịch không quên đi nguồn gốc tổ tiên.[6] Do đó, Hoằng Lịch nhanh chóng trở thành hoàng tử hiểu biết Mãn, Hán, Mông văn.

Năm Ung Chính thứ 2 (1724), gặp ngày kị của Khang Hy, Ung Chính sai Hoằng Lịch thay mình tế Cảnh lăng.[7]

Năm Ung Chính thứ 5 (1727), tháng 7, đại hôn, Hoằng Lịch được Ung Chính ban hôn cho Phú Sát thị, con gái Sáp Cáp Nhĩ tổng quản Lý Vinh Bảo, xuất thân từ dòng họ Sa Tế Phú Sát thị của Tương Hoàng kỳ. Đại hôn cử hành ở Tây Nhị sở trong Tử Cấm Thành (về sau Càn Long Đế đổi tên thành Trọng Hoa cung). Năm thứ 8 (1730), Đích tử của Hoằng Lịch ra đời, Ung Chính đặt tên Vĩnh Liễn (永琏), còn đặc biệt đem Nhạc Thiện đường toàn tập (乐善堂全集) ban chúc mừng.

Năm Ung Chính thứ 11 (1733), ông được gia phong Bảo Thân vương (寶親王). Cùng năm này, Ung Chính Đế cho phép Hoằng Lịch tham gia nghị định đàn áp Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩngười MiêuQuý Châu. Đây đều là đại chính sự khi đó của Đại Thanh, cho thấy tư cách kế vị của Hoằng Lịch đã rõ ràng hơn bao giờ hết. Ngoài ra, việc tế lăng, tế Khổng, tế Quan Thánh Đế Quân, tế Miếu,... những việc tế tự trọng đại đều do Hoằng Lịch đích thân chủ trì.

Để tránh lặp lại một cuộc tranh giành quyền lực - điều vốn để lại vết nhơ trong con đường đến ngai vàng của mình, Ung Chính Đế đã viết sẵn tên người kế ngôi, đưa vào trong một chiếc hộp niêm phong cẩn thận được đặt phía sau tấm bảng Chính đại quang minh (正大光明) phía trên ngai vàng tại Cung Càn Thanh.[8] Tên người kế vị sẽ được công khai cho các hoàng thân trong cuộc họp mặt của tất cả các quan đại thần, sau khi Hoàng đế mất. Đây chính là hình thức xác nhận ngôi vị Trữ quân mà các hoàng đế Nhà Thanh áp dụng cho đến khi Cách mạng Tân Hợi (1911) nổ ra, chấm dứt triều Thanh.

Vào năm Ung Chính thứ 13 (1735), ngày 23 tháng 8, Ung Chính qua đời. Nội thị lấy chỉ dụ đã được soạn sẵn, công bố trước triều đình. Theo đó, Bảo Thân vương Hoằng Lịch kế thừa Đế vị.[9] Do Hoằng Lịch là được bí mật tuyên chiếu lập vị, ông được mệnh các đại thần phù trợ, bao gồm Trang Thân vương Doãn Lộc, Quả Thân vương Doãn Lễ, Đại học sĩ Ngạc Nhĩ Thái và đại thần Trương Đình Ngọc.

Ngày 3 tháng 9, Hoằng Lịch lên ngôi ở điện Thái Hòa, lấy năm sau là năm đầu niên hiệu Càn Long (乾隆). Ngày 27 tháng 9, di cư Dưỡng Tâm điện.

Hoàng đế Đại Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Các cuộc chiến tranh biên giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Càn Long lúc còn trẻ.

Càn Long được đánh giá là một nhà quân sự tài ba. Ngay sau khi lên ngôi, ông đã cho quân đàn áp cuộc khởi nghĩa của người Miêu vào năm 1735-1736. Những chiến dịch sau đó của ông đã làm mở rộng đáng kể lãnh thổ Nhà Thanh. Sự thành công này một phần cậy nhờ vào sức mạnh quân sự, phần còn lại là sự chia rẽ và ngày một suy yếu của những dân tộc nội Á. Dưới thời Càn Long, Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ đặt dưới sự cai trị của Nhà Thanh; sau đó nó đã đổi tên thành Tân Cương; trong khi đó, ở phía Tây, vùng Nội Mông là một đơn vị đồn trú của quân đội Nhà Thanh. Sự sáp nhập Tân Cương vào trong lãnh thổ Nhà Thanh là kết quả của các chiến thắng quân sự và sự sụp đổ của Hãn Quốc Chuẩn Cát Nhĩ, một liên minh giữa các bộ tộc Tây Mông Cổ. Theo học giả Ngụy Viên (đời Nhà Thanh), 40% trong tổng số 600,000 người Chuẩn Cát Nhĩ đã chết do bệnh đậu mùa, 20% phải di dân đến các khu vực của tộc người Nga, người Kazash, 30% bị quân đội Nhà Thanh tiêu diệt.[10] Còn sử gia Peter Perdue cho rằng sự suy giảm dân số của người Chuẩn Cát Nhĩ là kết quả của chính sách diệt chủng triệt để của Càn Long.[11]

Suốt thời gian này đã tiếp tục diễn ra sự can thiệp của người Mông Cổ vào Tây Tạng; ở chiều ngược lại đó là sự thâm nhập của Phật giáo Tây Tạng vào Mông Cổ. Sau cuộc bạo loạn Llasa vào năm 1750, Càn Long đã trao quyền trị vì Tây Tạng cho Đà Lai Lạt Ma nhưng song song đó, lại đặt nó dưới sự giám sát của các quan Đại thần và quân đội Nhà Thanh đồn trú tại đây nhằm bảo vệ chủ quyền của Trung Hoa. Ở những mặt trận xa hơn, ông đã thần phục được người Nepal, người Gukhas.

