Nguyễn Quang Toản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Cảnh Thịnh
景盛
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 17921802
Tiền nhiệm Quang Trung
Kế nhiệm Nhà Tây Sơn sụp đổ
Thông tin chung
Thê thiếp Lê Ngọc Bình
Tên húy Nguyễn Quang Toản (阮光纘)
Niên hiệu

Thân phụ Quang Trung
Thân mẫu Phạm Thị Liên hoặc Bùi Thị Nhạn [1]
Sinh 1783
Mất 1802 (18–19 tuổi)

Nguyễn Quang Toản (chữ Hán: 阮光纘, 17831802) hay Cảnh Thịnh hoàng đế (景盛皇帝), là con trai thứ của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ). Ông lên ngôi tháng 8 năm 1792 khi mới 9 tuổi, sau khi Nguyễn Huệ mất, năm sau đổi niên hiệu thành Cảnh Thịnh. Tháng 8 năm 1801 ông đổi niên hiệu thành Bảo Hưng. Nguyễn Quang Toản là Hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn nhánh Nguyễn Huệ và cũng là vị hoàng đế cuối cùng của triều đại này.

Cảnh Thịnh sau khi lên ngôi thì bị họ ngoại chuyên quyền, trong đó có cậu họ là Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Vua Quang Toản nhỏ tuổi, không có kinh nghiệm nên không giữ được việc triều chính, làm cho các đại thần quay sang giết hại lẫn nhau dẫn đến nội bộ lục đục, triều chính suy vi và đây là cơ hội cho Nguyễn Ánh tấn công để giành lại chính quyền chỉ sau một thời gian rất ngắn.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Quang Toản còn có tên gọi khác là Trát, mẫu thân là bà Phạm Thị Liên, Chánh cung Hoàng hậu của vua Quang Trung. Bà Phạm Thị Liên là em gái khác cha cùng mẹ với Thượng thư Bộ Hình Bùi Văn Nhựt và Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Bà có với Quang Trung 3 trai, 2 gái, trong đó Quang Toản là Hoàng đích trưởng tử[2]. Trên ông có một người anh trai tên là Quang Thuỳ. Trước kia vua Quang Trung sai một người tên là Phạm Văn Trị đóng giả mình đến chầu vua Càn Long nhà Thanh. Vua Thanh khi đó tưởng Quang Thùy là con trưởng, bèn phong cho làm Thế tử, sau biết Thùy là con vợ thứ, mới đổi phong cho Toản, và ban cho Toản một cái ngọc đái bằng ngọc, hà đai bằng gấm[3].

Tháng 7 năm 1792, Nguyễn Huệ chết, di mệnh cho bọn Trần Văn KỷTrần Quang Diệu phò tá Thế tử, và thiên đô sang Nghệ An (Phượng Hoàng Trung Đô). Khi đó Quang Toản mới 10 tuổi lên ngôi, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh, sai Ngô Thì Nhậm sang nước Tàu báo tang, cầu phong. Ngô Thì Nhậm chưa ra khỏi cửa quan thì vua Thanh đã biết chuyện trước, sai sứ giả ở Quảng Tây là Thành Lâm đến bắc thành phong cho Quang Toản làm An Nam quốc vương, Quang Toản bèn sai người khác đóng giả mình để tiếp nhận[3].

Nội chiến trong nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Quang Toản lên kế ngôi khi tuổi còn nhỏ, không có khả năng nắm việc triều chính. Lấy Quang Thùy làm Khang công, Tiết chế các doanh Thủy bộ ở bắc biên, Quang Hãn làm Tuyên công, coi việc ở Thanh Hóa, Nguyễn Văn HuấnLê Trung quản trấn Nghệ An. Vũ Văn Dũng, Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Danh, Ngô Văn Sở, Lê Xuân Tài, Chu Ngọc Uyển, Nguyễn Công Tuyết trấn giữ Bắc Thành. Ở tại triều đình, Bùi Đắc Tuyên làm Thái sư quản đốc, cùng với Vũ Văn Dũng ở Thăng Long, là những người nắm quyền hành trên thực tế vào lúc đó. Các quan phụ chính còn có thêm Phạm Công Hưng, Trần Văn Kỷ, Trần Quang Diệu...[4] Do Quang Toản tuổi còn nhỏ, chỉ thích chơi đùa, nên Bùi Đắc Tuyên được thế tác oai tắc phúc, làm điều bừa bãi, trong ngoài đều oán ghét.

Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn nghe tin Nguyễn Huệ đã chết, bèn đem 300 người liêu thuộc cùng với em gái đến hỏi thăm, nhưng khi đến địa giới Quảng Ngãi thì bị quân Nguyễn Huệ ngăn trở, phải trở về, chỉ cho một mình em gái tới viếng[5]. Năm 1793, Nguyễn Ánh cất quân từ Gia Định tấn công Quy Nhơn, quân Nguyễn Nhạc tan vỡ. Nhạc khi đó đang bị bệnh, gửi thư đến Phú Xuân cầu cứu. Cảnh Thịnh sai Thái úy Phạm Công Hưng, Hộ giá Nguyễn Văn Huân, Tư lệ Lê Trung, Đại Tư mã Ngô Văn Sở đem 17.000 quân, 80 thớt voi, Đại thống lĩnh Đặng Văn Chân đem 30 chiếc thuyền, chia làm 5 đạo chi viện Quy Nhơn, quân Nguyễn bèn rút về. Các tướng Tây Sơn vào thành, thu lấy hết áo giáp, vũ khí và chiếm luôn thành. Nguyễn Nhạc giận, thổ huyết mà chết, làm vua được 15 năm.

Thế là hai nhánh nhà Tây Sơn được thống nhất về một mối. Cảnh Thịnh phong cho con Nhạc là Nguyễn Bảo làm Hiếu công, cắt huyện Phù Ly[Ghi chú 1] để làm ấp ăn lộc, gọi là Tiểu triều. Nguyễn Bảo có ý không bằng lòng, về sau năm 1798, Nguyễn vương bắc phạt, gửi thư dụ Bảo đầu hàng. Cảnh Thịnh được tin, bắt Bảo về Phú Xuân, cho trấn nước đến chết.

Diệu - Dũng tranh hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1794, Cảnh Thịnh sai Nguyễn Văn Huấn, Trần Viết Kết đánh úp Diên Khánh, nhưng không được phải rút về. Mùa đông năm đó, Bùi Đắc Tuyên phái Ngô Văn Sở thay chức Vũ Văn Dũng trông coi Bắc Hà, và triệu Dũng về, đồng thời cũng kiếm chuyện bắt tội Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ, đày ra trấn xa. Dũng gặp Kỉ ở trạm Mỹ Xuyên, Kỉ bàn với Dũng rằng:

Quan thái sư chức vị đã cao tột bực, trong tay nắm quyền làm oai làm phúc, lại đẩy ông ra ngoài, nếu có sự chẳng lợi cho nhà nước, các ông phỏng còn giữ được đầu chăng? Bây giờ chẳng sớm liệu đi, sau này ăn năn sao kịp?

Dũng tin và trọng Kỷ, nên cho lời Kỷ là phải. Hôm sau, Dũng đem quân bản bộ quay về, cùng Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Hóa vây nhà của Tuyên, nhưng gặp hôm Tuyên ở trong cung với vua Cảnh Thịnh. Dũng bèn vây cung, buộc vua phải giao Thái sư ra, không thì sẽ phóng hỏa đốt kinh. Cảnh Thịnh bất đắc dĩ phải nghe theo, Dũng bèn bắt phe đảng Đắc Tuyên bỏ ngục; lại sai người vào Quy Nhơn bắt Bùi Đắc Trụ[Ghi chú 2] (con Bùi Đắc Tuyên) rồi sai đô đốc Hài ra thành Thăng Long lập mưu bắt Ngô Văn Sở đưa về, thêu dệt thành tội trạng làm phản để dìm xuống nước cho chết hết[6]. Quang Toản không biết làm sao, chỉ khóc mà thôi[7]. Sau đó, Dũng lại sai Nguyễn Văn Hóa vào giữ thành Quy Nhơn.

