Càn Long

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Càn Long Đế
乾隆帝
Hoàng đế Trung Hoa
乾隆皇帝老年肖像.jpg
Flag of the Qing dynasty (1889-1912).svg Hoàng đế thứ 6 của Đại Thanh
Trị vì 8 tháng 10 năm 17359 tháng 2 năm 1796
(60 năm,124 ngày)
Tiền nhiệm Thanh Thế Tông
Kế nhiệm Thanh Nhân Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu
Kế hoàng hậu
Hiếu Nghi Thuần hoàng hậu
Hậu duệ
Tên húy Ái Tân Giác La Hoằng Lịch (爱新觉罗弘曆)
Niên hiệu Càn Long (乾隆)
Thụy hiệu Pháp Thiên Long Vận Chí Thành Tiên Giác Thể Nguyên Lập Cực Phu Văn Phấn Vũ Khâm Minh Hiếu Từ Thần Thánh Thuần hoàng đế
(法天隆運至誠先覺體元立極敷文奮武欽明孝慈神聖純皇帝)
Miếu hiệu Cao Tông (高宗)
Triều đại Nhà Thanh
Thân phụ Thanh Thế Tông
Thân mẫu Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu
Sinh 25 tháng 9, 1711(1711-09-25)
Mất 7 tháng 2, 1799 (87 tuổi)
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Trung Quốc
An táng Dụ lăng (裕陵), Đông Thanh mộ, Tuân Hóa

Thanh Cao Tông (chữ Hán: 清高宗, 25 tháng 9, 17117 tháng 2, 1799), là Hoàng đế thứ 6 của nhà Thanh. Trong thời gian trị vì của mình, ông dùng niên hiệu Càn Long(乾隆), vì vậy hay được gọi là Càn Long Đế (乾隆帝).

Là vị hoàng đế có tuổi thọ lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ trị vì của Càn Long hoàng đế kéo dài hơn 60 năm từ 11 tháng 10, 1736 đến 1 tháng 9, 1795, và là thời cực thịnh về kinh tế cũng như quân sự của nhà Thanh. Vào thời này, lãnh thổ nhà Thanh kéo dài đến Châu thổ sông Y LêTân Cương, lãnh thổ Trung Quốc mở rộng đến tối đa: khoảng 11.000.000 km², so với 9.000.000 km² hiện tại.

Ông học theo cách thức cai trị của ông nội mình là Thanh Thánh Tổ Khang Hy hoàng đế, người mà ông rất ngưỡng mộ. Khi còn trẻ, Càn Long đã khiến Khang Hy ngạc nhiên về rất nhiều lĩnh vực, nhất là về văn học nghệ thuật. Khang Hi đã cho rằng Càn Long có thể sẽ xứng đáng trở thành Hoàng đế kế vị nhà Thanh sau Ung Chính.

Lúc lên ngôi, Càn Long có mở một số cuộc viễn chinh và đã thất bại, ông cũng thu nạp nhiều phi tần, tuần du các nơi, kết nạp lộng thần tham ôHòa Thân.

Năm 1796, ông nhường ngôi cho con là Vĩnh Diễm, lên làm Thái thượng hoàng, giữ vững quyền chính. Năm 1799 ông mất, hưởng thọ 87 tuổi. Thụy hiệu đầy đủ của ông là Pháp Thiên Long Vận Chí Thành Tiên Giác Thể Nguyên Lập Cực Phu Văn Phấn Vũ Khâm Minh Hiếu Từ Thần Thánh Thuần hoàng đế (法天隆運至誠先覺體元立極敷文奮武欽明孝慈神聖純皇帝).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Càn Long cưỡi ngữa.

Theo Thanh sử cảo, Càn Long hoàng đế tên thật là Hoằng Lịch (弘曆), sinh vào ngày 13 tháng 8 (tức ngày 25 tháng 9 dương lịch) năm 1711, tức năm Khang Hi thứ 50. Ông là con trai thứ 4 của Thanh Thế Tông Ung Chính hoàng đế, mẹ là Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị, vốn là Quý phi của Ung Chính đế.

Một trong những truyền thuyết phổ biến nhất về thân thế của Càn Long lưu truyền trong các câu chuyện dân gian, các bộ tiểu thuyết, dã sử chính là giả thuyết Càn Long là con cháu dòng họ Trần ở Hải Ninh, Chiết Giang. Chuyện kể rằng, vào ngày 13 tháng 8 năm Khang Hy thứ 50, tức năm 1711, phủ của Ung Thân Vương, người sau này trở thành Hoàng đế Ung Chính, trở nên nhộn nhịp vui vẻ lạ thường. Hôm đó, Hoàng tử Ung Chính có thêm một đứa con. Cùng trong ngày hôm đó, nhà họ Trần ở Hải Ninh cũng có thêm một đứa trẻ. Nhà họ Trần ở đây chính là chỉ Trần Thế Quán, hay còn gọi là "Trần Các Lão", một người từng làm quan dưới thời Khang Hy và có quan hệ cực kỳ mật thiết với hoàng tử thứ 4, Ung thân vương Dận Chân (tức Ung Chính hoàng đế).

