Quân đội nhà Tây Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Quân đội Tây Sơn là tổ chức vũ trang của nhà Tây Sơn, xuất phát từ lực lượng nghĩa quân của phong trào nông dân từ năm 1771 cho đến ngày sụp đổ năm 1802. Đây là đạo quân đã ghi nên những chiến công hiển hách trong lịch sử quân sự Việt Nam. Các chiến thắng vang dội cả bên trong lẫn bên ngoài lãnh thổ trong suốt 3 thập niên tồn tại. Lãnh đạo quân sự nổi bật nhất là Nguyễn Huệ, một trong những chỉ huy kiệt xuất nhất của triều đại này.

Nguồn gốc [1][sửa | sửa mã nguồn]

Khởi phát từ ấp Tây Sơn, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ tập hợp lực lượng, ban đầu chủ yếu là người Thượng, đứng lên khởi nghĩa. Lấy danh nghĩa chống lại Quốc phó Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương là cháu đích tôn của Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát, Nguyễn Nhạc phất cờ nổi dậy năm 1771. Bởi Tây Sơn mang danh nghĩa ủng hộ hoàng tôn Dương và khi đánh trận thường la ó ầm ĩ nên dân gian có câu:

"Binh triều là binh Quốc phó
Binh ó là binh Hoàng tôn"

Tây Sơn có được sự ủng hộ rất lớn của dân chúng, không chỉ những người nông dân nghèo mà cả một số sắc dân thiểu số và lực lượng người Hoa như hai đạo quân của Lý Tài, Tập Đình. Lực lượng Tây Sơn không những đánh đâu thắng đó mà còn nổi tiếng vì bình đẳng, bình quyền, không tham ô của dân và lấy của người giàu chia cho người nghèo. Nghĩa quân đã từng nêu lên khẩu hiệu: "Lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo". Điều đó được các giáo sĩ Tây Ban Nha, điển hình là Diego de Jumilla ghi lại, sách Les Espagnols dans l’Empire d’Annam trích dẫn như sau:

"Ban ngày họ xuống các chợ, kẻ đeo gươm, người mang cung tên, có ngưòi mang súng. Họ không hề làm thiệt hại đến người và của. Trái lại họ tỏ ra muốn bình đẳng giữa mọi người Đàng Trong; họ vào nhà giàu, nếu đem nộp họ ít nhiều thì họ không gây tổn hại, nhưng nếu chống cự lại thì họ cướp lấy những của quý đem chia cho người nghèo; họ chỉ giữ gạo và lương thực cho họ mà thôi... Người ta gọi họ là bọn cướp đạo đức và nhân từ đối với quần chúng nghèo khổ...".[2]

Những năm đầu tiên, lực lượng của nghĩa quân còn yếu, nhưng được sự giúp đỡ của nhân dân quanh vùng. Bấy giờ có người trí thức là Huyền Khê dâng tiền giúp, phú nông là Nguyễn Thung ra sức khuyến dụ mọi người gia nhập nghĩa quân.

Chính sách quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tờ chiếu gửi Ngô Văn Sở vào năm Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thứ 11, bản từ tiếng Pháp dịch bởi Đặng Phương Nghi, ghi:[3]

Bởi sắc lệnh này ta cho các tướng Đại Tư Mã, Đại Đốc (tức Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân) và các sĩ quan khác biết rằng từ trước tới nay các vua chúa đều lấy luật pháp để cai trị thần dân và duy trì hoà bình, nên ta cũng noi gương các vị tiền bối mà đánh dấu ngày khởi đầu triều đại ta bằng cách soạn ra một bộ luật để dân chúng sống trên đất đai ta nghiêm nhặt tuân theo. Vì thế ta đã giao cho các quan tư pháp và tham chính viện nhiệm vụ hoàn tất các tác phẩm đó trong một, hai tháng. Trong khi chờ đợi ta ban bố vài pháp quy yêu cầu mọi người và mỗi các ngươi đứng đắn thi hành. Nội dung điều lệ đó như sau:

