Phú Xuân
Phú Xuân là một địa danh tại Việt Nam. Trong lịch sử, địa danh này được sử dụng cho nhiều đơn vị hành chính khác nhau, hầu hết thuộc thành phố Huế ngày nay. Hiện tại, địa danh này được dùng chính thức để chỉ đến phường Phú Xuân, một đơn vị hành chính cấp xã thuộc thành phố Huế, Việt Nam.
Nguồn gốc
[sửa | sửa mã nguồn]Thời Lê Trung hưng, Phú Xuân (富春) là tên một ngôi làng nhỏ thuộc tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa. Năm 1687, Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái, dời phủ chúa từ làng Kim Long thuộc tổng Kim Long (cũng thuộc huyện Hương Trà) về làng Phú Xuân. Năm 1712, chúa Minh Nguyễn Phúc Chu dời phủ chúa về làng Bác Vọng (thuộc huyện Quảng Điền). Đến khi Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát lên cầm quyền năm 1738 thì phủ chúa mới trở về lại vị trí Phú Xuân và yên vị từ đó cho đến ngày thất thủ về tay quân họ Trịnh vào năm 1774.[1]
Trong thời kỳ nhà Tây Sơn, Phú Xuân là đất phong của Nguyễn Huệ khi ông còn là Bắc Bình Vương. Từ trước khi lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Huệ đã định dời đô ra Lam Thành, Yên Trường nhưng mà ông cũng đều không thành. Ở năm 1788, Sau khi chính thức lên ngôi Hoàng đế, ông vẫn chọn Phú Xuân là kinh đô của nhà Tây Sơn. Song vì hoàn cảnh chiến tranh, Quang Trung phải lo đối phó cả hai phía bắc (nhà Thanh) và nam (Nguyễn Ánh), nên ông có ý định chọn tỉnh Nghệ An làm nơi đóng đô vì đây là trung tâm giữa hai đường ra vào, gọi là Phượng Hoàng trung đô. Tuy nhiên thành mơi đang xây dang dở thì vua Quang Trung qua đời, hành cung chưa kịp đổi tên thành cung điện, vua kế vị là Nguyễn Quang Toản vẫn tiếp tục ở lại thành Phú Xuân, không xây dựng Phượng Hoàng trung đô nữa.
Sau khi Hoàng đế Quang Trung mất, thế lực của nhà Tây Sơn suy yếu dần, vua Cảnh Thịnh lên ngôi vẫn còn nhỏ tuổi, nhân cơ hội này, năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lật đổ nhà Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế lập ra nhà Nguyễn và vẫn chọn Huế làm kinh đô cho triều đại mới vì nhiều lý do: về mặt lịch sử khi trước đó 9 đời chúa Nguyễn đã chọn đất Phú Xuân làm kinh đô, về địa thế Huế nằm ở trung tâm lãnh thổ Việt Nam thống nhất khi ấy, cũng như về chính trị khi ông lo ngại dân chúng phía Bắc còn thương tiếc triều Lê.[2][3]