Lúc bấy giờ, Vương phi của hoàng tử Dận Chân và vợ của Trần Các Lão đều mang thai. Không lâu sau đó, cả hai người cùng sinh vào một ngày, Vương phi của Ung Chính sinh ra một cách cách còn vợ của Trần thì sinh ra một bé trai. Ung Chính nghe nói con trai của Trần Các Lão sinh cùng ngày với cách cách của mình mới lệnh cho Trần mang con con vào vương phủ của mình để xem mặt. Lệnh của vương gia không thể không nghe, Trần Các Lão không còn cách nào khác đành phải mang con của mình đưa vào vương phủ. Tuy nhiên, khi đứa bé được trả về cho nhà họ Trần thì ban đầu là con trai giờ lại hóa thành con gái. Đứa con trai nhà họ Trần bị đánh tráo vào phủ Ung Chính sau này chính là Hoàng đế Càn Long.

Câu chuyện này đã được Kim Dung hư cấu thành bộ tiểu thuyết Thư kiếm ân cừu lục. Tuy nhiên đây chỉ là truyền thuyết, thể hiện mong ước của người Hán khi bị người Mãn đô hộ, tự an ủi mình rằng vua trên ngai vàng vẫn là người Hán.

Lên ngôi Hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi Hoằng Lịch lên ngôi, tin tức về người kế vị đã được nhiều người biết đến. Hoằng Lịch chính là người được Hoàng đế Khang Hi (ông nội) và phụ hoàng là Ung Chính đánh giá cao; trên thực tế, Ung Chính đã giao cho Hoằng Lịch nhiều công việc quan trọng từ khi Hoằng Lịch còn là hoàng tử, bao gồm cả những việc triều chính liên quan đến các chiến lược quân sự. Để tránh lặp lại một cuộc tranh giành quyền lực - điều vốn để lại vết nhơ trong con đường đến ngai vàng của mình, Hoàng đế Ung Chính đã viết sẵn tên người kế ngôi, đưa vào trong một chiếc hộp niêm phong cẩn thận được đặt phía sau tấm bảng phía trên ngai vàng tại Càn Thanh Cung (乾清宮). Tên người kế vị sẽ được công khai cho các hoàng thân trong cuộc họp mặt của tất cả các quan đại thần, sau khi Hoàng đế mất.

Vào năm 1735, Hoàng đế Ung Chính đột ngột qua đời, di chúc của ông đã được công bố trước triều đình nhà Thanh, và Hoằng Lịch đã chính thức trở thành Hoàng đế Mãn châu thứ 6 của Trung Hoa, mở ra triều đại Càn Long (乾隆).

Các cuộc chiến tranh biên giới[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng đế Càn Long được đánh giá là một nhà quân sự tài ba. Ngay sau khi lên ngôi, ông đã cho quân đàn áp cuộc khởi nghĩa của người Miêu vào năm 1735-1736. Những chiến dịch sau đó của ông đã làm mở rộng đáng kể lãnh thổ nhà Thanh. Sự thành công này một phần cậy nhờ vào sức mạnh quân sự, phần còn lại là sự chia rẽ và ngày một suy yếu của những dân tộc nội Á. Dưới thời Càn Long, Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ đặt dưới sự cai trị của nhà Thanh; sau đó nó đã đổi tên thành Tân Cương; trong khi đó, ở phía Tây, vùng Nội Mông là một đơn vị đồn trú của quân đội nhà Thanh. Sự sáp nhập Tân Cương vào trong lãnh thổ nhà Thanh là kết quả của các chiến thắng quân sự và sự sụp đổ của Hãn Quốc Chuẩn Cát Nhĩ, một liên minh giữa các bộ tộc Tây Mông Cổ. Theo học giả Ngụy Viên (đời nhà Thanh), 40% trong tổng số 600,000 người Chuẩn Cát Nhĩ đã chết do bệnh đậu mùa, 20% phải di dân đến các khu vực của tộc người Nga, người Kazash, 30% bị quân đội nhà Thanh tiêu diệt [1]. Còn sử gia Peter Perdue cho rằng sự suy giảm dân số của người Chuẩn Cát Nhĩ là kết quả của chính sách diệt chủng triệt để của Càn Long [2].

