Trịnh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Trịnh Khải)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Khải
Chúa Trịnh (chi tiết...)
Trịnh Khải.png
Chân dung Trịnh Tông trong Trịnh gia chính phả
Tại vị 1782 - 1786
Tiền nhiệm Trịnh Cán
Thời Vua Lê Hiển Tông
Kế nhiệm Trịnh Bồng
Thông tin chung
Tên đầy đủ Trịnh Tông
Tước hiệu Đoan Nam Vương (端南王)
Hoàng tộc Chúa Trịnh
Thân phụ Trịnh Sâm
Thân mẫu Dương Thị Ngọc Hoan
Sinh 1763
Mất 1786

Đoan Nam Vương Trịnh Tông (鄭棕), còn có tên khác là Trịnh Khải (鄭楷, 1763 - 1786) là vị chúa thứ 11 của dõng dõi chúa Trịnh, cầm quyền từ năm 1782 tới năm 1786, ở giai đoạn tan rã của tập đoàn phong kiến họ Trịnh.

Trịnh Tông là con trai trưởng của Thánh Tổ Thịnh vương Trịnh Sâm, mẹ là bà Dương Thị Ngọc Hoan. Từ lúc trẻ, ông đã không được cha mình thương yêu và bị Tuyên phi Đặng Thị Huệ tìm cớ hãm hại. Trong vụ án năm Canh Tí, Trịnh Tông bị truất ngôi làm con út, nhường lại chức thế tử cho Trịnh Cán là con của Tuyên phi. Tuy nhiên vào tháng 10 ÂL năm 1782, không lâu sau khi Trịnh Sâm mất, lính tam phủ cùng nhau nổi dậy tôn phò Trịnh Tông lên giữ ngôi chúa mà truất ngôi của Trịnh Cán.

Kiêu binh hai xứ Thanh, Nghệ do có công phò Trịnh vương nên rất đắc chí, lộng hành ngang ngược không kiêng kị gì cả khiến triều cương hỗn loạn, thế nước suy yếu. Năm 1786, tướng Tây SơnNguyễn Văn Huệ (vua Quang Trung) lấy danh nghĩa phù Lê suất quân bắc phạt; Trịnh Tông không chống lại được rồi bị bắt và tự tử; bắt đầu cho mấy năm biến động liên tiếp trên chính trường Bắc Hà cho tới mùa xuân năm 1789.

Thân thế và cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Khải còn có tên khác là Trịnh Tông (鄭棕), là con trai cả của Thánh tổ Thịnh vương Trịnh Sâm với một cung tần tên là Dương Thị Ngọc Hoan, người làng Long Phúc, huyện Thạch Hà. Chị của Ngọc Hoan là ái phi của chúa Trịnh Doanh, cha của Trịnh Sâm, nhờ vậy bà cũng được đưa vào cung, song không được chúa đoái thương. Một đêm nọ, Ngọc Hoan mơ thấy có thần cho tấm vải có vẽ hình đầu rồng, bèn nói với hoạn quan Khê Trung hầu, hai người đều cho rằng đấy là điềm báo sinh ra con thánh. Trịnh Sâm sai Khê Trung Hầu gọi cung tần Ngọc Khoan, nhưng Khê Trung hầu vờ nghe nhãng tai, sắp xếp đưa Hoan vào thay cho Khoan hầu hạ chúa. Chúa biết mà không nỡ đuổi ra. Sau đó, Ngọc Hoan đã có mang, sinh ra Trịnh Tông năm 1763.

