Đặng Văn Long

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đặng Văn Long một tướng lĩnh cao cấp của phong trào Tây Sơn [1].

Xuất thân và võ nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Đặng Văn Long tự là Tử Vân quê ở làng Đại An huyện Tuy Viễn phủ Quy Nhơn, nay thuộc xã Nhơn Mỹ huyện An Nhơn, Bình Định. Lúc nhỏ ông học võ, tinh thông môn cương quyền. Sau đó, ông tìm tới thầy Trương Văn Hiến ở An Thái xin học môn miên quyền. Có sức khỏe hơn người và chăm chỉ tập tành, được thầy đem hết những bí truyền dạy cho, Đặng Văn Long trở thành một cao thủ.

Cha Đặng Văn Long là Đặng Văn Lõi vốn từ Bắc Hà cùng với mấy người đồng hương có nghề rèn vào lập nghiệp ở đàng trong lập ra làng Thiết Trụ, nay thuộc xã Nhơn Hậu Huyện An Nhơn. Đặng Văn Long sinh năm Bính Tý (1756), nhỏ hơn Nguyễn Huệ 3 tuổi, cũng coi là đồng trang lứa. Sau khi Đặng Văn Long gặp Nguyễn Huệ và chấp nhận lời mời của Nguyễn Huệ lên Tây Sơn thượng đạo rèn vũ khí cho phong trào Tây Sơn đang trong quá trình chuẩn bị ngày dấy nghiệp thì cả nhà Đặng Văn Long vẫn ở chỗ cũ. Nhưng đến năm 1771, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra thì vợ con và 2 em Đặng Văn Long chạy về Háo Đức, cách Thiết Trụ chừng 25 km, nay thuộc xã Nhơn An huyện An Nhơn. Và con cháu Đặng Văn Long vẫn ở Háo Đức cho đến tận ngày nay [2]

Ông được dân làng An Khê thờ làm vị tổ nghề của địa phương.[3] Qua đó có thể khẳng định rằng ông Đặng Văn Lõi đã cũng theo con là Đặng Văn Long lên Tây Sơn thượng đạo rèn vũ khí cho Tây Sơn và truyền nghề rèn cho dân làng địa phương, nên mới được dân làng tôn là tổ nghề.

Ông được các bạn đồng môn gọi là Đặng Vô Địch vì tuyệt giỏi cả hai môn ngạnh công và miên quyền. Ông có thể nằm dưới đất, cánh tay đỡ được bánh xe nặng, nên ở Quy Nhơn người ta gọi ông là Thiết Tý Đặng (họ Đặng cánh tay sắt).

Tương truyền, Nguyễn Huệ đã gặp ông trong một trường hợp đặc biệt. Lúc này, anh em Tây Sơn mới dấy binh, rất thiếu thốn về binh khí. Mà bọn quyền thần Trương Phúc Loan thì ra lệnh cấm các thợ rèn rèn gươm búa côn chùy… Chúng đề phòng các cuộc khởi nghĩa nổi dậy. Nguyễn Huệ vất vả đi lùng thợ rèn để rước về Tây Sơn thượng đạo. Đến Đại An, gặp một người cao lớn dùng đoạn tre to gánh khoảng mười vuông lúa đi băng băng, Nguyễn Huệ thầm phục liền xuống ngựa hỏi thăm. Người nọ hứa sẽ dẫn đường đi tìm thợ rèn. Nguyễn Huệ ghé vai gánh giùm, nhún mình lên, đoạn tre gãy đôi. Tiện tay, Nguyễn Huệ nhổ một cây trắc bên đường thay đòn gánh. Người nọ quá kính phục sức khỏe phi thường ấy, quỳ xuống lạy. Người ấy không ai khác chính là Đặng Văn Long.

Nghe tiếng Nguyễn Huệ đã lâu, nay mới giáp mặt, Đặng Văn Long vui mừng khôn xiết. Ông mời Nguyễn Huệ về nhà, làm cơm thết đãi và tặng một thanh đại đao quý. Qua trò chuyện, biết tổ tiên ông mấy đời làm nghề rèn, Nguyễn Huệ mời Đặng Văn Long tụ nghĩa. Cảm phục tài đức Nguyễn Huệ, ông nhận lời giúp Tây Sơn (1). Nhờ có ông, nghĩa quân Tây Sơn được trang bị thêm nhiều vũ khí. Tuy nhiên một số dữ liệu nói ông không tham gia phong trào Tây Sơn ngay từ lúc đầu mà phiêu bạt giang hồ để tầm sư học đạo và tu luyện võ nghệ.[4]

Tham gia chiến dịch đánh Mãn Thanh[[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền khi Tây Sơn tuyển thêm quân Thanh Nghệ để tiến ra bắc, Đặng Văn Long ứng nghĩa. Khi luyện tập tân binh ông dùng bộ bào trắng giữa đám quân sĩ sắc đỏ (quân phục Tây Sơn là màu đỏ). Nguyễn Huệ thấy la, sai triệu đến hỏi thì nhận ra ông, rất mừng bèn phong ông làm Đại Đô đốc lĩnh Hữu quân. Có nghi vấn về vai trò lãnh đạo Hữu quân giữa ba viên tướng Tây Sơn là Đặng Văn Long, Lê Văn LongNguyễn Tăng Long. Khi tiến đánh Thăng Long, vua Quang Trung giao cho đô đốc Đặng Văn Long cùng đô đốc Bảo giữ một trong năm đạo quân, làm nhiệm vụ đốc suất hữu quân, trong đó gồm quân voi và quân kỵ mã. Đặng Văn Long xuyên qua huyện Chương Đắc, theo đường thẳng đến làng Nhân Mục huyện Thanh Trì để đánh ngang và dồn quân Điền Châu.