Suốt thời gian này đã tiếp tục diễn ra sự can thiệp của người Mông Cổ vào Tây Tạng; ở chiều ngược lại đó là sự thâm nhập của Phật giáo Tây Tạng vào Mông Cổ. Sau cuộc bạo loạn Llasa vào năm 1750, Càn Long đã trao quyền trị vì Tây Tạng cho Đà Lai Lạt Ma nhưng song song đó, lại đặt nó dưới sự giám sát của các quan Đại thần và quân đội nhà Thanh đồn trú tại đây nhằm bảo vệ chủ quyền của Trung Hoa. Ở những mặt trận xa hơn, ông đã thần phục được người Nepal, người Gukhas.

Ngoài ra, Càn Long cũng đã có âm mưu thôn tính Burma nhưng cuối cùng đã thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh Thanh-Miến.

Điều quân sang Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1788, thân mẫu của hoàng tử Lê Duy Kỳ cùng các bầy tôi sang Long Châu cầu viện nhà Thanh phát binh đánh Tây Sơn. Tháng 7 năm 1788, Lê Chiêu Thống ở Kinh Bắc cũng sai người sang Trung Quốc cầu viện, Càn Long bèn nhân cơ hội đánh chiếm Đại Việt. Cuối năm 1788, Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy hơn 29 vạn quân, huy động từ Lưỡng Quảng, Vân Nam và Quý Châu[3] hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam với danh nghĩa phù , vào chiếm đóng Thăng Long.

Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Bắc Bình vương Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Với lý do vua Lê đã bỏ nước và rước giặc về, để có danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung.

Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), đại quân của hoàng đế Quang Trung tới Nghệ An, dừng quân tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ngoài ra còn có một đội tượng binh với hơn 100 voi chiến[4]. Vua Quang Trung còn tổ chức lễ duyệt binh ngay tại Nghệ An để khích lệ ý chí quyết chiến, quyết thắng của tướng sĩ đối với quân xâm lược Mãn Thanh. Ngay sau lễ duyệt binh, Quang Trung tiến quân ra Bắc Hà.

Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, Ninh Bình. Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung nói với toàn quân rằng chỉ trong 10 ngày sẽ quét sạch quân Thanh.

Sớm hơn cả dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Thanh[5] bằng hàng loạt trận đánh tập kích, mai phục, thần tốc và chớp nhoáng mà trận Ngọc Hồi - Đống Đa là tiêu biểu. Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu - 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long.

Tôn Sĩ Nghị dẫn tàn quân bỏ chạy, trên đường chạy liên tiếp bị quân Tây Sơn mai phục chặn đánh gây tổn thất lớn. Nhưng may mắn Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống vẫn chạy thoát về Trung Quốc.

Lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1928, quân phiệt Tôn Điền Dương đã đem quân vào khu vực lăng tẩm nhà Thanh ở Sơn Đông, quật mộ của Càn Long và Từ Hi Thái Hậu. Chỉ có lăng của Khang Hy là còn toàn vẹn, vì khi bẩy mở được cửa lăng thì một khối nước màu vàng khè từ bên trong tuôn tràn ra rất mạnh, quân sĩ sợ hãi quá phải bỏ chạy.

Bên trong mộ của các vua chúa này được xây cất như sau:

Đường hầm dẫn vào những ngôi mộ của họ lát đá hoa trắng, xuyên qua bốn cái cổng được chạm trổ rất công phu bằng đá. Nơi để quan tài yên nghỉ của họ là một khuôn hình bát giác, trên vòm trần khắc chín con rồng bằng vàng lóng lánh. Khu vực yên nghỉ khá rộng, lớn bằng điện Trung Hoà trong Tử Cấm Thành. Càn Long được chôn trong hai lần quan tài. Quan tài bên trong và bên ngoài được làm bằng một loại gỗ đặc biệt quý. Những báu vật trong hai ngôi mộ này gồm rất nhiều ngọc ngà châu báu cực kỳ quý giá và đắt tiền, ngoài ra còn có những hoạ phẩm, kiếm báu, sách quý, ngà voi và các tượng Phật. Các đồ quý làm bằng lụa và gấm thì chỉ một thời gian là bị mục rã.

