Chiến tranh tâm lý

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Chiến tranh tâm lý là hệ thống (tổng thể) các phương thức, các thủ đoạn hoạt động phá hoại trạng thái chính trị - tinh thần và tổ chức của nhân dân và lực lượng vũ trang đối phương.

Chiến tranh tâm lý của được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, chiến tranh tâm lý đồng nhất với cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng. Chiến tranh tâm lý còn được gọi là “chiến tranh ý thức hệ”, “chiến tranh tư tưởng”. Chiến tranh tâm lý theo nghĩa rộng chỉ được sử dụng trong các học thuyết về chiến tranh và các trong quan điểm về chiến lược.

Theo nghĩa hẹp chiến tranh tâm lý là các hoạt động phá hoại tâm lý của đối phương. Chiến tranh tâm lý là các thủ đoạn của đấu tranh tư tưởng hay được gọi là “tâm lý chiến”.

Phương pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Sử dụng hiện đại nhất của thuật ngữ chiến tranh tâm lý, đề cập đến các phương pháp quân sự sau đây:

  • Phá hoại tâm lý đối phương:
    • Phân phối tờ rơi khuyến khích việc đào ngũ, hướng dẫn làm thế nào để đầu hàng.
    • Các biện pháp gây sốc và kinh hoàng
    • Phát và chiếu âm thanh, âm nhạc lặp đi lặp lại và gây phiền nhiễu trong thời gian dài với âm lượng cao.
  • Các đài phát thanh tuyên truyền.
  • Đổi tên thành phố, chẳng hạn như việc đổi tên của Sài Gòn thành thành phố Hồ Chí Minh sau chiến thắng của Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam.
  • Treo cờ giả.
  • Sử dụng hệ thống loa để giao tiếp với lính địch.
  • Khủng bố.[1]
  • Đe dọa bằng vũ khí hóa học.[2]

Hầu hết các kỹ thuật này được phát triển trong Thế chiến II, đã từng được sử dụng ở một mức độ nào đó trong mọi xung đột kể từ đó. Daniel Lerner thuộc PMNM (tiền thân của CIA) trong cuốn sách của ông, ông cố gắng phân tích hiệu quả của các chiến thuật khác nhau. Ông kết luận rằng có rất ít bằng chứng cho thấy bất kỳ thành công nào trong số đó đã thành công đáng kể, ngoại trừ khi chiến thắng xảy ra. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc đo lường thành công hay thất bại của chiến tranh tâm lý là rất khó khăn.

Lerner cũng chia các hoạt động chiến tranh tâm lý thành ba loại:[3]

  • Tuyên truyền trắng (Thiếu sót và Nhấn mạnh): chân thành và không thiên vị, nơi nguồn thông tin được thừa nhận.
  • Tuyên truyền xám (Bỏ sót, nhấn mạnh chủng tộc/Dân tộc/Tôn giáo): rất trung thực, không chứa thông tin nào có thể được chứng minh sai; nguồn không được xác định.
  • Tuyên truyền đen (Thông tin giả): thông tin được đưa ra được quy cho một nguồn không chịu trách nhiệm về việc tạo ra nó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Boaz, Gaynor (tháng 4 năm 2004). “Terrorism as a strategy of psychological warfare”. Journal of Aggression, Maltreatment & Trauma (Taylor and Francis) 9 (1–2): 33–4. doi:10.1300/J146v09n01_03. (cần đăng ký mua)
  2. ^ Romano Jr., James A.; King, James M. (2002). “Chemical warfare and chemical terrorism: psychological and performance outcomes”. Military Psychology (American Psychological Association via PsycNET) 14 (2): 85–92. doi:10.1207/S15327876MP1402_2. (cần đăng ký mua)
  3. ^ Lerner, Daniel (1971) [1949]. Psychological warfare against Nazi Germany: the Sykewar Campaign, D-Day to VE-Day. Boston, Mass: MIT Press. ISBN 0-262-12045-3.  Originally printed by George W. Stewart of New York. Alternative ISBN 0-262-62019-7

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fred Cohen. Frauds, Spies, and Lies - and How to Defeat Them. ISBN 1-878109-36-7 (2006). ASP Press.
  • Gagliano Giuseppe. Guerra psicologia.Disinformazione e movimenti sociali. Introduzione del Gen. Carlo Jean e di Alessandro Politi Editrice Aracne, Roma, 2012.
  • Paul M. A. Linebarger. Psychological Warfare: International Propaganda and Communications. ISBN 0-405-04755-X (1948). Revised second edition, Duell, Sloan and Pearce (1954).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]