Khi vua Quang Trung đang đánh với quân Thanh ở Ngọc Hồi thì Đặng Văn Long đã đánh tên thái thú Điền Châu ở trại Khương Thượng thuộc huyện Quảng Đức. Quân Thanh đạp lên nhau mà chạy. Thừa thắng, Đặng Văn Long tiến trước vào thành. Vì thích lập công lạ, khi xông ra trận địa, Đặng Văn Long mặc áo màu trắng, cầm kích, lưng đeo cung dài, hăng hái hét to đốc thúc quân sĩ. Ông tiến đến đâu, giặc tan vỡ đến đó. Vì quân Tây Sơn lúc bấy giờ mặc toàn áo đỏ, vua Quang Trung thấy lạ mới cho người cưỡi ngựa đến hỏi người mặc áo trắng là ai. Ông được dẫn đến yết kiến và vua khen ngợi, ban cho hai con ngựa và bốn mươi xấp lụa. Vì vậy, tục truyền là "Bạch y tướng quân".

Năm Cảnh Thịnh thứ 2, những kẻ hoài Lê quấy phá Bắc thành, Đặng Văn Long nhiếp chức tả võ uy tướng An đông đạo kinh lược, cầm quân đánh dẹp. Ông có nhiều công lớn trong việc trấn giữ biên phòng, được phong chức Tả võ lâm quân, đại tướng quân.

Vua Cảnh Thịnh khen ông "phía Bắc phạt quân Thanh, trong nước đánh bọn phản động nhà Lê, định Bắc, bình Nam, làm cho mọi nơi đều tuân theo thanh giáo của ?

Theo thần tích thần phả tại đình Mễ Trì Hạ quận Nam Từ Liêm Hà Nội có đoạn : " Năm Kỷ Dậu (1789), cánh quân thần tốc của Đô đốc Long cũng tiến về đây, ém quân quanh đầm rồi bất ngờ diệt đồn giặc Thanh ở đó và làm cho thái thú Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử, thừa thế tràn vào Thăng Long, tổng đốc Tôn Sĩ Nghị phải vất tất cả để bỏ chạy,.."

Kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Khi nhà Tây Sơn nội bộ rối loạn, ông từ quan về quê mở trường dạy võ.[5].

Hầu hết các nhà nghiên cứu về phong trào Tây Sơn ở miền Bắc cũng như ở Bình Định-quê hương của phong trào này đều thống nhất nhận định là đến triều Cảnh Thịnh, Đặng Văn Long đã có ý từ quan, nhưng phải ở lại Bắc Hà để đánh dẹp các cuộc nổi loạn của Dương Đình Tuấn ở Yên Thế và cha con anh em Phạm Đình Đạt ở Lạng Giang. Sau đó ông trở về quê mở trường dạy võ ở vùng núi Nam Sơn. Nhưng ông nhận thấy lớp võ sinh ngày nay không còn ý chí như thế hệ đàn anh xưa, Đặng Văn Long đóng cửa trường rồi lên núi làm rẫy. Khi Võ Văn Dũng trốn thoát được nanh vuốt của quân Nguyễn (xem chuyện ở trang Võ Văn Dũng), chạy trốn về An Khê với tham vọng tiếp tục xây dựng lực lượng để khôi phục nhà Tây Sơn, bèn tìm đến lôi kéo Đặng Văn Long, nhưng Đặng Văn Long không theo. Về sau không ai biết Đặng Văn Long chết ở đâu và bao giờ. Ngay gia phả họ Đặng thôn Háo Đức cũng chỉ chép Đặng Văn Long chết sớm nhưng không chép rõ ngày giỗ (trường hợp duy nhất trong bản phả). Chẳng những thế dòng họ còn dựng một ngôi mộ giả ở thôn Nhạn Tháp xã Nhơn Hậu, suốt 200 trăm năm con cháu tưởng mộ thật nên hàng năm phải đi xa gần 30 km để tu tảo ngôi mộ đó. Đến năm 1978, theo yêu cầu cải tạo đồng ruộng của địa phương, trưởng tộc Đặng Văn Do (1912-1984) đã trực tiếp cùng mấy con cháu lên Nhạn Tháp để đi dời mộ, nhưng đào mãi vẫn không thấy đi cốt, mới thuê thêm nhiều người dân địa phương đào rộng mỗi chiều 4m sâu 2m cũng không thấy gì, đành về không. Sau sự kiện đó, dòng họ mới xác định lại một ngôi mộ ở Tân Kiều sát dãy núi Nam Sơn, gần nơi xưa kia Đặng Văn Long mở trường dạy võ chính là mộ Đặng Văn Long mà xưa nay cho là mộ bà Võ Thị Trừ vợ ông (nguồn: Do anh Đặng Hữu Nghĩa, con trai ông Đặng Văn Do nói trên cung cấp.[cần dẫn nguồn][2][6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Danh nhân họ Đặng
  2. ^ a ă Gia phả họ Đặng Háo Đức
  3. ^ "Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề" NXB Văn hóa dân tộc, HN-1996, tr.111.
  4. ^ Đặng Văn Long
  5. ^ 2. Đặng Văn Long
  6. ^ Góp bàn chuyện trong sử cũ. Ngô Vui. NXB Lao Động HN/2012

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]