Tin các lăng tẩm của Càn Long và Từ Hi bị khai quật để lấy của đã gây chấn động và căm phẫn sâu sắc cho Phổ Nghi và các thành viên hoàng tộc, cựu thần nhà Thanh.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Hiền hoàng hậu Phú Sát thị (孝賢皇后富察氏)
Kế hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị (继皇后烏拉那拉氏)
Hiếu Nghi hoàng hậu Ngụy Giai thị (孝儀皇后魏佳氏)
  1. Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu Phú Sát thị (孝贤纯皇后富察氏, 1712 - 1748), Mãn châu Tương hoàng kỳ, con gái Lý Vinh Bảo (李荣保), chị gái Đại học sĩ Phó Hằng (傅恒). Sinh Đoan Tuệ Hoàng thái tử Vĩnh Liễn, Triết thân vương Vĩnh Tông, Hoàng trưởng nữ và Cố Luân Hòa Kính công chúa.
  2. Kế Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị (继皇后烏拉那拉氏, 1718 - 1766), Mãn châu Tương lam kỳ, cha là Tá lĩnh Na Nhĩ Bố (那爾布). Hoàng hậu duy nhất của nhà Thanh không có thụy hiệu. Sinh Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ, Hoàng thập tam tử Vĩnh Cảnh và Hoàng ngũ nữ.
  3. Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Ngụy Giai thị (孝儀純皇后魏佳氏, 1727 - 1775), người Giang Tô, con gái Nội quản lĩnh Ngụy Thanh Thái (魏清泰). Bà nhập cung làm cung nữ, sau được Càn Long sủng hạnh, dần lên tước vị Hoàng quý phi. Sau khi Ngụy thị qua đời, thụy hiệu là Lệnh Ý Hoàng quý phi (令懿皇貴妃). Gia Khánh Đế kế vị, truy tôn Hiếu Nghi Hoàng hậu (孝儀皇后), đồng thời ban đài kỳ dòng tộc Ngụy thị (魏氏) thuộc Hán quân kỳ thành Ngụy Giai thị (魏佳氏) thuộc Mãn quân kỳ. Sinh Hoàng thập tứ tử Vĩnh Lộ, Thanh Nhân Tông Gia Khánh đế, Khánh Hi Thân vương Vĩnh Lân, Cố Luân Hoà Tĩnh Công chúaCố Luân Hòa Khác Công chúa.
  • Hoàng quý phi:
  1. Tuệ Hiền Hoàng quý phi Cao Giai thị (慧贤皇贵妃高佳氏, ? - 1745), con gái Đại học sĩ Cao Bân (高斌). Dòng tộc Cao thị (高氏) thuộc Hán quân kỳ được Thanh Nhân Tông ban đài kỳ, thành Cao Giai thị (高佳氏) thuộc Mãn quân kỳ.
  2. Thuần Huệ Hoàng quý phi Tô thị (纯惠皇贵妃苏氏, 1713 - 1760), con gái Tô Triệu Nam (蘇召南). Sinh ra Tuần quận vương Vĩnh Chương, Chất Trang thân vương Vĩnh DungHoà Thạc Hoà Gia Công chúa.
  3. Thục Gia Hoàng Quý phi Kim Giai thị (淑嘉皇贵妃金佳氏, ? - 1755), con gái Kim Tam Bảo (金三寶), người gốc Triều Tiên. Bà đã sinh cho Càn Long 4 Hoàng nam: Lí Đoan Thân vương Vĩnh Thành, Nghi Thận Thân vương Vĩnh Tuyền, Hoàng cửu tử và Thành Triết thân vương Vĩnh Tinh.
  4. Khánh Cung Hoàng Quý phi Lục thị (庆恭皇贵妃 陆氏, 1724 - 1774), con gái Lục Sĩ Long (陆士隆). Bà nhận nuôi dưỡng Thanh Nhân Tông Gia Khánh đế, không con. Gia Khánh Đế niệm ân dưỡng dục, tôn làm Hoàng quý phi.
  5. Triết Mẫn Hoàng quý phi Phú Sát thị (哲悯皇贵妃 富察氏, ? - 20 tháng 5, 1735), thuộc gia tộc Phú Sát thị của Mãn Châu, qua đời ngay trước khi Càn Long lên ngôi nên chưa từng làm Hoàng quý phi khi còn sống. Bà sinh ra Định An thân vương Vĩnh Hoàng và Hoàng nhị nữ. Khi Càn Long đăng cơ, truy phong Triết phi (哲妃), về sau gia phong lên thành Hoàng quý phi.