Khi đó cánh quân của Trần Quang Diệu đang vây Nha Trang, thì được tin cha con Bùi Đắc TuyênNgô Văn Sở đều đã bị Vũ Văn Dũng giết chết, sợ vạ lây đến mình, bèn kéo quân về, họp bàn cùng bọn tướng tá, định dùng quân lực bắt Vũ Văn Dũng. Ngay lập tức Diệu giải vây cho thành Nha Trang rồi kéo quân về thành Quy Nhơn để sau đó tiếp tục về kinh đô Phú Xuân (Huế). Về tới làng An Cựu[Ghi chú 3] ở phía nam kinh thành, trên bờ sông Hương, Diệu đóng quân ở bờ nam sông. Dũng cùng bọn nội hầu Tứ đem quân bản bộ đóng ở bờ bắc sông, mượn lệnh vua để chống lại với Diệu. Quang Toản lo sợ, không biết làm thế nào, sai người đi lại yên ủi dỗ dành để hòa giải. Diệu mới chịu vào yết kiến, giảng hòa với Dũng, và đưa Lê Trung thay Huấn giữ Quy Nhơn mà triệu Huấn về.

Lúc đó Cảnh Thịnh lên thân chánh, mà Thái úy Phạm Công Huân có bệnh mà chết, bèn lấy Diệu làm Thiếu phó, Huấn làm Thiếu bảo, Dũng làm Đại tư đồ. Nguyễn Văn Danh (có chỗ chép là Nguyễn Văn Tứ) làm Đại tư mã, gọi là Tứ trụ đại thần[8].

Giết Lê Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Khi ấy, các cận thần ở bên Cảnh Thịnh gièm pha rằng oai quyền của Diệu quá lớn, đang toan có mưu khác. Toản tin là thật, liền rút hết binh quyền của Diệu, chỉ cho giữ một chức quan vào hàng thị thần mà thôi. Quang Diệu bèn giả bệnh, trốn tránh không vào chầu. Diệu vốn tương đắc với Lê Trung, nên gửi mật thư vào Quy Nhơn, hẹn Trung cất quân lập Nguyễn Quang Thiệu (con Nguyễn Huệ, anh Cảnh Thịnh) làm vua. Trung theo lời kéo quân về, Quang Thiệu đem quân tiếp ứng phía sau.

Quân của Trung về đến Quảng Nam, vua Quang Toản sai Diệu đi bảo Trung lui quân. Trung không thông báo cho Quang Thiệu mà một mình một ngựa theo Diệu về yết kiến Cảnh Thịnh. Quang Thiệu sợ hãi phải rút quân về Quy Nhơn, đóng chặt cửa thành để cố thủ. Nguyễn Quang Toản sai tướng đến đánh liên tiếp mấy tuần không hạ được, tự mình làm tướng đem quân đi. Đến Lê Giang, thái phủ tên là Mân tâu với Toản rằng:

Cuộc biến loạn Quang Thiệu thực do Lê Trung gây nên, tội không thể tha, xin giết ngay để răn kẻ khác.

Cảnh Thịnh nghe theo và cho vời Trung vào dinh, sai võ sĩ trói lại đem chém. Con rể Lê Trung là đại đô đốc Lê Chất hận việc giết cha vợ nên đầu hàng Nguyễn Ánh. Sau đó, Toản tiến đánh Quy Nhơn, mười ngày sau hạ được thành, bắt Quang Thiệu cùm đưa về, dùng thuốc độc giết chết. Toản để Mân ở lại giữ thành Quy Nhơn[6].

Bại trận và sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1794, Cảnh Thịnh sai Bùi Đắc Trụ làm tán nghị, vào Quy Nhơn trấn giữ thành và lấy Quang Diệu làm thống suất, lĩnh đại quân tiến đánh thành Nha Trang. Bảy tướng từ Lê Văn Trung trở xuống đều được gia phong làm quận công quản binh và nghe theo lệnh chỉ huy của Quang Diệu. Diệu tiến sát thành Nha Trang, mà quân tuần tiễu thì đã đến địa phận Bình Thuận. Quân nhà Nguyễn hết sức chống giữ khiến Diệu không thể thắng nổi. Giai đoạn này, quân Tây Sơn luôn luôn tấn công miền Nam đã thuộc quyền Nguyễn Ánh, quân hai bên chống chọi với nhau đến hàng năm.