  1. Nếu một sĩ quan hay binh lính nào phạm tội gì, các quan văn võ sẽ họp lại để xử họ và nếu họ đáng bị xử tử họ sẽ bị kết án tử hình.
  2. Song le trong thời chiến tranh, mỗi lần một vị chỉ huy sai bộ hạ mình đi đánh địch, bộ hạ đó phải tuyệt đối tuân theo, người nào tử trận một cách can đảm sẽ được vẻ vang. Trái lại ai vì sợ chết mà bỏ trốn sẽ bị sỉ nhục. Bởi vậy ta cho phép xử tử tức thì những kẻ trốn bổn phận cũng như những kẻ cho địch có thì giờ dưỡng sức lại và tấn công vì hèn nhát hay vì chậm chạp; sau rồi các tướng lãnh phải báo cáo hành động của họ trong trường hợp đó.
  3. Khi chiến tranh chấm dứt và khi quân đội trở về kinh đô và được trả lại cho chính quyền, không một quan chỉ huy nào được tự tiện xử tử một người ngang quyền hay ngang chức và ai mà vi phạm luật này sẽ không có hi vọng được khoan hồng.
  4. Mỗi lần xảy ra chuyện gì liên quan đến quốc gia hay công ích, mọi người đều phải lưu ý ngay đến việc đó kẻo một sự chậm trễ nhỏ nhặt cũng có thể gây trở ngại cho công việc. Thời bình, sự mau lẹ đó cũng cần thiết rồi, huống chi tại Bắc Kỳ nơi cuộc chiến càng ngày càng ác liệt, một cuộc chiến mà các ông phải coi như việc trọng yếu bởi vì mỗi giây phút có thể mang lại nhiều thay đổi bất ngờ liên tiếp theo nhau như gió, chớp hay như hơi và những biến chuyển đó lúc thì thuận, lúc thì nghịch thành thử không thể căn cứ trên cái gì chắc chắn được. Bởi vậy mỗi khi nhu cầu quốc gia hay tình hình chiến tranh bắt phải họp để thảo luận về những việc phải làm và mỗi khi ngày giờ họp được ấn định, các quan văn võ sẽ phải họp ngay lập tức vào ngày giờ đó để bàn bạc và quyết định với nhau. Nếu bất đồ có người vì sơ xuất mà quên tới nơi họp đúng giờ, ta cho phép Tư Mã và Đại Đô Đốc phạt họ tuỳ theo lỗi nặng hay nhẹ.
  5. Nếu mỗi khi thuộc hạ quan chỉ huy chi đội hay thuộc hạ của ông đi đuổi bắt kẻ gian, đáng lẽ bảo vệ và che chở dân vô tội và hiền lành họ lại cưỡng đoạt của cải của dân chúng đáng thương sẽ đau khổ và thất vọng, vì họ phải chịu nhiều tai vạ hơn dưới thời ác quỉ Nhậm hay Tiết chế. Họ cư xử như vậy thì làm sao dân chúng yên lành được? Và làm sao gọi hành động đó là giải phóng dân chúng khỏi áp bức và làm sao phạt thủ phạm cho được? Vậy ta ra lệnh cho các sĩ quan phải công bố trong trung đội hay binh đoàn mình điều nghiêm cấm, không được lấy bất cứ vật gì của dân dù là một ngọn cỏ, như ta không ngớt tuyên cáo trước đây. Các sĩ quan sẽ chắc chắn làm vừa lòng ta và đúng theo tình ý ta nếu hết sức thi hành điều nghiêm cấm đó. Ai cư xử như vậy có thể tin rằng sau khi chia sẻ cùng ta những nỗi khổ nhọc và những mối hiểm nghèo của thời chiến này, họ cũng sẽ chia sẻ thanh danh và hưởng thú vui thời bình cùng ta. Vả lại nữa, không ai có quyền dựa vào sự vắng mặt hay sự xa cách của ta để phiền nhiễu cướp bóc dân chúng và uy hiếp đàn bà con gái. Chỉ khi nào ngưng và dẹp được những bạo hành đó, họ mới có thể tự phụ giữ nổi chức vụ và bảo đảm an ninh cho cá nhân và gia đình họ, bằng không, đừng mong gì ta dung thứ họ.

Đó là những điều ta muốn các ngươi phải biết.

Ngày 3 Tháng Mười [Âm lịch] năm Thái Đức thứ 11.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Quân số Tây Sơn cao nhất được sử sách ghi nhận là vào thời gian đánh Mãn Thanh, vượt 100.000 quân. Lệnh tòng quân, bao gồm việc cưỡng bách trong thời gian triển khai ra Bắc đánh quân Mãn Thanh là vô cùng gắt gao. Việc kiểm tra quân số và thi hành kỷ luật quân đội rất nghiêm khắc. Kỷ luật quân đội cũng bù đắp phần nào yếu kém bởi sự huấn luyện vội vã để có thể đánh trận. Dựa theo sự mô tả của các nhà truyền đạo phương Tây lúc đó, Tây Sơn gần như sử dụng "chiến tranh toàn dân", tất cả mọi người đều được huy động, nhà sư cũng bị bắt đi lính, phụ nữ và con gái phải theo trợ chiến. Người già, con nít chừng 15 tuổi trở lên, du thương, cướp biển, dân tộc thiểu số đều được đưa vào quân đội.[3]

Theo thư của giáo sĩ La Bartette gửi cho Blandin ngày 25 tháng 6 năm 1786 thì: "Họ đã phá hủy tất cả những giáo đường đẹp nhất ở đây, họ cũng phá hủy tất cả chùa chiền và bắt tất cả những nhà sư cầm vũ khí để ra trận."

Nguyễn Huệ không ngần ngại đốt phá, tàn sát nếu gặp chống cự, để tiêu diệt cũng có mà thị uy cũng có. Nắm vững quan điểm kỷ luật là sức mạnh của quân đội, ông hết sức gắt gao trong việc điều quân và nổi tiếng là nghiêm minh.

BertetteDousssain từng nhiều năm truyền đạo ở miền Thuận Hóa, trong bức thư đề ngày 11-6-1788, đã viết: Nguyễn Huệ đôi khi điều động được từ hai đến ba trăm nghìn quân.[4]

Theo vai trò, quân đội Tây Sơn được tổ chức thành:

- Trung quân

- Tiền quân

- Tả quân

- Hữu quân

- Hậu quân

Theo biên chế đơn vị, quân đội Tây Sơn được tổ chức theo nguyên tắc “ngũ ngũ chế”:[5]

Đơn vị số lính
Đội (thủy quân gọi là Thuyền) 60 - 100
300 - 500
Đạo 1.500 - 2.500
Doanh (cùng một số cơ) ~ 15.000

Quân số của mỗi đội, cơ, đạo không thống nhất, nó thay đổi tùy theo tính chất của binh chủng, tùy theo địa điểm chiến thuật mà các đơn vị đó chiếm đóng. Thông thường mỗi đội có từ 60 đến 100 lính, mỗi cơ từ 300 đến 500 lính, mỗi đạo từ 1.500 đến 2.500. So với quân số ở cấp tương đương của quân đội Lê, Trịnh hoặc Nguyễn, không có sự chênh lệch quan trọng.[6]

Doanh và đạo là những đơn vị hỗn hợp có cả các thành phần của bộ binh, pháo binh, kị binh và tượng binh (như đơn vị hợp thành của quân đội hiện đại mỗi khi tác chiến).