  • Quý phi:
  1. Du Quý phi Kha Lí Diệp Đặc thị (愉贵妃珂里叶特氏, 1714 – 1792), thuộc gia tộc Kha Lí Diệp Đặc thị (Keliyete) của Mãn Châu, con gái của ngoại lang Ngạch Nhĩ Cát Đồ (额尔吉图). Bà sinh ra con trai là Hoàng ngũ tử Vinh Thân vương Vĩnh Kỳ. Khi chết truy phong Quý phi.
  2. Uyển Quý phi Trần thị (婉貴妃陳氏, 1716 - 1807), người Hán, bà lấy Càn Long khi ông còn là Bảo Thân vương. Khi lên ngôi, bà được phong Quý nhân (貴人). Năm 1749, trở thành Uyển tần (婉嬪), bà ở chức vị này hơn 40 năm cho đến năm 1794, bà được phong làm Uyển phi (婉妃). Khi Càn Long mất, bà được Gia Khánh tôn làm Uyển Quý thái phi (婉貴太妃).
  3. Dĩnh Quý phi Ba Lâm thị (穎貴妃巴林氏, 1731 - 1800), thuộc tộc Mông Cổ, nhập cung khi Càn Long vừa lên ngôi không lâu, được phong Dĩnh quý nhân (穎貴人). Năm 1751, trở thành Dĩnh tần (穎嬪), rồi năm 1759 thành Dĩnh phi (穎妃). Năm 1798, khi bà gần 70 tuổi, được sắc phong làm Dĩnh Quý phi (穎貴妃), sau đó Gia Khánh tôn bà làm Dĩnh Quý thái phi (穎貴太妃).
  4. Hãn Quý phi Đái Giai thị (忻贵妃戴佳氏, ? - 1764), thuộc gia tộc Đái Giai thị của Tương hoàng kỳ. Bà nhập cung năm 1754, trở thành Hãn tần (忻嬪), bà sinh ra tổng cộng 2 công chúa cho Càn Long nhưng đều mất sớm. Năm 1763, bà được phong Hãn phi (貴妃) rồi qua đời.
  5. Tuần Quý phi Y Nhĩ Căn Giác La thị (循貴妃伊爾根覺羅氏, ? - 1797), thuộc Mãn Châu Tương Lam Kỳ. Năm 1764 cùng Kim quý nhân nhập cung, phong làm Tuần tần (循嬪), rồi Tuần phi (循妃). Đến khi qua đời, được Gia Khánh đế dùng lễ Quý phi nhập táng.
  • Phi:
  1. Thư phi Diệp Hách Na Lạp thị (舒妃葉赫那拉氏, 1728 - 1777), cha là Thị lang Nạp Lang Vĩnh Thụ (納蘭永綬). Cụ tổ là Diệp Hách bối lặc Kim Thai Thạch (金台石), là anh trai của Hiếu Từ Cao hoàng hậu Diệp Hách Na lạp thị. Năm 1742, nhập cung sơ phong Quý nhân (貴人), rồi tháng 11 năm đó tấn thăng làm Thư tần (舒嬪). Năm 1749, tháng 4, tấn thăng Thư phi (舒妃). Sinh ra Hoàng thập tử nhưng mất sớm. Sau khi qua đời, chôn cất ở Dụ lăng phi viên tẩm.
  2. Dự phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (豫妃博爾濟吉特氏, 1730 - 1774), người Mông Cổ, cha là Tắc Tang Căn Đôn (塞桑根敦). Năm 1758 tiến cung, sơ phong Đa quý nhân (多貴人), sang năm nâng làm Dự tần (豫嬪). Năm 1763, tấn phong Dự phi (豫妃). Sau khi qua đời, chôn cất ở Dụ lăng phi viên tẩm.
  3. Tấn phi Phú Sát thị (晋妃 富察氏, ? - 1822), nguyên là Tấn tần (晋嬪), thuộc gia tộc Phú Sát thị của Mãn Châu, cha là Chủ sự Đức Khắc Tinh Ngạch (德克精额), cháu của đại thần Mễ Tư Hàn (米思翰), anh trai của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu. Năm 1763, nhập cung sơ phong Đáp ứng (答應), cúng thời kì Càn Long tấn phong Quý nhân (貴人). Năm 1820, bà được cháu của Càn Long là Thanh Tuyên Tông Đạo Quang phong làm Hoàng tổ Tấn Thái phi (皇祖晉太妃).
  4. Dung phi Hoà Trác thị (容妃和卓氏, 1734-1788), có lẽ chỉ là nhân vật pha trộn giữa truyền thuyết và sự thật.