Khải lớn lên khôi ngô, tuấn tú nhưng chúa không hề yêu quý do chúa cũng không yêu Ngọc Hoan. Hơn nữa, Trịnh Sâm cho rằng, giấc mơ rồng là điềm làm vua chúa, nhưng rồng vẽ không phải là rồng thật, lại không có đuôi, ắt là cơ nghiệp không bền. Trịnh Sâm không muốn phong cho Khải làm thế tử, việc học tập được giao cả cho các quan; đến khi Khải đủ tuổi ra ở riêng, chúa cũng lờ luôn. Theo thể lệ cũ, con chúa cứ đến 7 tuổi, cho ra ở nhà riêng để học, nếu là con trưởng thì đến 13 tuổi cho mở phủ đệ và được phong làm thế tử. Nhưng chúa cho rằng Tông không phải do vợ cả sinh ra, nên chỉ dùng Hân quận công Nguyễn Phương Đĩnh làm bảo phó. Đến năm 9 tuổi, Trịnh Tông mới đi học, dùng Nguyễn LệLý Trần Thản làm Tả, Hữu tư giảng. Chưa được bao lâu, Trần Thản mất, Nguyễn Lệ trấn thủ Sơn Tây, chúa cho Tông đến ở nhà riêng Nguyễn Phương Đĩnh, có lệnh mới được vào phủ đường triều yết[1].

Chính biến năm Canh Tí[sửa | sửa mã nguồn]

Quận Huy Hoàng Đình Bảo giữ chức trấn thủ Nghệ An, rất được lòng dân. Trịnh Sâm nghi là có ý phản, bí mật bàn mưu với Nguyễn Lệ và Nguyễn Phương Đĩnh giết Đình Bảo. Đình Bảo vì có vợ thân thiết với Đặng Tuyên phi đang được sủng ái, nên biết chuyện, bèn làm tờ khải xin về triều, chúa y cho.

Đình Bảo cho rằng Đặng Thị tuy được chúa cưng yêu, nhưng con cô ta là Trịnh Cán còn bé mà Trịnh Tông thì đã trưởng thành. Sau khi về kinh, Đình Bảo cho đem lễ vậy 100 lạng vàng, 10 cây đoạn gấm, làm lễ trình diện, đến yết kiến Trịnh Tông. Ông từ chối, không cho vào, lại nói riêng với người hầu hạ rằng:

Thằng giặc ấy sao không ở trấn Nghệ An để làm phản, lại về triều làm gì? Một ngày kia ta sẽ tịch thu gia sản nó, ta cũng đâu thèm chi cái lễ của nó.

Đình Bảo nghe được câu ấy, sợ lắm, tự suy nghĩ là mình không được thế tử bao dung, bèn ngả sang phe Đặng Thị Huệ. ngầm chủ trương mưu kế bỏ người này lập người khác, Đặng Thị cũng hết sức giúp đỡ Đình Bảo, và biện bạch là Đình Bảo bị vi oan, lại cho Đình Bảo có thể dùng giữ việc trọng đại được. Trịnh Sâm tin lời. Do đấy, Đình Bảo được vào giữ chức trong chính phủ, lãnh chức trấn thủ Sơn Nam bằng cách vắng mặt. Quyền thế Đình Bảo làm nghiêng lệch cả trong kinh, ngoài trấn. Bọn quản binh và trấn thủ đều là môn hạ, chỉ có Nguyễn Lệ ở Sơn Tây và Nguyễn Khắc Tuân ở Kinh Bắc cùng Đình Bảo vẫn ngầm có ý đánh đổ Đình Bảo.

Bấy giờ Đặng Tuyên phi được sủng ái, lại có viện trợ từ Hoàng Đình Bảo, nuôi ý lập con mình là Cán làm kế tự, Tông cảm thất bất an bởi khi Trịnh Sâm mắc bệnh, nhiều lần Tông không được vào yết kiến. Lại vì bên ngoài có lời đồn Trịnh Sâm bệnh nặng lắm, nên Trịnh Tông bèn bàn mưu với gia thần là Đàm Xuân Thụ và bọn đầy tớ nhỏ là Thế và Thẩm. Theo lời khuyên của bọn họ, ông bí mật chứa sẵn binh khí, chiêu mộ dũng sĩ, dự định khi Trịnh Sâm mất thì đóng cửa thành lại, giết Đình Bảo, bắt giam Tuyên phi, rồi báo cho quan hai trấn Tây, Bắc vào hộ vệ. Tông nghe theo, vay ngầm của nội thị Chu Xuân Hán 1.000 lạng bạc, để nuôi dũng sĩ và sắm khí giới[1]. Lại báo việc đó cho Nguyễn Lệ và Nguyễn Khắc Tuân đề họ sẵn sàng dự bị.