Theo chức năng, quân đội Tây Sơn được tổ chức thành:

Bộ binh Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Cứ theo truyền thống của Đàng Trong và cũng như bất cứ danh tướng nào từ cổ chí kim, Nhà Tây Sơn luôn luôn có một đạo thân binh, được trang bị tối tân và rất kỷ luật. Những toán quân xung hãm này gọi là đội thân binh Thuận Quảng, bao gồm binh sĩ các vùng Thuận Hoá và Quảng Nam ở Ðàng Trong, trong đó có một số đông người Thượngngười Hoa rất thiện chiến.

Theo nhiều tài liệu, các cấp chỉ huy Tây Sơn thường chít khăn đỏ (hồng cân), người miền Bắc gọi họ có ý khinh rẻ như man binh (quân mọi), cuồng Chiêm (quân Chiêm hung tợn) hay quân Quảng Nam. Những người từ Ðàng Trong ra bắc thường được giao cho chức vụ chỉ huy các toán thổ binh, nhưng những địa điểm quan trọng thường có quân “Quảng Nam” đóng nút chặn. Sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục cũng gây ra thất lợi khi cần phải rút lui để bảo toàn lực lượng.Theo Hoàng Xuân Hãn, “quân Tây Sơn cầm cờ đỏ có tháp lông gà nhuộm đỏ, gọi là cờ hồng mao”. Lê Quí Dật Sử thì viết rằng quân Tây Sơn khi đóng ở Nghệ An mặc áo màu đỏ tía, chỏm mũ đính lông chiên đỏ, vũ khí dùng tên lửa buộc trên đầu ngọn giáo gọi là hỏa hổ. Y phục này cũng được nhắc đến trong Đại Nam Quốc sử Diễn ca trong câu 1829-30:

Quân dung đâu mới lạ nhường,
Mão mao, áo đỏ chật đường kéo ra.

Theo đánh giá của người châu Âu thì quân đội Tây Sơn rất tinh nhuệ, trang bị nhiều vũ khí tân kỳ ở thời đó. Quân Tây Sơn có nhiều loại súng ống bao gồm cả súng đại bác và súng hỏa mai. Quân Tây Sơn cũng được huấn luyện để tự pha chế lấy thuốc nổ và người Âu Châu đã kinh ngạc vì lính Tây Sơn nạp đạn rất nhanh: trong khi quân Anh phải thực hiện đến 20 động tác cho mỗi lần nạp đạn thì người Việt chỉ cần có 4 động tác.

Pháo binh Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Súng thần công Nhà Tây Sơn tại Bảo tàng Quang Trung, Bình Định.

Trong lịch sử chiến tranh ở nước ta, ngay từ thế kỷ 17, lực lượng pháo binh của TrịnhNguyễn đã giữ một vai trò quan trọng trong công cuộc phòng thủ bảo vệ thành lũy, và trong tiến công áp đảo quân địch. Súng đại bác được dùng để phòng thủ, nếu đưa ra trận thì dùng voi kéo hay chở nên rất cơ động.

Quân Tây Sơn thời ấy là một quân đội hùng mạnh lấy tiến công làm chính, và cũng được trang bị pháo binh Đại bác bố trí trên lưng voi hay trên các tàu chiến, vì vậy có tính cơ động cao, tăng cường thành phần hỏa lực chiến đấu và yểm trợ bộ binh và tượng binh khi xung trận. Lực lượng pháo binh Tây Sơn gồm các loại đại bác hạng nặng, hạng nhẹ, các loại hỏa hổ (hỏa tiễn cầm tay).

Báo cáo của các quan sĩ Pháp từng theo phò Nguyễn Ánh cũng như sử sách nhà Nguyễn đều công nhận tính năng phi thường của các đại pháo và hỏa pháo Tây Sơn. Trong các trận đánh dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, lực lượng pháo binh Tây Sơn lúc nào cũng vượt trội và cơ động nhanh, đáp ứng tốt yêu cầu của chiến trường. Các trận đánh lớn của bộ binh đều có pháo binh yểm trợ và hiệp đồng chiến đấu. Trong trận đánh ở chiến lũy Trấn Ninh (Quảng Bình) vào năm 1802, quân Tây Sơn đã huy động cả ngàn khẩu pháo.[7]

Theo nhiều sách cổ chép lại, quân Tây Sơn có rất nhiều hỏa hổ, là một loại vũ khí hình ống. Sách Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ mô tả: “Hỏa đồng còn có tên là hỏa hổ, có bầu lớn dài chừng một thước, khi lâm trận phun lửa, trong ống tống nhựa thông ra, trúng phải đâu, lập tức bốc cháy... vì lửa cháy dữ dội, nên gọi là hỏa hổ”. Theo các nhà nghiên cứu, hỏa hổ thời Tây Sơn được cải tiến từ các hỏa đồng (ống lửa) hạng nhỏ thời Lê sơ. Trong tay nghĩa quân Tây Sơn, nó được dùng một cách tập trung, ồ ạt, tạo thành hỏa lực giáp chiến hết sức lợi hại. Ngoài ra, quân Tây Sơn có "Hỏa cầu", là một quả cầu kim loại rỗng ruột hoặc bằng giấy quết nhựa bên ngoài, có tay cầm, to cỡ quả bưởi, bên trong nhồi thuốc nổ, chất cháy, mảnh gang, sắt vụn và các quả cầu con. Khi sử dụng thì châm ngòi nổ và ném vào đối phương, có thể coi đây là một loại lựu đạn sơ khai. Quân Tây Sơn đã sử dụng hỏa cầu trong trận đốt cháy tàu Manuel năm 1782 và trong trận tấn công đồn Ngọc Hồi năm 1789.