  5. Đôn phi Uông thị (惇妃汪氏, 1746 - 1806), con gái của Đô thống Tứ Cách (四格). Năm 1764, Uông thị nhập cung, thiên tư mỹ miều, khi nhập cung nhanh chóng là sủng phi của Càn Long, phong làm Vĩnh Thường tại (永常在). Năm 1770, tấn phong Đôn tần (惇嬪). Đến năm 1776 tấn phong làm Đôn phi (惇妃). Năm 1778, Đôn phi sinh kiêu ngạo mà đánh chết cung nữ, bị giáng làm Đôn tần, nhưng 2 năm sau (1780) lại phục vị. Sinh ra Cố Luân Hòa Hiếu Công chúa, rất được sủng ái, hạ giá lấy con trai của Hòa Thân.
  6. Phương phi Trần thị (芳妃陳氏, ? - 1801), người Dương Châu, cha là Trần Đình Luân (陳廷綸). Năm 1766 nhập cung, tấn phong Minh Thường tại (明常在). năm 1775 tấn phong Minh quý nhân (明貴人). năm 1794, tấn phong làm Phương tần (芳嬪). Dưới triều Gia Khánh, bà được tấn phong Phương phi (芳妃).
  • Tần:
  1. Nghi tần Hoàng thị (儀嬪黄氏, ? - 1737), vào hầu Càn Long khi còn là Bảo Thân vương, chức vị Cách cách. Sau khi Càn Long đăng cơ, tấn phong làm Nghi quý nhân (仪贵人). Mất sớm, dùng lễ táng của Tần để an táng.
  2. Tuân tần Hoắc Thạc Đặc thị (恂嬪霍碩特氏, ? - 1761), sơ phong Quách thường tại (郭常在), rồi Quách quý nhân (郭貴人). Sau khi mất, hạ táng truy phong Tần.
  3. Cung tần Lâm thị (恭嬪林氏, ? - 1805), con gái của Bái Đường Á Phật Âm (拜唐阿佛音). Năm 1748 tấn phong Lâm thường tại (林常在). Năm 1751 tấn thăng Lâm quý nhân (林贵人). Bà dữ ngôi vị Quý Nhân trong suốt 43 năm đến năm 1794, tấn lập Cung tần (恭嬪).
  4. Di tần Bách thị (怡嫔柏氏, ? - 1757), con gái của Bách Sĩ Thái (柏士彩). Sơ phong vi Di quý nhân (怡贵人). Năm 1742 tấn thăng Di tần (怡嫔).
  5. Thận tần Bái Nhĩ Cát Tư thị (慎嬪拜爾噶斯氏, ? - 1765), người Mông Cổ, con gái của Đức Mục Tề Tắc Âm Sát Khắc (德穆齊塞音察克). Năm 1759, tấn phong Y quý nhân (伊貴人). Năm 1762, tấn phong làm Thận tần (慎嬪).
  6. Thành tần Nữu Hỗ Lộc thị (誠嬪鈕祜祿氏, ? - 1784), con gái của Nhị đẳng thị vệ Tá lĩnh Mục Khắc Đăng (穆克登). Năm 1757, nhập cung tấn phong Lan quý nhân (蘭貴人). Năm 1776, tấn thăng Thành tần (誠嬪).
  • Quý nhân:
  1. Thuận quý nhân Nữu Hỗ Lộc thị (順貴人鈕祜祿氏).Cha mà tổng đốc Ái Tất Long. Năm 1766 bà nhập cung phong làm Thường quý nhân (常貴人). Năm 1768 bà được phong làm Thuận Tần. Năm 1776 bà được phong làm Thuận Phi. Buổi lễ phong của bà do Sùng Khánh Hoàng Thái Hậu qua đời nên phải hoãn lại đến năm 1778. Năm 1788 Nữu Hộ Lộc thị bị giáng xuống làm Thuận quý nhân không rõ lý do. Bà qua đời cũng vào năm đó hưởng thọ 40 tuổi.
  2. Thuỵ quý nhân Tác Xước Lạc thị (瑞貴人索綽絡氏).
  3. Ngạc quý nhân Tây Lâm Giác thị (鄂貴人西林覺羅氏).
  4. Thọ quý nhân Bách thị (壽貴人柏氏).
  5. Lộc quý nhân Lục thị (祿貴人陸氏).
  6. Thận quý nhân Vũ thị (慎貴人武氏).
  7. Võ quý nhân (武貴人).
  8. Kim quý nhân (金貴人).
  9. Tân quý nhân (新貴人).
  10. Phúc quý nhân (福貴人)
  11. Tú quý nhân (秀貴人).
  12. Na quý nhân (那贵人).
  • Thường tại:
  1. Quỹ thường tại (揆常在).
  2. Trương thường tại (張常在).
  3. Ninh thường tại (寧常在).
  4. Bình thường tại (平常在).
  • Đáp ứng:
  1. Tường đáp ứng (祥答应).
  2. Lan đáp ứng (兰答应).

Hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hoàng trưởng tử Vĩnh Hoàng [永璜; 5 tháng 7, 172821 tháng 4, 1750], mẹ là Triết Mẫn Hoàng quý phi. Khi Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu Phú Sát thị qua đời, ông với tư cách trưởng tử chịu tang lễ, cũng một phần vì mẹ ông là chị trong tộc Phú Sát thị cùng với Hoàng hậu. Trong ngày hạ táng Phú Sát hoàng hậu, Đại hoàng tử cùng em trai là Tam hoàng tử Vĩnh Chương hành xử không đúng mực, bị Càn Long Đế truất tư cách kế vị. Không lâu sau, hoàng tử bệnh nặng qua đời khi vừa 22 tuổi, được truy thụy là Định An thân vương (定安親王).
  2. Hoàng nhị tử Vĩnh Liễn [永璉; 9 tháng 8, 173023 tháng 11, 1738], mẹ là Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu. Thông minh hoạt bát, được Càn Long Đế yêu quý nhưng mệnh yểu. Khi chết chỉ vừa 8 tuổi, được truy thụy là Đoan Tuệ hoàng thái tử (端慧皇太子).
  3. Hoàng tam tử Vĩnh Chương [永璋; 15 tháng 7, 173526 tháng 8, 1760], mẹ là Thuần Huệ Hoàng Quý Phi. Sơ phong Tuần quận vương (循郡王), không được Càn Long Đế sủng ái. Hoàng tử cùng Đại hoàng tử Vĩnh Hoàng bị truất quyền kế vị ngay khi hạ táng Phú Sát hoàng hậu. Qua đời cùng năm với mẹ ruột Hoàng quý phi Tô thị vào năm 1760, thọ 25 tuổi.
  4. Hoàng tứ tử Vĩnh Thành [永珹; 21 tháng 2, 17395 tháng 4, 1777], mẹ là Thục Gia Hoàng Quý Phi. Càn Long năm thứ 28, chỉ định làm con thờ tự của Lý Ý thân vương Dận Đào (胤祹), con trai thứ 12 của Thanh Thánh Tổ. Sau khi chết, truy thụy là Lí Đoan Thân vương (履端亲王).
  5. Hoàng ngũ tử Vĩnh Kỳ [永琪; 23 tháng 3, 174116 tháng 4, 1766], mẹ là Du Quý phi. Hoàng tử đa tài đa nghệ, giỏi võ thuật lẫn thi thư, kiến thức uyên bác, có quan hệ tốt với em trai là Thập ngũ hoàng tử Vĩnh Diễm. Càn Long Đế kỳ vọng và yêu mến, phong tặng làm Vinh thân vương (荣亲王), là hoàng tử đầu tiên của Càn Long được phong Thân vương khi còn sống. Nhưng 3 tháng sau bạo bệnh rồi mất, thọ 25 tuổi, được truy thụy là Vinh Thuần thân vương (荣纯亲王). Sau khi hoàng tử qua đời, mẹ ông là Du Quý phi Kha Lý Diệp Đặc thị cũng bị thất sủng, vốn do Càn Long Đế rất yêu quý hoàng tử mà Du Quý phi mới có thể được sủng ái.
  6. Hoàng lục tử Vĩnh Dung [永瑢; 28 tháng 1, 174413 tháng 6, 1790], mẹ là Thuần Huệ Hoàng Quý Phi. Năm Càn Long thứ 24, lấy làm con thờ tự của Thận Tĩnh quận vương Dận Hi (胤禧), con trai thứ 21 của Thanh Thánh Tổ. Sơ phong Bối lặc (貝勒), sau tấn phong Chất quận vương (質郡王), rồi trở thành Thân vương. Giỏi thiên văn, hội họatoán lý. Truy thụy là Chất Trang thân vương (质庄亲王).
  7. Hoàng thất tử Vĩnh Tông [永琮; 27 tháng 5, 174629 tháng 1, 1748], mẹ là Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu. Sinh ra vào ngày Phật đản, rất được Càn Long Đế yêu quý, muôn phần sủng ái, tên Vĩnh Tông của hoàng tử là ngầm ý của Càn Long khi muốn để hoàng tử làm người kế vị. Không lâu sau, bị đậu mùa mà chết, truy thụy Triết thân vương (哲亲王).
  8. Hoàng bát tử Vĩnh Tuyền [永璇; 31 tháng 8, 17461 tháng 9, 1832], mẹ là Thục Gia Hoàng Quý phi. Sau khi mất, truy thụy là Nghi Thận Thân vương (仪慎亲王). Ông là hoàng tử sống lâu nhất của nhà Thanh.
  9. Hoàng cửu tử [皇九子; 2 tháng 8, 174811 tháng 6, 1749], mẹ là Thục Gia Hoàng Quý phi.
  10. Hoàng thập tử [皇十子; 12 tháng 6, 17517 tháng 7, 1753], mẹ là Thư phi.
  11. Hoàng thập nhất tử Vĩnh Tinh [永瑆; 22 tháng 3, 175210 tháng 5, 1823], mẹ là Thục Gia Hoàng Quý phi. Hiệu Thiếu Xưởng (少廠), biệt hiệu Di Tấn trai chủ nhân (詒晉齋主人), sơ phong Thành thân vương (成亲王), lấy Phú Sát thị là con gái của Đại học sĩ Phó Hằng (傅恆), người nhà của Phú Sát hoàng hậu. Sau khi mất, truy thụy là Thành Triết thân vương (成哲亲王).
  12. Hoàng thập nhị thử Vĩnh Cơ [永璂; 7 tháng 6, 175217 tháng 3, 1776], mẹ là Kế Hoàng hậu. Là con đích xuất, nhưng khi trưởng thành không được coi trọng, chỉ có danh xưng Bối lặc (貝勒). Sau khi mẹ là Kế hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị qua đời, ông bị thất sủng và chết khi mới chỉ 25 tuổi.
  13. Hoàng thập tam tử Vĩnh Cảnh [永璟; 2 tháng 1, 17567 tháng 9, 1757], mẹ là Kế Hoàng hậu.
  14. Hoàng thập tứ tử Vĩnh Lộ [永璐; 31 tháng 8, 17573 tháng 5, 1760], mẹ là Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu.
  15. Hoàng thập ngũ tử Vĩnh Diễm [永琰], tức Nhân Tông Duệ hoàng đế, mẹ là Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu. Được phong Gia Thân vương (嘉親王) năm 1789, lên ngôi ngày 9 tháng 2, 1796.
  16. Hoàng thập lục tử [皇十六子; 13 tháng 1, 17636 tháng 5, 1765], mẹ là Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu.
  17. Hoàng thập thất tử Vĩnh Lân [永璘; 17 tháng 6, 176625 tháng 4, 1820], mẹ là Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu. Được phong Bối lặc năm 1789, được phong Khánh Quận vương (慶郡王) năm 1799, được phong Khánh Thân vương (慶親王) năm 1820 nhưng mất cùng vào năm đó. Thụy là Khánh Hi thân vương (庆僖亲王).
  • Tướng quân Phúc Nhĩ Khang (福康安) được đồn đại là con không hợp pháp của Càn Long, nhưng chưa ai chứng minh được điều này. Tuy thế, Phúc Khang An vẫn là vị tướng quân được sủng ái nhất dưới thời Càn Long.