Ngoài ra, Càn Long cũng đã có âm mưu thôn tính Burma nhưng cuối cùng đã thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh Thanh-Miến.

Điều quân sang nước Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1788, nước Đại Viêt xảy ra tranh chấp giữa nhà Lê với Tây Sơn. Được vua Lê cầu cứu, cuối năm 1788, Càn Long bèn sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy hơn 5.000 quân, huy động từ Lưỡng Quảng, Vân Nam và Quý Châu[12] hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa phù , và phong cho Lê Chiêu Thống là An Nam Quốc vương để vào chiếm đóng Thăng Long (Hà Nội).

Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ của Tây Sơn lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung và xuất quân tiến ra Bắc.

Trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Mãn Thanh mà trận Ngọc Hồi - Đống Đa là tiêu biểu. Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu - 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống dẫn tàn quân bỏ chạy thoát về Trung Quốc. Quang Trung-Nguyễn Huệ tuy đánh bại quân Thanh, nhưng biết Đại Thanh là nước lớn, vả lại còn đang phải chống lại thế lực Nguyễn Ánh ở miền Nam Đại Việt, nên quyết định xưng thần với nhà Thanh. Về phía Đại Thanh, Càn Long biết Đại Việt khó đánh, mà đánh được cũng khó giữ, nên chấp nhận sự giảng hòa của Quang Trung. Càn Long vẫn giữ nhóm vua tôi Lê Chiêu Thống trên đất Trung Quốc nhưng phớt lờ tất cả mọi nỗ lực của họ đòi người Thanh đưa về nước đánh báo thù Tây Sơn.

Thân thế tranh luận[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Càn Long những năm đầu trị vì.

Một trong những truyền thuyết phổ biến nhất về thân thế của Càn Long lưu truyền trong các câu chuyện dân gian, các bộ tiểu thuyết, dã sử chính là giả thuyết Càn Long là con cháu dòng họ Trần ở Hải Ninh, Chiết Giang.

Chuyện kể rằng, vào ngày 13 tháng 8 năm Khang Hy thứ 50, tức năm 1711, phủ của Ung Thân Vương, người sau này trở thành Hoàng đế Ung Chính, trở nên nhộn nhịp vui vẻ lạ thường. Hôm đó, Hoàng tử Dận Chân có thêm một đứa con. Cùng trong ngày hôm đó, nhà họ Trần ở Hải Ninh cũng có thêm một đứa trẻ. Nhà họ Trần ở đây chính là chỉ Trần Thế Quán, hay còn gọi là "Trần Các Lão", một người từng làm quan dưới thời Khang Hy và có quan hệ cực kỳ mật thiết với Hoàng tử thứ 4, Ung Thân vương Dận Chân (tức Ung Chính Hoàng đế).

Lúc bấy giờ, Vương phi của Hoàng tử Dận Chân và vợ của Trần Các Lão đều mang thai. Không lâu sau đó, cả hai người cùng sinh vào một ngày, Vương phi của Ung Chính sinh ra một cách cách còn vợ của Trần thì sinh ra một bé trai. Ung Chính nghe nói con trai của Trần Các Lão sinh cùng ngày với cách cách của mình mới lệnh cho Trần mang con trai vào Vương phủ của mình để xem mặt. Lệnh của Vương gia không thể không nghe, Trần Các Lão không còn cách nào khác đành phải mang con của mình đưa vào Vương phủ. Tuy nhiên, khi đứa bé được trả về cho nhà họ Trần thì ban đầu là con trai giờ lại hóa thành con gái. Đứa con trai nhà họ Trần bị đánh tráo vào phủ Ung Chính sau này chính là vua Càn Long.

Câu chuyện này đã được Kim Dung hư cấu thành bộ tiểu thuyết Thư kiếm ân cừu lục. Tuy nhiên đây chỉ là truyền thuyết, thể hiện mong ước của người Hán khi bị người Mãn đô hộ, tự an ủi mình rằng vua trên ngai vàng vẫn là người Hán.

Xây dựng Tử Quang Các[sửa | sửa mã nguồn]

Càn Long học theo Đường Thái Tông và mô phỏng Yên Lăng Các của nhà Đường để xây dựng lên Tử Quang Các để thờ phụng các công thần dưới triều Càn Long. Các công thần nổi tiếng dưới thời Càn Long được thờ phụng trong Tử Quang Các như Hòa Thân, Phó Hằng, Triệu Huệ, A Quế, Kỷ Hiểu Lam, Chu Khuê, Hòa Lâm, Lưu Dung,....

Lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Càn Long cưỡi ngựa.