Súng đại bác loại nhỏ (small cannon) thì có thể mang trên lưng và bắn một loại đạn nặng chừng hơn 100 gram. Một người lính cõng cái nòng súng (barrel), dài chừng 2 thước, trong khi một người lính khác mang cái “giá” là một khúc gỗ tròn dài cũng chừng cái nòng súng. Khi tác xạ, cái giá được dựng lên bằng hai cái càng hay một cái chạc cao khỏi mặt đất chừng một mét, nòng súng sau đó để lên trên giá trong một cái ngàm sắt. Người lính có thể điều chỉnh độ nhắm và kiểm soát bằng một cái báng tì lên trên vai. Các loại súng này rất tiện lợi cho việc di chuyển và phục kích quân địch.

Hoả hổ và hỏa cầu không phải là loại vũ khí hoàn toàn mới nhưng cách sử dụng sáng tạo của quân Tây Sơn đã nâng cao hiệu quả của chúng. Quân Tây Sơn đã chế tạo ra hỏa hổ bằng những ống tre, trở thành một khí cá nhân gọn nhẹ. Nếu đem so với những khẩu pháo nặng hàng trăm kg của quân chúa Trịnh hay của nhà Minh, nhà Thanh thì sự sáng tạo này rất có giá trị. Quân Tây Sơn thường dùng tượng binh phá kỵ binh, dùng hỏa hổ, hỏa cầu gây rối loạn bộ binh đối phương, rồi cho quân xông lên giáp lá cà bằng các vũ khí thông thường. Dưới sự chỉ huy linh hoạt của vua Quang Trung, chiến thuật này đã nhanh chóng đánh bại quân đối phương.

Tiếc thay, các loại vũ khí trên đây, về hình dáng, kỹ thuật chế tác và sử dụng như thế nào đến bây giờ vẫn chưa tìm thấy tài liệu nào nói rõ.

Kỵ binh Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng binh Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một lực lượng mạnh trong quân đội Tây Sơn, tuy nhiên không rõ có tất cả bao nhiêu voi chiến, ước chừng vài trăm.

Nguyễn Nhạc sau khi lên ngôi vua đã tiến hành chỉnh đốn lực lượng tượng binh, quy định rõ ngạch voi, số đội và các quy định về quản lý, chăm sóc, huấn luyện voi. Theo đó, tượng binh được phiên chế thành các đội, mỗi đội có từ 30-40 con. Đội voi ở mỗi tỉnh có tầu (chuồng) riêng, được các quản tượng trông nom, tập luyện. Hằng năm, trong các đợt tập trận lớn, các đội voi thường được đem ra diễn tập cùng các lực lượng khác.[8]

Trong 5 đạo quân Tây Sơn từ phòng tuyến Tam Điệp-Biện Sơn tiến công quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu 1789 thì có tới 3 đạo quân sử dụng kết hợp tượng binh và kỵ binh, trên mỗi hướng tấn công đều có hàng trăm voi chiến tham gia.[8] Ước trong cuộc tấn công quân Mãn Thanh, 300 voi chiến đã được sử dụng,[9] riêng trận Ngọc Hồi, 100 voi chiến đã xung trận.

Trên mỗi voi chiến, ngoài quản tượng còn có 3 đến 4 người cầm vũ khí vừa bảo vệ voi vừa chiến đấu. Ngoài cung, nỏ, giáo cán dài,...tượng binh Tây Sơn còn được trang bị đặc biệt bằng đại bác, hỏa hổhỏa cầu lưu hoàng. Như theo Thánh Vũ Ký thì, quân Tây Sơn đều chở đại bác bằng voi mà xông ra trận. Khi Nguyễn Huệ đánh Ngọc Hồi, sử nhà Thanh có đoạn chép thêm: "đại doanh ta vỡ, bị đội voi chiến đốt cháy, vì trên lưng mỗi con voi, có 3-4 tên lính chít khăn đỏ, ngồi ném, tung hỏa cầu lưu hoàng ra khắp mọi nơi, đốt cháy cả người nữa".[10]

Thủy quân Tây Sơn [11][12][sửa | sửa mã nguồn]

Thủy quân Tây Sơn có 673 thuyền chiến, 53.250 lính (hạm đội của Vũ Văn Dũng, Thị Nại, năm 1801).

Về chức năng có hai loại thuyền:

- Thuyền lớn để chở quân, lương thực, hàng hóa khác.

- Thuyền nhỏ nhẹ và linh động đùng để bao vây, tấn công và xung kích.