Hoàng nữ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hoàng trưởng nữ [皇长女; 17281729], mẹ là Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu.
  2. Hoàng nhị nữ [皇二女; 1731], mẹ là Triết Mẫn Hoàng quý phi.
  3. Cố Luân Hoà Kính Công chúa [固倫和敬公主; 28 tháng 6, 173115 tháng 8, 1792], mẹ là Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu. Hạ giá lấy Khoa Nhĩ Thẩm Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị Sắc Bố Đằng Ba Lạc Châu Nhĩ (色布腾巴勒珠尔). Tuy xuất giá lấy vương công Mông Cổ, công chúa được Càn Long lưu trú lại kinh sư, hưởng lương bổng 1.000 bạc. Điều này trái với điển lệ vì công chúa ở kinh sư chỉ có 400 bạc, còn khi xuất giá phương viễn mới có mức 1.000 bạc.
  4. Hoà Thạc Hoà Gia Công chúa [和硕和嘉公主; 24 tháng 12, 174529 tháng 10, 1767], mẹ là Thuần Huệ Hoàng Quý Phi. Hạ giá lấy con trai của Đại học sĩ Phó HằngPhúc Long An (福隆安), thuộc dòng họ Phú Sát của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu.
  5. Hoàng ngũ nữ [皇五女; 17531755], mẹ là Kế Hoàng hậu.
  6. Hoàng lục nữ [皇六女; 24 tháng 8, 175527 tháng 9, 1758], mẹ là Hãn Quý phi.
  7. Cố Luân Hoà Tĩnh Công chúa [固伦和静公主; 10 tháng 8, 17569 tháng 2, 1775], mẹ là Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu. Hạ giá lấy Mông Cổ vương công Lạp Vượng Đa Nhĩ Tể (拉旺多尔济), cháu của Mông Cổ Siêu Dũng thân vương Sách Lăng (策棱).
  8. Hoàng bát nữ [皇八女; 17581767], mẹ là Hãn Quý phi.
  9. Cố Luân Hoà Khác Công chúa [固伦和恪公主; 17 tháng 8, 175814 tháng 4, 1780], mẹ là Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu. Hạ giá lấy Trát Lan Thái (札兰泰).
  10. Cố Luân Hoà Hiếu Công chúa [固伦和孝公主; 2 tháng 2, 1775 - 13 tháng 10, 1823], mẹ là Đôn phi, công chúa được Càn Long sủng ái nhất. Hạ giá lấy Phong Thân Ân Đức (豐紳殷德), con trai của đại thần Hòa Thân.

Nghĩa nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử Trung Quốc (Nguyễn Hiến Lê)
  • Lịch sử năm nghìn năm Trung Quốc
  • Thanh Cung mười ba triều

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Clarke 2004, tr. 37.
  2. ^ Perdue 2005, tr. 287.
  3. ^ Theo Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, trích dẫn từ Thánh vũ ký của Ngụy Nguyên đời Thanh
  4. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1987, tr 392
  5. ^ Xem chi tiết bài Nguyễn Huệ
  6. ^ Draft history of the Qing dynasty, Consort files. 《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Qianlong Emperor tại Wikimedia Commons