Sau đó vì vụ Lê Văn TrungLê Chất làm phản theo Nguyễn Ánh, đem quân đánh nhau với tướng Tây Sơn là Mân (Mân Thành hầu Lê Văn Ứng). Quân của Mân thua trận, Mân phải chạy vào núi rừng mà trốn; quân, voi, khí giới đều bị Chất thu sạch. Vua Quang Toản nghe tin, lại sai Đại Tư Vũ Tuấn (Đại Đô đốc Trần Danh Tuấn?) dẫn binh tới trấn, chiêu tập tàn quân để đóng giữ.

Năm 1800, quân Nguyễn Ánh vượt biển ra đánh, Thiếu úy Trương Tấn Thúy, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Đại Phác, Tổng quản Lê Văn Thanh không chống nổi, dâng thành xin hàng. Chúa Nguyễn đổi thành Quy Nhơn làm trấn Bình Định, sai Võ Tánh đem quân đóng giữ. Cảnh Thịnh sai Trần Quang DiệuVũ Văn Dũng đem quân thủy, bộ vây đánh thành này. Năm 1801, thủy quân Tây Sơn bị quân Nguyễn Ánh đánh bại, tàu lớn và chiến thuyền đều bị thiêu hủy. Vũ Văn Dũng lên bộ, hợp quân với Trần Quang Diệu tiếp tục vây Quy Nhơn.

Ngày 3 tháng 5 âm lịch năm 1801, nhận thấy quân tinh nhuệ của Tây Sơn đều ở cả Quy Nhơn mà lực lượng ở Phú Xuân (Huế) thì rất yếu ớt, Nguyễn Ánh đốc suất toàn bộ thuỷ quân và trên 1.000 chiến thuyền, thuận theo gió nam vượt biển ra phía bắc, đánh thẳng vào cửa Thuận An. Quân Tây Sơn địch không nổi và tan vỡ. Cảnh Thịnh đốc hết tướng sĩ, tự mình cầm quân tới đánh nhau với quân Nguyễn. Gần trưa, quân Tây Sơn đại bại, vỡ chạy tan tác. Quân chúa Nguyễn chiếm lại đô thành.

Sau khi thua trận, Nguyễn Quang Toản chạy ra Nghệ An ở lại vài ngày, rồi ra Thăng Long hội họp tướng sĩ, lo việc chống giữ. Tháng 8 năm đó, vua Quang Toản ở Thăng Long đổi niên hiệu Cảnh Thịnh làm năm đầu niên hiệu Bảo Hưng. Tháng 11, vua đem quân và voi của 6 trấn Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, Thanh Hoa, Nghệ An vào đánh, nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh thua, lại phải rút về.

Mùa xuân năm 1802, quân nhà Nguyễn qua sông Gianh tiến đánh, hạ được đồn Tâm Hiệu thuộc châu Bố Chính. Quân Tây Sơn tan vỡ, chạy về doanh Hà Trung trong hạt Kỳ Anh. Tháng 5 năm này, Nguyễn Ánh hạ chiếu đổi niên hiệu làm năm đầu niên hiệu Gia Long.[9]

Cùng thời gian này, Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng mới hạ được thành Quy Nhơn. Sau khi đã hạ thành, Diệu liền đem quân về đánh Phú Xuân. Khi Diệu đem quân ra khỏi địa giới Quy Nhơn thì bị tướng của nhà Nguyễn là Đắc Lộc hầu chặn lại. Quân của Trần Quang Diệu đánh phá nửa ngày nhưng không thể hạ được, với vô số người chết và bị thương. Diệu đành đem quân theo đường núi vào Ai Lao, định ra Nghệ An. Được tin,Nguyễn Ánhlập tức cắt đặt các tướng, thống lĩnh các đạo quân thuỷ bộ, hẹn ngày kéo ra Bắc.

Ngày 28 tháng 5, thuỷ quân của nhà Nguyễn tới cửa biển Đan Nhai thuộc Nghệ An, tiến đánh và phá được đồn Quần Mộc. Quân bộ cũng tiến đến phía nam sông Thanh Long rồi vượt sang bờ phía Bắc. Hai mặt thuỷ bộ đều tiến công, quân Tây Sơn bỏ chạy tán loạn. Quân nhà Nguyễn bèn xông lên cướp kho thóc Kỳ Lân. Trấn thủ của nhà Tây Sơn là Nguyễn Văn Thận cùng với hiệp trấn Nguyễn Triêm, thống lĩnh Nguyễn Văn Đại, thiếu uý Đặng Văn Đằng bỏ thành chạy ra miền Bắc. Đến đồn Tiên Lý, Nguyễn Triêm tự thắt cổ; còn Nguyễn Văn Thận chạy ra trấn Thanh Hoa. Quân nhà Nguyễn lấy được thành Nghệ An.