Mô hình thuyền Định Quốc của thủy quân Tây Sơn, Bảo tàng Tây Sơn (Bình Định)

Thuyền chiến bao gồm năm loại:

- Chiến thuyền loại 1:[13]

9 thuyền, 700 lính thủy/thuyền, trang bị 60 đại bác, mỗi khẩu bắn đạn nặng khoảng 11 kg. Đây là minh chứng cho thấy hỏa lực và lực lượng thủy quân trên các chiến hạm Tây Sơn vô cùng mạnh mẽ và đông đảo. Thuyền cỡ lớn nhất Tây Sơn gọi là "Định Quốc" (giống như lớp tàu ngày nay), chính sử nhà Nguyễn gọi đó là loại thuyền “Đại hiệu”. Sách Hoàng Lê nhất thống chí mô tả thuyền “Đại hiệu” như một pháo đài di động, trên “lập chòi gát, đặt súng lớn”.
5 thuyền, 600 lính thủy/thuyền, trang bị 50 đại bác, mỗi khẩu bắn đạn nặng khoảng 11 kg.

- Chiến thuyền loại 2:

40 thuyền, 200 lính thủy/thuyền, 16 đại bác, cân nặng chỉ bằng một nửa, mỗi khẩu bắn đạn nặng tương đương 5,4 kg. Đây là loại chiến thuyền vừa lợi hại trong thủy chiến, tấn công có hiệu quả tàu chiến địch do tốc độ và hỏa lực, lại vừa vận chuyển binh lính nhiều, có khả năng tấn công địch ở mục tiêu xa.

- Chiến thuyền loại 3:

93 thuyền, 150 lính/thuyền, trang bị chỉ có 1 khẩu đại bác, song lại lớn hơn bất cứ loại đại bác nào khác, bắn đạn nặng khoảng 16,3 kg.

- Chiến thuyền loại 4:

300 thuyền, 50 lính/thuyền, 1 đại bác nhỏ.

- Chiến thuyền loại 5:

100 thuyền, 70 lính/thuyền.

Và nhiều loại thuyền chiến cỡ nhỏ khác.

Chiến thuyền loại 4 và 5 tuy nhỏ nhưng được đánh giá là rất lợi hại. Vì nhỏ dễ xoay xở, nếu ở sông sẽ chạy bằng chèo, số thủy thủ đủ để thay phiên nhau chèo; nên vừa thủy chiến trên sông hiệu quả, lại vận chuyển binh lính đánh tập kích địch từ xa.

Đến năm 1788, Nguyễn Huệ đã dứt tình với Nguyễn Nhạc ở phương Nam lại bị áp lực từ phương Bắc khi nhà Thanh chuẩn bị đem quân sang đánh, ông càng gấp rút tổ chức thuỷ quân để đối phó với tình hình ngày càng quyết liệt. Tổng binh Bảo được cấp thêm 16 đại thuyền nữa và phương tiện để tuyển mộ thêm quân.

Barizy (sĩ quan hải quân Pháp trong hàng ngũ quân Chúa Nguyễn) tường thuật về lực lượng của hạm đội Tây Sơn do Vũ Văn Dũng chỉ huy như sau:

“Lực lượng này gồm có 673 chiến hạm đủ cỡ lớn nhỏ. Trong số này, có những chiến hạm lớn trang bị súng đại bác và thủy thủ đoàn nhiều hơn cả những chiến hạm lớn nhất kiểu Tây phương mà quân Nguyễn có”.

Trong một bức thư của Jeaptiste Chaigneau cho biết ở Quy Nhơn, thủy quân Tây Sơn có 54 tàu, 93 chiếc thuyền, 300 pháo hạm, 100 tàu buồm trang bị rất hùng hậu.

Trong lá thư đề ngày 11.4.1801, Barizy gửi cho Letondal viết về trận hải chiến Thị Nại năm 1801, ghi rằng thủy quân Tây Sơn còn có 4.800 thuyền vận tải trong cảng Thị Nại.[14]

Các chỉ huy nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Huệ
  2. Bùi Thị Nhạn
  3. Bùi Thị Xuân
  4. Chu Văn Uyển
  5. Đào Văn Hổ
  6. Đặng Văn Chân
  7. Hồ Văn Tự
  8. Huỳnh Thị Cúc
  9. Lê Chất[note 1]
  10. Lê Trung
  11. Lê Văn Hưng (tướng Tây Sơn)
  12. Lê Văn Lợi (tướng Tây Sơn)
  13. Lê Văn Thanh
  14. Lý Tài
  15. Lý Văn Bưu
  16. Mạc Quan Phù
  17. Ngô Văn Sở
  18. Nguyễn Hữu Chỉnh
  1. Nguyễn Lữ
  2. Nguyễn Nhạc
  3. Nguyễn Quang Huy
  4. Nguyễn Quang Thùy
  5. Nguyễn Tăng Long
  6. Nguyễn Thị Dung
  7. Nguyễn Văn Bảo
  8. Nguyễn Văn Danh (tướng nhà Tây Sơn)
  9. Nguyễn Văn Điểm
  10. Nguyễn Văn Hòa
  11. Nguyễn Văn Huấn
  12. Nguyễn Văn Trương
  13. Phạm Công Hưng
  14. Phạm Ngạn
  15. Phạm Văn Điềm
  16. Phạm Văn Định
  17. Phạm Văn Tham
  18. Phạm Văn Trị
  1. Phan Văn Lân
  2. Tập Đình
  3. Trần Quang Diệu
  4. Trần Thị Lan
  5. Trần Thiên Bảo
  6. Trần Viết Kết
  7. Trịnh Nhất
  8. Trương Văn Đa
  9. Từ Văn Chiêu
  10. Từ Văn Tú
  11. Võ Ðình Tú
  12. Võ Thị Thái
  13. Vũ Thị Đức
  14. Vũ Văn Nhậm
  15. Ya Dố