Càn Long cho khởi công xây cất Dụ lăng làm nơi an nghỉ ngàn thu của mình từ năm Càn Long thứ 8 (1743) tới năm Càn Long thứ 17 (1752) thì hoàn công. Trong địa cung chôn cất 6 người, ngoài Càn Long Đế còn có nhị vị Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu và Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu, cùng 3 vị Triết Mẫn, Tuệ Hiền và Thục Gia Hoàng quý phi. Vì vậy, Dụ Lăng có địa cung hợp táng nhiều người nhất trong số các hoàng lăng của Nhà Thanh.

Năm 1928, quân phiệt Tôn Điện Anh đã đem quân vào khu vực lăng tẩm nhà ThanhHà Bắc, quật mộ của Càn Long và Từ Hy Thái hậu. Chỉ có lăng của Khang Hy là còn toàn vẹn, vì khi bẫy mở được cửa lăng thì một khối nước màu vàng từ bên trong tuôn tràn ra rất mạnh, quân sĩ sợ hãi quá phải bỏ chạy.

Bên trong mộ của các vua chúa này được xây cất như sau:

Đường hầm dẫn vào những ngôi mộ của họ lát đá hoa trắng, xuyên qua bốn cái cổng được chạm trổ rất công phu bằng đá. Nơi để quan tài yên nghỉ của họ là một khuôn hình bát giác, trên vòm trần khắc chín con rồng bằng vàng lóng lánh. Khu vực yên nghỉ khá rộng, lớn bằng điện Trung Hoà trong Tử Cấm Thành. Càn Long Đế được chôn trong hai lần quan tài. Quan tài bên trong và bên ngoài được làm bằng một loại gỗ đặc biệt quý. Những báu vật trong hai ngôi mộ này gồm rất nhiều ngọc ngà châu báu cực kỳ quý giá và đắt tiền, ngoài ra còn có những hoạ phẩm, kiếm báu, sách quý, ngà voi và các tượng Phật. Các đồ quý làm bằng lụa và gấm thì chỉ một thời gian là bị mục rã.

Sau khi bị khai quật, đồ tuỳ táng của Dụ lăng bị thất thoát nghiêm trọng, thi cốt của hoàng đế và hậu phi cũng hoàn toàn nhiễu loạn, tứ tán trên mặt đất. Tin các lăng tẩm của Càn Long Đế và Từ Hi Thái hậu bị khai quật để lấy của đã gây chấn động và căm phẫn sâu sắc cho Phổ Nghi và các thành viên hoàng tộc, cựu thần Nhà Thanh. Về sau Phổ Nghi cho người đi thu thập di hài cũng chỉ tìm được vài phần, miễn cưỡng đem Đế-Hậu hợp táng vào một cỗ.

Dụ lăng phi viên tẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Dụ lăng

Phi viên tẩm là nơi mang táng phi tần của Càn Long, được bố trí ở phía Tây Dụ lăng. Phi viên tẩm bắt đầu xây dựng năm Càn Long thứ 10 (1745), hoàn thành năm thứ 12 (1747). Đến năm thứ 17 (1752) trải qua một lần đại tu. Năm Càn Long thứ 25 (1760), nhân dịp Thuần Huệ Hoàng quý phi nhập táng, phi viên tẩm lại được trùng tu một lần nữa.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu[13][sửa | sửa mã nguồn]

Tên Chân dung Sinh mất Cha Ghi chú
Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu
Phú Sát thị
《孝贤纯皇后朝服像》局部.jpg 28 tháng 3 năm 1712
8 tháng 4 năm 1748
(36 tuổi)
Lý Vinh Bảo
(李榮保)
Xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, Đích Phúc tấn của Càn Long Đế khi còn ở Tiềm để.

Tấn lập làm Hoàng hậu năm 1737, sau khi Càn Long lên ngôi.

Sinh 2 Hoàng tử và 2 Hoàng nữ.

Kế Hoàng hậu
Na Lạp thị
C-F Attiret La Concubine.jpg 11 tháng 3 năm 1718
14 tháng 7 năm 1766
(48 tuổi)
Na Nhĩ Bố
(那爾布)
Xuất thân Mãn Châu Chính Lam kỳ, Trắc Phúc tấn của Càn Long Đế khi ở Tiềm để. 

Sơ phong Nhàn phi (嫻妃), dần đến Quý phi rồi Hoàng quý phi. Trước khi trở thành Hoàng hậu, bà thống lĩnh lục cung với danh hiệu độc nhất [Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi; 攝六宮事皇貴妃]. 

Lập làm Hoàng hậu vào năm 1750. Sinh 2 Hoàng tử và 1 Hoàng nữ.

Qua đời không có thụy hiệu, án theo lễ Hoàng quý phi mà an táng.

Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
Ngụy Giai thị
孝仪纯皇后吉服像.jpg 23 Tháng 10, 1727
28 tháng 2 năm 1775
(48 tuổi)
Ngụy Thanh Thái
(魏清泰)
Xuất thân Chính Hoàng kỳ Bao y trực thuộc Nội vụ phủ.

Được Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu tiến cử. Từ phong vị Quý nhân, tấn thăng Lệnh phi (令妃), dần trở thành Hoàng quý phi.