Trần Quang Diệu ở Quỳ Hợp xuống đến địa phận Hương Sơn thì nghe tin Nghệ An đã thất thủ, bèn đến Thanh Chương, qua sông Thanh Long chạy ra trấn Thanh Hoa. Tướng sĩ đi theo Diệu dần dần tản mát mỗi người một nơi. Quân nhà Nguyễn đuổi theo, bắt sống được Diệu.

Tháng 6, quân nhà Nguyễn tiến đánh thành Thanh Hoa. Em vua Quang Toản là đốc trấn Quang Bàn cùng Nguyễn Văn Thận, Đặng Văn Đằng đều đầu hàng.

Ngày 18, Nguyễn Ánh tiến ra Thăng Long, quân Tây Sơn hoàn toàn tan vỡ. Nguyễn Quang Toản bỏ thành cùng với em là Nguyễn Quang Thùy và đô đốc Tú qua sông Nhĩ Hà chạy về hướng bắc. Sau đó, Quang Thùy và vợ chồng Tú đều tự thắt cổ. Còn vua cùng các bề tôi đều bị thổ hào Kinh Bắc bắt được đóng cũi giao nộp cho Nguyễn Ánh. Quan lại của nhà Tây Sơn ở các trấn hoặc trốn, hoặc hàng, không ai dám chống lại.

Vài tháng sau, Gia Long về Phú Xuân, sửa lễ cáo miếu dâng tù, đem Nguyễn Quang Toản ra dùng cực hình giết chết, rồi bố cáo cho khắp cả nước đều biết. Quang Toản cùng những người con khác của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đều bị Gia Long sai dùng cực hình 5 voi xé xác. Còn Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc cũng bị trả thù rất dã man: Mồ mả bị khai quật, hài cốt bị giã nát vứt đi; đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Nguyễn Huệ đều bị giam ở nhà Đồ Ngoại, sau lại đưa vào cấm cố vĩnh viễn trong ngục thất[10].

Khi bị hành hình, Quang Toản mới 19 tuổi. Triều đại Tây Sơn chấm dứt.[11].

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay là hai huyện Phù Mỹ, Phù Cát, tỉnh Bình Định
  2. ^ Có sách chép là Bùi Đắc Thân
  3. ^ Tên một con sông nhỏ, chi lưu của sông Hương, ở phía Nam kinh thành Huế. Toàn bộ dòng sông dài khoảng 30km, bắt đầu lấy nước sông Hương từ đoạn cuối cồn Dã Viên, chảy qua địa phận thành phố Huế, huyện Hương Thủy rồi đổ vào phá Hà Trung.

Tham khảo nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bùi Thị Nhạn
  2. ^ Đại Nam liệt truyện, tập 2 2001, tr. 168.
  3. ^ a ă Đại Nam liệt truyện, tập 2 2001, tr. 570.
  4. ^ Đại Nam liệt truyện, tập 2 2001, tr. 571.
  5. ^ Đại Nam liệt truyện, tập 2 2001, tr. 543.
  6. ^ a ă Ngô gia văn phái 1987, tr. hồi 17.
  7. ^ Đại Nam liệt truyện, tập 2 2001, tr. 572.
  8. ^ Đại Nam liệt truyên, tập 2 2006, tr. 572.
  9. ^ Từ năm Cảnh Hưng thứ 49,1786 trở đi, nhà Nguyễn vẫn dùng niên hiệu của nhà Hậu Lê.
  10. ^ Theo Đại Nam thực lục chính biên
  11. ^ Tham khảo về nguyên nhân sụp đổ của nhà Tây Sơn tại đây.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện, tập 1, Huế: Nhà xuất bản Thuận Hóa 
  • Ngô gia văn phái (2006), Hoàng Lê nhất thống chí, Nhà xuất bản Văn học. Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Đức Vân dịch; Kiều Thu Hoạch giới thiệu 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]