Đô đốc thủy binh:
Đường dẫn

  1. Nguyễn Văn Duệ
  1. Nguyễn Văn Lộc
  2. Nguyễn Văn Tuyết
  3. Võ Văn Dũng
  4. Vũ Văn Thành
  5. Đặng Xuân Phong
  6. Đặng Xuân Bảo
  7. Đặng Văn Bảo
  8. Đặng Văn Long
  9. Đặng Tiến Giản
  10. Lê Danh Phong
  11. Trần Danh Tuấn
  12. Đào Công Giản
  13. Nguyễn Văn Xuân[note 2]
  14. Lê Văn An
  15. Lê Quốc Cầu
  16. Trương Phúc Phượng
  17. Kiều Phụng
  18. Đống Công Trường

Nghệ thuật quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Không vội vã, che giấu quân, thám thính trước[sửa | sửa mã nguồn]

Khi tiến quân xuống phía Nam, để chuẩn bị đánh quân Xiêm, Nguyễn Huệ không vào thành Gia Định (nơi tướng Tây Sơn Trương Văn Đa đang đóng giữ), mà cho đóng quân tại Mỹ Tho, nhằm che giấu lực lượng và tiến hành do thám tình hình để lập kế đánh Xiêm.

Lựa chọn điểm quyết chiến[15][sửa | sửa mã nguồn]

Trong trận Rạch Gầm-Xoài Mút, Nguyễn Huệ đã chọn khúc sông Mỹ Tho, đoạn từ cửa sông Rạch Gầm đến cửa sông Xoài Mút làm khu vực tác chiến chủ yếu để tiêu diệt quân Xiêm. Rạch Gầm và Xoài Mút là hai con sông nhỏ, nhưng giữ vị trí quan trọng trong kế hoạch của quân Tây Sơn. Thủy binh Tây Sơn có thể bố trí ở hai rạch này tạo thành hai mũi tiến công lợi hại chặn đầu và khóa đuôi toàn bộ đội hình quân Xiêm, khi chúng lọt vào trận địa chuẩn bị sẵn đó. Khoảng giữa cửa sông Rạch Gầm và cửa sông Xoài Mút có các cù lao Thái Sơn, cù lao Hộ là nơi thuận lợi để bộ binh Tây Sơn bí mật triển khai pháo binh sẵn sàng đánh vào sườn đội hình quân địch và đón đánh những nhóm quân Xiêm liều mình đổ bộ lên bờ. Những nhánh sông nằm giữa các cù lao và bờ Nam sẽ là những nơi mai phục và xuất phát của đội thuyền chiến Tây Sơn.

Tác chiến ban đêm[sửa | sửa mã nguồn]

Các trận chiến đấu chủ yếu thường được tiến hành vào nửa đêm và kết thúc trước khi trời sáng, quân Tây Sơn dành thời gian ban ngày cho việc trú quân kín đáo và chuẩn bị đánh khi thời điểm đến. Khoảng thời gian này là một lợi thế trong chiến đấu.[16]

Đánh nghi binh [17][sửa | sửa mã nguồn]

Trong lần kéo quân ra bắc đầu tiên với danh nghĩa "phò Lê diệt Trịnh", thủy quân Tây Sơn bị quân của chúa Trịnh Khải bao vây trên sông Vị Hoàng. Gặp gió đông thổi mạnh, Nguyễn Huệ sai lấy tượng gỗ để trên mấy chiếc thuyền, rồi cho đánh trống, kéo cờ, thả thuyền cho trôi đi. Tướng của Trịnh Khải là Đinh Tích Nhưỡng, tưởng quân Tây Sơn tới đánh bèn dàn thuyền chiến, rồi truyền quân sĩ lấy súng bắn cho đến khi hết đạn mới biết người trên thuyền là tượng gỗ. Lúc này, quân Nguyễn Huệ ùa tới đánh, quân Nhưỡng không chống cự nổi phải bỏ thuyền mà trốn. Các cánh quân khác của chúa Trịnh cũng bị đánh tan, thành Sơn Nam bị hạ.

Trong lần đánh Xiêm, chỉ sau khi đã bố trí xong lực lượng, Nguyễn Huệ mới chủ động cho quân tới khiêu chiến, nhằm kéo quân Xiêm đến đoạn sông đã chuẩn bị trước để tiêu diệt. Quân Xiêm do khinh thường nên đã mắc mưu.

Trong lần đánh Thanh, ngày 20 tháng chạp, khi quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ (lúc đó lên ngai là Quang Trung) chỉ huy tiến đến núi Tam Điệp, các tướng Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhiệm, Phan Văn Lân đến chịu tội vì đã rút lui làm cho quân Thanh tràn vào Thăng Long. Tưởng đắc tội, không ngờ Quang Trung-Nguyễn Huệ cười:

"Lui quân để tránh thế giặc, trong khuyến khích tướng sĩ, ngoài làm cho giặc phấn khích, kiêu ngạo, dụ địch vào chỗ hiểm yếu của ta như thế là phải. Các khanh không có tội chi cả. Chúng nó sang đây là mua lấy cái chết đó thôi, ta đã định mẹo cả rồi".