Sinh 4 Hoàng tử và 2 Hoàng nữ.

Khi mất, có thụy hiệu Lệnh Ý Hoàng quý phi. Sau khi con trai là Gia Khánh Đế được chọn làm Trữ quân, bà được Gia Khánh Đế truy phong [Hiếu Nghi hoàng hậu].

Phi tần[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Sinh Mất Cha Ghi chú
Hoàng quý phi
Tuệ Hiền Hoàng quý phi
Cao Giai thị
? 25 tháng 2 năm 1745 Cao Bân (高斌) Xuất thân Tương Hoàng kỳ Bao y; Trắc Phúc tấn khi còn ở Tiềm để.

Sơ phong Quý phi. Thăng Hoàng quý phi năm 1745, mất sau đó 2 ngày.

Không con.

Triết Mẫn Hoàng quý phi
Phú Sát thị
? 20 tháng 8 năm 1735 Ông Quả Đồ (翁果圖) Xuất thân Chính Hoàng kỳ Bao y; là Cách cách khi Càn Long còn là Thân vương.

Mất trước khi Càn Long Đế đăng cơ, tặng Triết phi (哲妃; 1736); sau gia phong lên Hoàng quý phi (1745).

Sinh 1 Hoàng tử và 1 Hoàng nữ.

Thuần Huệ Hoàng quý phi
Tô thị
13 tháng 6 năm 1713 2 tháng 6 năm 1760 Tô Triệu Nam (蘇召南) Dân thường. Là Cách cách khi Càn Long còn là Thân vương.

Sơ phong Thuần tần (純嬪), thăng đến Thuần Quý phi (純貴妃; 1745). Sách phong lên Hoàng quý phi rồi qua đời (1760).

Sinh 2 Hoàng tử và 1 Hoàng nữ.

Thục Gia Hoàng quý phi
Kim Giai thị
1713 15 tháng 11 năm 1755 Kim Tam Bảo (金三寶) Tổ tiên gốc Triều Tiên, phân [Cao Ly Tá lĩnh], giai cấp Bao y. Nhập phủ làm Cách cách khi Càn Long còn là Thân vương.

Sơ phong Quý nhân; dần thăng tới Gia Quý phi (嘉貴妃) (1748).

Sau khi qua đời, được truy phong Hoàng quý phi.

Sinh vị 4 Hoàng tử.

Khánh Cung Hoàng quý phi
Lục thị
12 tháng 8 năm 1724 21 tháng 8 năm 1774 Lục Sĩ Long (陆士隆). Dân thường người Hán. Được quan viên địa phương tiến cử.

Nhập cung sơ phong Thường tại, dần phong tới Khánh Quý phi (慶貴妃; 1768).

Không con. Được con nuôi nấng Gia Khánh Đế, sau truy phong Hoàng quý phi.

Quý phi
Du Quý phi
Kha Lý Diệp Đặc thị
15 tháng 6 năm 1714 9 tháng 7 năm 1792 Ngoại lang Ngạch Nhĩ Cát Đồ (额尔吉图). Xuất thân Mông Cổ Tương Lam kỳ; là Cách cách khi Càn Long còn là Thân vương.

Sơ phong Hải Thường tại (海常在; 1735); dần thăng tới Du phi (愉妃; 1745).

Truy phong Quý phi khi qua đời. Sinh 1 Hoàng tử.

Uyển Quý phi
Trần thị
20 tháng 12 năm 1716 10 tháng 3 năm 1807 Trần Đình Chương (陳廷章) Xuất thân thường dân; là Cách cách khi Càn Long còn là Thân vương. 

Ban đầu phong là Thường tại; dần thăng tới Uyển phi (婉妃; 1794); 

Gia Khánh Đế tôn bà là Uyển Quý Thái phi (婉貴太妃; 1801). Không con.

Dĩnh Quý phi
Ba Lâm thị
1731 19 tháng 2, năm 1800 Nạp Thân (納親) Xuất thân Mông Cổ Tương Hồng kỳ.

Nhập cung làm Quý nhân (1748); dần thăng tới Dĩnh Quý phi (1798).

Không con. Nuôi em trai Gia Khánh là Vĩnh Lân.

Hãn Quý phi
Đới Giai thị
? 29 tháng 4, năm 1764 Na Tô Đồ (那蘇圖) Xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ.

Nhập cung sơ phong Hãn tần (忻嬪; 1753); tấn phong Hãn phi (忻妃; 1763).

Qua đời khi đang mang thai, được táng theo nghi lễ Quý phi. Phi tần đầu tiên thời Càn Long hưởng lễ Quý phi hạ táng.

Sinh 2 Hoàng nữ.

Tuần Quý phi
Y Nhĩ Căn Giác La thị
18 tháng 11 năm 1758 11 tháng 9 năm 1797 Tổng đốc Quế Lâm Xuất thân Mãn Châu Tương Lam Kỳ.

Tham gia Bát Kỳ tuyển tú, chỉ định làm Quý nhân, nhưng khi định ngày nhập cung lại tấn phong Tuần tần (循嬪; 1776). Sau thăng Tuần phi (循妃; 1794).

Không con.