Không những vậy, để làm tăng thêm lòng kiêu căng của quân Mãn Thanh, Nguyễn Huệ còn sai Trần Danh Bình cầm đầu sứ bộ 8 người mang lễ vật và thư đến tha thiết xin Tôn Sĩ Nghị dừng quân để tra xét rõ: vì sao Tây Sơn phải thay quyền nhà Lê. Sứ bộ còn trả lại cho Tôn Sĩ Nghị 40 người Trung Hoa do tướng cướp Đắc Thiện Tống bắt và sau đó quân Tây Sơn bắt được Tống. Quả thật, Tôn Sĩ Nghị kiêu căng sai chém đầu Trần Danh Bình, luôn cả Đắc Thiện Tống và cầm tù đoàn sứ giả. Trong lúc đó, vua Quang Trung bí mật chỉnh đốn quân tướng, chuẩn bị chiến trận, quyết một trận đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cõi Đại Việt. Vào sáng 30 tháng chạp, trước khi ra lệnh tấn công, Quang Trung nói:

"Ta đến mà địch không biết là địch ngủ ta thức, ta đánh mà địch không đề phòng là ta chém kẻ tay không. Ta nhất định thắng..."

Chính yếu tố bí mật, quân Thanh không nắm được lực lượng của Tây Sơn lại thêm thói khinh thường, đến khi bất ngờ bị tấn công thì không còn kịp chống đỡ.

Phục kích trên sông và Phối hợp tác chiến thủy-bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Rạch Gầm-Xoài Mút, trước khi diễn ra trận đánh, Nguyễn Huệ sai người đi thám sát tình hình thực địa, nắm chắc quy luật con nước, đặc điểm các luồng, lạch, cửa sông và địa thế hai bên bờ để bố trí lực lượng. Nguyễn Huệ cho triển khai lực lượng tại khu vực đã được lựa chọn từ trước. Từ Rạch Gầm tới Xoài Mút, ngoài việc lựa chọn bố trí lực lượng thủy quân tinh nhuệ, Nguyễn Huệ còn cho bố trí tập trung đại bác và lực lượng quân bộ ở hai bên bờ để sẵn sàng giáp chiến, bảo đảm khóa chặt quân địch khi chúng đi vào địa bàn tác chiến. Hai bên sườn trận địa mai phục, quân Tây Sơn còn bố trí xen kẽ lực lượng thủy quân ở các luồng, lạch, nhánh sông kết hợp với bộ binh, sẵn sàng đánh vào bên sườn đội hình địch cả trên sông, trên bộ.[18]

Đánh tốc chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bức thư của giáo sỹ tên là Le Breton, ghi ngày 02-08-1788, ông viết: “Như thế Nguyễn Huệ đã trở về Phú Xuân vào đầu tháng 7. Ông đã bắt quân phải về gấp rút đến nỗi có nhiều binh sĩ chết vì mệt mỏi và nắng nực. Ngay cả voi ngựa cũng chết”

Lúc ra Thăng Long bắt giết Vũ Văn Nhậm, từ Phú Xuân, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã tự đốc thức bộ binh, kỵ binh ngày đêm tiến binh. Chừng hơn 10 ngày đã đến Thăng Long. Trong Nhật ký của Giáo hội Truyền giáo Bắc Hà gửi về cho Giáo hội Trung ương có thuật lại sức tiến quân vũ bão của hoàng đế Quang Trung: “Ông (Nguyễn Huệ) tiến như vũ bão ra Bắc và chỉ mất có 10 ngày, không quản đường xa khó nhọc đã giết chết nhiều ngựa voi của ông, trong khi người khác phải mất 3 hay 4 ngày”. Với quãng đường dài hơn 600 trăm cây số, thời gian di chuyển chỉ mất 10 ngày; đường xá lại bị núi sông cách trở, việc di chuyển cả một đoàn quân lớn như vậy thật là phi thường. Sức ngựa voi mà còn chịu không nổi phải chết dọc đường huống hồ sức người. Về kỹ thuật di hành cho bộ binh, Nguyễn Huệ đã áp dụng nguyên tắc “tập thể di chuyển liên tục ngày đêm, cá nhân luân phiên nghỉ dưỡng sức”. Nguyễn Huệ đã từng cho quân cứ 3 người một tốp, luân phiên gánh võng nhau, suốt dọc đường 2 người khiên 1 người nghỉ.[19]

Tấn công bất ngờ[sửa | sửa mã nguồn]

Không chỉ tấn công thần tốc[20] mà chiến thuật đi đôi của Quang Trung là tấn công bất ngờ, đánh vào những thời điểm đối phương không thể ngờ tới, việc phòng bị của họ lơ là vì vậy dẫn đến bại trận.[16]

Trong cuộc tấn công ra bắc vào 1786, trong khi tướng sĩ phía Trịnh mất cảnh giác, thì quân Tây Sơn bắt đầu lên đường ngày 28 tháng 4 âm lịch tức 25 tháng 5 năm 1786.[21] Đến trung tuần tháng 5 âm lịch năm 1786, đạo quân bộ của Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tập kích bất ngờ nơi này, quân Trịnh không kịp trở tay. Hoàng Nghĩa Hồ mang quân ra chống cự bị tử trận.[22] Đánh chiếm được Hải Vân, Nguyễn Huệ lập tức thúc quân tiến thẳng ra Phú Xuân. Lần thứ 2, quân Trịnh lại bất ngờ. Trịnh Tông tập trung ở bến Tây Long, có 100 voi chiến,[22] tổng cộng 30.000 quân Trịnh về phòng thủ Thăng Long. Trong tình thế nguy cấp biết trước sẽ bị tấn công, quân Trịnh vẫn không cảnh giác, cho rằng quân Tây Sơn chưa thể tiến đến Thăng Long nhanh chóng.[23] Cuối cùng, chính quyền chúa Trịnh sụp đổ.

Ngày 20 tháng 12 năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), quân Tây Sơn đã ra đến tận Ninh Bình. Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung nói với binh sĩ rằng chỉ trong 10 ngày sẽ quét sạch quân Thanh. Quân Mãn Thanh và Lê Chiêu Thống đang trong thời gian chuẩn bị ăn Tết đã không phòng bị tốt, cộng với thói kiêu ngạo của Tôn Sĩ Nghị khiến họ thật sự bất ngờ. Sớm hơn cả dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan vỡ quân Thanh. Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu - 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị dẫn tàn quân bỏ chạy, trên đường chạy liên tiếp bị quân Tây Sơn mai phục chặn đánh. Cuối cùng, Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống chạy thoát về Trung Quốc.

Lợi dụng danh nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Sơn sử dụng các biện pháp tâm lý để đạt được sự ủng hộ của đông đảo người dân, huy động nhiều thanh niên gia nhập quân đội Trước hết, trong giai đoạn mới dựng cờ khởi nghĩa Tây Sơn nổi dậy chống quyền thần Trương Phúc Loan để phò chúa Nguyễn. Vì vậy, được lòng cả chúa Nguyễn và nhiều người.

Giai đoạn sau sử dụng danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh", Nguyễn Huệ sai Nguyễn Hữu Chỉnh làm tiến quân ra Bắc. Thua trên chiến trường, không được lòng dân, Chúa Trịnh bỏ thành Thăng Long chạy, bị dân bắt đem nộp Tây Sơn. Trên đường áp giải, Trịnh Tông tự sát.

Danh sách trận chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ tướng Tây Sơn hàng Nguyễn
  2. ^ tướng Tây Sơn hàng Nguyễn

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trích dẫn: Bài chi tiết: Nhà Tây Sơn, phần Tây Sơn khởi nghĩa.
  2. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1976), Sđd, trang 33.
  3. ^ a ă “Hoàng đế Quang Trung ra bắc”. nghiencuulichsu.com. Truy cập 21 tháng 8 năm 2018. 
  4. ^ Viện Lịch sử Việt Nam, Sđd, trang 155, 156.
  5. ^ “Đôi nét về tổ chức quân đội Tây Sơn”. Báo Bình Định. Truy cập 21 tháng 8 năm 2018. 
  6. ^ “TÌM HIỂU THIÊN TÀI QUÂN SỰ CỦA NGUYỄN HUỆ (PHẦN 1)”. Truy cập 21 tháng 8 năm 2018. 
  7. ^ Trích dẫn: Bài chi tiết: Đại Nam thực lục, tập III, trang 6
  8. ^ a ă Tạp chí Lịch sử Quân sự, số ra tháng 8/2012.
  9. ^ Giả thuyết cuộc hành quân thần tốc của Hoàng đế Quang Trung, Báo Bình Định, mục Văn hóa, ngày đăng 27/01/2017. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2018.
  10. ^ “Giải mã sức mạnh có “1-0-2” của tượng binh Tây Sơn (1)”. Báo Bình Định. Truy cập 21 tháng 8 năm 2018. 
  11. ^ “Sức mạnh không thể tin nổi của thủy quân Tây Sơn”. Truy cập 21 tháng 8 năm 2018. 
  12. ^ “Bí mật sức mạnh thủy quân Tây Sơn của ‘Hoàng đế biển cả’ Quang Trung (P.1)”. Truy cập 21 tháng 8 năm 2018. 
  13. ^ “Hoàng Sa, Trường Sa thời Tây Sơn (1786 - 1802)”. Truy cập 21 tháng 8 năm 2018. 
  14. ^ Nguyễn Việt – Vũ Minh Giang – Nguyễn Mạnh Hùng (1983), Sđd, trang 343, 344
  15. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1976), Sđd, trang 265-266.
  16. ^ a ă “Tài dụng binh của vua Quang Trung”. Khúc quân hành. Truy cập 27 tháng 9 năm 2018. 
  17. ^ “Quang Trung - Nguyễn Huệ với chiến thuật nghi binh, dụ địch”. Báo Bình Định. Truy cập 21 tháng 8 năm 2018. 
  18. ^ Tạp chí quốc phòng toàn dân, ngày đăng 20 tháng 1 năm 2015, Nghệ thuật kết hợp tác chiến thủy, bộ trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút (năm 1785), tapchiqptd.vn. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2018.
  19. ^ “Tài dùng binh của Nguyễn Huệ (tt): Hành quân thần tốc (tt) và chiến tranh cách mạng”. Dòng Tên Việt Nam. Truy cập 29 tháng 8 năm 2018. 
  20. ^ Trần Trọng Kim, Sđd, trang 373.
  21. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, Sđd, tr 113.
  22. ^ a ă Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, quyển 46.
  23. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, Sđd, tr 148.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khâm định Việt sử Thông giám cương mục.
  • Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1976), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân.
  • Nguyễn Việt – Vũ Minh Giang – Nguyễn Mạnh Hùng (1983), Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân.
  • Trần Trọng Kim (1920), Việt Nam sử lược, Nhà xuất bản Tân Việt, ấn bản 1968.
  • Viện Lịch sử Việt Nam, Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1992.