Phi
Thư phi
Diệp Hách Na Lạp thị
(舒妃葉赫那拉氏)
1 tháng 6 năm 1728 30 tháng 5 năm 1777 Nạp Lang Vĩnh Thụy (納蘭永綬) Xuất thân Mãn Châu Chính Hoàng kỳ

Nhập cung sơ phong Quý nhân (1741), dần tăng tới Thư phi (舒妃; 1749).

Sinh Hoàng thập tử. Được cho là nuôi nấng Hòa Thạc Hòa Khác công chúa.

Dự phi
Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị
(豫妃博爾濟吉特氏)
15 tháng 12 năm 1730 26 tháng 10 năm 1774 Căn Đôn (根敦) Xuất thân Mông Cổ. Cha Căn Đôn là Tể tang của bộ tộc Chuẩn Cát Lặc Tạp Đặc, vốn thuộc Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ, sau quy phụ Đại Thanh.

Nhập cung sơ phong Quan nữ tử, đặc phong Đa Quý nhân (多貴人; 1758); dần thăng tới Dự phi (1763).

Từng mang thai mà sinh non. Được cho là nuôi dưỡng Cố Luân Hòa Tĩnh công chúa.

Dung phi
Hoà Trác thị
(容妃和卓氏)
15 tháng 9 năm 1734 24 tháng 5 năm 1788 Hoà Trác Mộc (和卓木) Người Duy Ngô Nhĩ. Cùng anh trai Đồ Nhĩ Đô nhập Bắc Kinh, do đó Hòa Trác thị được dâng lên cho Càn Long làm phi.

Nhập cung làm Quý nhân (1760); dần thăng tới Dung phi (1768). Từ khi nhập cung, Hòa Trác thị [luôn có mặt] trong các chuyến du tuần của Càn Long Đế.

Không con. Rất yêu thích Cố Luân Hòa Hiếu công chúa.

Tấn phi
Phú Sát thị
(晋妃富察氏)
? 8 tháng 12 năm 1822 Đức Khắc Tinh Ngạch (德克精额) Xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, là tộc nhân của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu.

Năm Gia Khánh thứ 3, tham dự Bát Kỳ tuyển tú, bị chỉ định vào hầu Càn Long, khi ấy đã là Thái thượng hoàng. Đạt được vị trí Tấn Quý nhân (晉貴人).

Thời Đạo Quang, tôn vị Hoàng tổ Tấn phi (皇祖晉妃). Không con.

Đôn phi
Uông thị
(惇妃汪氏)
27 tháng 3,1746 6 tháng 3 năm 1806 Tứ Cách (四格) Xuất thân Chính Bạch kỳ Bao y.

Được phong Vĩnh Thường tại (永常在; 1764), dần thăng tới Đôn phi (1774). 

Giáng lại Đôn tần vào năm 1778 vì tội đánh chết cung nữ; sau khôi phục Đôn phi vào năm 1780.

Sinh Hoàng thập nữ, Cố Luân Hòa Hiếu Công chúa.

Phương phi
Trần thị
(芳妃陳氏)
? 13 tháng 8 năm 1801 Trần Đình Luân (陳廷綸) Xuất thân dân thường ở Dương Châu, được quan viên địa phương tiến cử.

Nhập cung làm Minh Thường tại (明常在; 1766); dần thăng tới Phương tần (芳嬪; 1794).

Dưới triều Gia Khánh, bà được tôn làm Thái thượng hoàng Phương phi (太上皇芳妃).

Tần
Nghi tần Hoàng thị

(儀嬪黄氏)

? 1737 không rõ Cách cách của Càn Long khi còn là Thân vương. 

Thăng Tần vào năm 1735. Qua đời truy phong Nghi tần.

Di tần Bách thị

(怡嫔柏氏)

? 1757 Bách Sĩ Thái (柏士彩) Sơ phong Quý nhân.

Tấn phong Di tần (怡嫔) năm 1742.

Tuân tần Hoắc Thạc Đặc thị

(恂嬪霍碩特氏)

? 26 tháng 8 năm 1761 Thai cát Ô Ba Thập (乌巴什) Người Mông Cổ.

Sơ phong Quách Thường tại (郭常在) năm 1759, 1 năm sau thăng Quách Quý nhân (郭貴人). Hạ táng truy phong Tuân tần.

Cung tần Lâm thị 

(恭嬪林氏)

? 27 tháng 11 năm 1805 Bái Đường a Phật Âm (佛音) Sơ phong Lâm Thường tại (林常在) (1748); dần thăng tới Cung tần (恭嬪) (1794).
Thận tần Bái Nhĩ Cát Tư thị

(慎嬪拜爾噶斯氏)

? 4 tháng 6 năm 1765 Đức Mục Tề Tắc Âm Sát Khắc (德穆齊塞音察克), Người Mông Cổ.

Sơ phong Y Quý nhân (伊貴人) (1759); Tấn thăng Thận tần (慎嬪) năm 1762.

Thành tần Nữu Hỗ Lộc thị

(誠嬪鈕祜祿氏)

? 11 tháng 4 năm 1784 Nhị đẳng Thị vệ Tá lĩnh Mục Khắc Đăng (穆克登) Sơ phong Quý nhân, thăng thành Lan Quý nhân (蘭貴人) (1757); Tấn lập Thành tần (誠嬪) năm 1776.

Bà chết đuối trong lần du hành xuống phương Nam cùng với Càn Long.[14]

Các ngự thiếp khác
Thuận Quý nhân Nữu Hỗ Lộc thị 

(順貴人鈕祜祿氏)

1748 1788 Tổng đốc Ái Tất Đạt (愛必達) Nhập cung phong Thường Quý nhân (常貴人) (1766); dần thăng tới Thuận phi (順妃) (1779).

Giáng xuống Quý nhân năm 1788.

Thuỵ Quý nhân Tác Xước Lạc thị

(瑞貴人索綽絡氏)

? 1765 Lễ bộ Thượng thư Đức Bảo (德保; 1719-1789) Sơ phong Thụy Thường tại (瑞常在) (1759); Thăng Quý nhân năm 1760.
Ngạc Quý nhân Tây Lâm Giác La thị 

(鄂貴人西林覺羅氏)

? 1808 Tổng đốc Ngạc Lạc Thuấn (鄂樂舜) Nhập cung sơ phong Ngạc Thường tại (鄂常在) (1750); Thăng Quý nhân năm 1794.

Gia Khánh tôn Ngạc Thái Quý nhân.

Bạch Quý nhân Bách thị

(白貴人柏氏)

? 1805 Bách Sĩ Thái (柏士彩) Em gái của Di tần Bách thị (怡嫔柏氏). 

Sơ phong Bạch Thường tại (白常在) (1750); Thăng Quý nhân năm 1794. Gia Khánh tôn Bạch Thái Quý nhân.

Lộc Quý nhân Lục thị

(祿貴人陸氏)

? 1788 không rõ Người Hán, gốc Tô Châu; 

Sơ phong Lộc Thường tại (祿常在) (1760); Thăng Quý nhân năm 1775.

Thọ Quý nhân Bách thị

(壽貴人柏氏)

? 1809 Sơ phong Na Thường tại (那常在) (1764); Giáng chức Na Đáp ứng (那答應); dần thăng tới Thọ Quý nhân năm 1794.
Tân Quý nhân Tăng thị

(新貴人曾氏)

? 1775 không rõ Sơ phong Tân Thường tại (新常在) (1762); Thăng Quý nhân không lâu sau.
Thận Quý nhân Vũ thị

(慎貴人武氏)

? 1777 không rõ Thăng Quý nhân năm 1764.
Phúc Quý nhân

(福貴人)

? 1764 không rõ Sơ phong Phúc Thường tại (福常在) (1763); Thăng Quý nhân năm 1764.
Kim Quý nhân Kim thị

(金貴人金氏)

? 1778 không rõ Sơ phong Kim Thường tại (武常在) (1764); Thăng Quý nhân năm 1777.
Võ Quý nhân Võ thị

(武貴人武氏)

? 1781 không rõ Sơ phong Võ Thường tại (武常在) (1764); Thăng Quý nhân năm 1780.
Tú Quý nhân

(秀貴人)

? 1745 không rõ không rõ danh tính
Quỹ Thường tại

(揆常在)

? 1757 không rõ danh tính
Ninh Thường tại[15]

(寧常在)

1781 không rõ danh tính
Bình Thường tại

(平常在)

1778 không rõ danh tính
Trương Thường tại

(張常在)

1745 không rõ danh tính

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

# Danh hiệu Tên Sinh Mất Mẹ Ghi chú
Hoàng tử
1 Định An Thân vương
(定安親王)
Vĩnh Hoàng 5 tháng 7 năm 1728 21 tháng 4 năm 1750 Triết Mẫn Hoàng quý phi Năm Càn Long thứ 13 (1748), trong đại tang Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu, bất kính trước linh cữu, bị trách phạt và truất tư cách kế vị.

Bạo bệnh mà chết. Tặng Định An Thân vương.

2 Đoan Tuệ Hoàng thái tử
(端慧皇太子)
Vĩnh Liễn 9 tháng 8 năm 1730 23 tháng 11 năm 1738 Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu Được Càn Long Đế yêu quý nhưng chết chỉ vừa 8 tuổi, truy phong Đoan Tuệ Thái tử.
3 Tuần Quận vương
(循郡王)
Vĩnh Chương 15 tháng 7 năm 1735 26 tháng 8 năm 1760 Thuần Huệ Hoàng quý phi Cùng với Vĩnh Hoàng bị Càn Long Đế quở trách trong tang lễ Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu.
4 Lý Đoan Thân vương
(履端親王)
Vĩnh Thành 21 tháng 2 năm 1739 5 tháng 4 năm 1777 Thục Gia Hoàng quý phi Năm Càn Long thứ 28, được chỉ định làm con thờ tự của Lý Ý Thân vương Dận Đào, con trai thứ 12 của Thanh Thánh Tổ.
5 Vinh Thuần Thân vương
(榮純親王)
Vĩnh Kỳ 23 tháng 3 năm 1741 16 tháng 4 năm 1766 Du Quý phi Hoàng tử tài giỏi nhất của Càn Long Đế, tuổi trẻ sớm được phong Thân vương, nhưng mất sớm.
6 Chất Trang Thân vương
(質莊親王)
Vĩnh Dung 28 tháng 1 năm 1744 13 tháng 6 năm 1790 Thuần Huệ Hoàng quý phi Năm Càn Long thứ 24, được chỉ định làm con thờ tự của Thận Tĩnh Quận vương Dận Hi, con trai thứ 21 của Thanh Thánh Tổ.
7 Triết Thân vương
(哲親王)
Vĩnh Tông 27 tháng 5 năm 1746 29 tháng 1 năm 1747 Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu Sinh ra vào ngày Phật đản, rất được Càn Long Đế yêu quý, tên Vĩnh Tông ngầm ý muốn để Hoàng tử làm người kế vị. Không lâu sau, bị đậu mùa mà chết.
8 Nghi Thận Thân vương
(儀慎親王)
Vĩnh Tuyền 31 tháng 8 năm 1746 1 tháng 9 năm 1832 Thục Gia Hoàng quý phi Ông được đánh giá là một người ham mê tửu sắc, chân lại có tật, vì vậy ông không thích hợp ở ngôi Thái tử theo lời của Càn Long Đế. Hoàng tử sống lâu nhất của nhà Thanh.
9 Hoàng cửu tử 2 tháng 8 năm 1748 11 tháng 6 năm 1749 Thục Gia Hoàng quý phi Chết yểu.
10 Hoàng thập tử 12 tháng 6 năm 1751 7 tháng 7 năm 1753 Thư phi Chết yểu.
11 Thành Triết Thân vương
(成哲親王)
Vĩnh Tinh 22 tháng 3 năm 1752 10 tháng 5 năm 1823 Thục Gia Hoàng quý phi Giỏi thư pháp, được liệt vào Tứ đại thư pháp thời bấy giờ.

Tính tình keo kiệt, bủn xỉn nên không được Càn Long Đế yêu quý.

12 Bối lặc
(貝勒)
Vĩnh Cơ 7 tháng 6 năm 1752 17 tháng 3 năm 1776 Kế Hoàng hậu Là con đích xuất, nhưng không được coi trọng, chỉ có danh xưng Bối lặc.
13 Vĩnh Cảnh 2 tháng 1 năm 1756 7 tháng 9 năm 1757 Kế Hoàng hậu Chết yểu.
14 Vĩnh Lộ 31 tháng 8 năm 1757 3 tháng 5 năm 1760 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Chết yểu.
15 Nhân Tông Duệ Hoàng đế Vĩnh Diễm 13 tháng 11 năm 1760 2 tháng 9 năm 1820 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Kế vị, tức Gia Khánh Đế.
16 Hoàng thập lục tử 13 tháng 1 năm 1763 6 tháng 5 năm 1765 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Chết yểu.
17 Khánh Hy Thân vương
(慶僖親王)
Vĩnh Lân 17 tháng 6 năm 1766 25 tháng 4 năm 1820 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Theo sử sách, mỗi ngày ông đều gây rắc rối trong cung khiến Càn Long Đế vô cùng chán ghét.

Sau khi Hòa Thân chết, ông được anh trai là Gia Khánh Đế ban cho Cung Vương phủ, phủ đệ của Hòa Thân.

Hoàng nữ
1 Hoàng trưởng nữ 33 tháng 11 năm 1728 14 tháng 12 năm 1729 Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu Chết yểu.
2 Hoàng nhị nữ 1731 1731 Triết Mẫn Hoàng quý phi Chết yểu.
3 Cố Luân Hòa Kính Công chúa
(固倫和敬公主)
Nại Nhật Lặc Thổ Hạ Kỳ Dương Quý 28 tháng 6 năm 1731 15 tháng 8 năm 1792 Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu Bà là người con gái đích xuất duy nhất còn sống tới khi trưởng thành của Càn Long Đế.

Hạ giá lấy Sắc Bố Đằng Ba Lạc Châu Nhĩ của Khoa Nhĩ Thẩm.

4 Hòa Thạc Hòa Gia Công chúa
(固倫和敬公主)
Hoàng tứ nữ 24 tháng 12 năm 1745 29 tháng 10 năm 1767 Thuần Huệ Hoàng quý phi Hạ giá lấy con trai của Đại học sĩ Phó HằngPhúc Long An.
5 Hoàng ngũ nữ 23 tháng 7 năm 1753 1 tháng 6 năm 1755 Kế Hoàng hậu Chết yểu.
6 Hoàng lục nữ 24 tháng 8 năm 1755 27 tháng 9 năm 1758 Hãn Quý phi Chết yểu.
7 Cố Luân Hòa Tĩnh Công chúa
(固倫和靜公主)
Hoàng thất nữ 10 tháng 8 năm 1756 9 tháng 2 năm 1775 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Hạ giá lấy vương công Mông Cổ Lạp Vượng Đa Nhĩ Tể, cháu của Siêu Dũng Thân vương Sách Lăng.
8 Hoàng bát nữ 16 tháng 1 năm 1758 17 tháng 6 năm 1767 Hãn Quý phi Chết yểu.
9 Hoà Thạc Hoà Khác Công chúa
(和碩和恪公主)
Hoàng cửu nữ 17 tháng 8 năm 1758 14 tháng 4 năm 1780 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Hạ giá lấy Trát Lan Thái, là con trai của Nhất đẳng Vũ nghị Mưu Dũng công Triệu Huệ.
10 Cố Luân Hoà Hiếu Công chúa
(固倫和孝公主)
Hoàng thập nữ 2 tháng 2 năm 1775 13 tháng 10 năm 1823 Đôn phi Tuy chỉ là con gái do phi tần sinh ra nhưng có danh hiệu Cố Luân Công chúa (con gái do Hoàng hậu hạ sinh), là Công chúa được Càn Long Đế sủng ái nhất. Hạ giá lấy Phong Thân Ân Đức, con trai của tham quan Hòa Thân.
Nghĩa nữ
1 Hòa Thạc Hòa Uyển Công chúa
(和硕和婉公主)
24 tháng 7 năm 1734 2 tháng 5 năm 1760 Hoằng Trú (cha sinh)
Phúc tấn Ô Trát Khố thị (mẹ sinh)
Con gái của Hòa Cung Thân vương Hoằng Trú, em trai Càn Long Đế. Hạ giá lấy Ba Lâm Bắc Nhĩ Tế Cát Đặc thị Vương công Đức Lặc Khắc.

Trong văn hoá đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Phim ảnh truyền hình Diễn viên
Năm 1997 《Hoàn Châu cách cách Trương Thiết Lâm
Năm 1998 《Lý Vệ từ quan Vu Ba
Năm 1999 《Hoàn Châu cách cách 2 Trương Thiết Lâm
Năm 2002 《Càn Long vương triều Tiêu Hoảng
Năm 2002 《Giang sơn vi trọng Ngô Kinh
Năm 2002 《Hoàn Châu cách cách 3 Địch Long
Năm 2003 《Càn Long hạ Giang Nam Trần Hạo Dân
Năm 2004 《Thiên hạ lương thương Nhiếp Viễn
Năm 2005 《Thiết tướng quân Trương Thiết Lâm
Năm 2006 《Thiếu niên Gia Khánh Trương Quốc Lập
Năm 2008 《Thượng Thư phòng Viên Hoằng
Năm 2011 《Tân Hoàn Châu cách cách Khưu Tâm Chí
Năm 2017 《Hậu cung Như Ý truyện Hoắc Kiến Hoa
Năm 2018 《Diên Hi công lược Nhiếp Viễn
Năm 2018 《Thiên mệnh Trương Quốc Cường

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 清史稿·卷十·高宗本纪一》:世宗第四子,母孝圣宪皇后,康熙五十年八月十三日生於雍亲王府邸。
  2. ^ 罗庆泗,唐文基.《乾隆传》.北京:人民出版社,1994
  3. ^ 杨启樵.《揭开雍正皇帝隐秘的面纱》.香港:商务印书馆(香港)有限公司, 2000
  4. ^ 《清史稿·卷十·高宗本纪一》:隆准颀身,圣祖见而锺爱,令读书宫中,受学於庶吉士福敏,过目成诵。复学射於贝勒允禧,学火器於庄亲王允禄。木兰从狝,命侍卫引射熊。甫上马,熊突起。上控辔自若。圣祖御枪殪熊。入武帐,顾语温惠皇太妃曰:“是命贵重,福将过予。
  5. ^ 王先谦:《东华续录》乾隆一、雍正十三年十月己丑。
  6. ^ 《清史稿·卷十·高宗本纪一》:隆准颀身,圣祖见而锺爱,令读书宫中,受学於庶吉士福敏,过目成诵。复学射於贝勒允禧,学火器於庄亲王允禄。木兰从狝,命侍卫引射熊。甫上马,熊突起。上控辔自若。圣祖御枪殪熊。入武帐,顾语温惠皇太妃曰:“是命贵重,福将过予。”
  7. ^ 纪连海解读《甄嬛传》:弘时储位落空郁郁而终 .中国新闻网
  8. ^ 《清史稿·卷十·高宗本纪一》:雍正元年八月,世宗御乾清宫,密书上名,缄藏世祖所书正大光明扁额上。
  9. ^ 《清史稿·卷十·高宗本纪一》:(雍正)十三年八月丁亥,世宗不豫。时驻跸圆明园,上与和亲王弘昼朝夕谨侍。戊子,世宗疾大渐,召庄亲王允禄,果亲王允礼,大学士鄂尔泰、张廷玉,领侍卫内大臣丰盛额、讷亲,内大臣户部侍郎海望入受顾命。己丑,崩。王大臣请奉大行皇帝还宫。庄亲王允禄等启雍正元年立皇太子密封,宣诏即皇帝位。
  10. ^ Clarke 2004, tr. 37.
  11. ^ Perdue 2005, tr. 287.
  12. ^ Theo Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, trích dẫn từ Thánh vũ ký của Ngụy Nguyên đời Thanh
  13. ^ Draft history of the Qing dynasty, Consort files. 《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.
  14. ^ "乾隆四十九年四月十一日,誠嬪不慎落水溺亡于南巡迴鑾的途中. 清末野史传说乾隆帝下江南时将孝贤皇后推进水里淹死"
  15. ^ Thường tuỳ giá theo càn Long đi tuần du phương Nam

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]