Đốc đồng Kinh Bắc Ngô Thời Nhiệm[2] từng giảng sách cho Trịnh Tông, được kính trọng; cùng với Hà Như Sơn là học trò của Nhiệm làm việc giữ sách. Như Sơn biết được việc, đem nói với Nhiệm và Cấp sự trung Nguyễn Huy Bá. Bá cho con dâu vào làm thị tỳ hầu hạ Đặng Thị, lại sai người thân tín cầu cạnh làm hầu hạ Nguyễn Khắc Tuân, nên dò biết việc này, bèn vào phủ tố cáo. Đặng Tuyên phi bèn cùng Ngô Thời Nhiệm hợp mưu cáo tố là Tông cấu kết với hai viên trấn thủ, mưu toan làm việc trái phép. Chúa giận lắm, cho triệu Hoàng Đình Bảo vào phủ, muốn trị tội ngay. Đình Bảo can rằng

Thế tử dám làm việc to lớn này, chính do viên quan hai trấn ở Tây và Bắc chủ mưu, nay họ đều cầm quân ở ngoài nếu trị tội một cách vội vàng, e sẽ xảy ra biến cố khác. Vậy chi bằng trước hết triệu hai viên trấn thủ ấy về triều, rồi sau sẽ dần dà phát giác sự trạng để trị tội.[1]

Chúa bằng lòng, bèn hạ lệnh triệu Nguyễn Lệ về. Khi Lệ về đến nơi, Sâm yên ủi có phần hơn trước. Cách mấy hôm sau lại sai bắt bè đảng của Lệ; nhân đấy lại cho triệu Nguyễn Khắc Tuân. Khi Tuân đã về, chúa bèn bắt giam lại cùng với Nguyễn LệNguyễn Phương Đĩnh, rồi sai Ngô Thời Nhiệm cùng với hoạn quanPhạm Huy Thức tham dự việc tra hỏi. Gặp lúc ấy, cha Thì Nhậm là Thời Sĩ tự tử, Nhiệm Nhậm phải vê để tang, nên sai Lê Quý Đôn tra hỏi lại, bọn Xuân Thụ, Thế và Thẩm nhận hết tội lỗi.

Trịnh Sâm bèn truất Tông xuống làm con út, giết bọn Xuân Thụ, bắt giam Nguyễn LệNguyễn Khắc Tuân. Quận Hân Nguyễn Phương Đĩnh vì nuôi dưỡng không tốt, nên bị lột hết chức tước đuổi về làng. Khắc Tuân và Chu Xuân Hán đều uống thuốc độc chết. Trịnh Tông đã bị phế, ở ngôi nhà ba gian, ăn uống ra vào không được tự do, người ta đều lo ngại cho Khải, nhưng không người nào dám nói. Lúc ấy có viên tri châu cũ là Lê Vĩ, dâng thư biện bạch cho Khải là bị tội oan, nhưng không được chúa xét đến[1].

Lên ngôi nhờ kiêu binh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1781, Trịnh Sâm chính thức lập Trịnh Cán làm thế tử. Năm 1782, Trịnh Sâm mất, Trịnh Cán mới có 6 tuổi nối ngôi, quyền lực nằm trong tay Đặng Thị Huệ, Hoàng Đình Bảo[3]. Đặng thị bắt Trịnh Tông ra sống ở nhà Tả Xuyên, giam giữ cấm đoán nghiêm ngặt. Mẹ ông là Dương thị sai người đến khuyên quận Huy thương tình. Đình Bảo khóc và nói

"Đình Bảo này thờ tiên vương, rất được đội ơn yêu dấu.uý tử là con của tiên vương tôi; nếu tôi có lòng nào sẽ bị trời tru đất diệt[1].

Từ đấy, việc giam giữ áp chế được nới rộng, gia thần của Trịnh Tông dần dần được vào gặp. Bấy giờ còn nhỏ tuổi, lại vì Đặng Thị HuệHoàng Đình Bảo câu kết chuyên quyền nên ai cũng ghét. Tháng 10 ÂL, bầy tôi của Trịnh Tông là Dự Vũ nhân lúc quân sĩ đang say rượu mà nói khích họ rằng

Thế tử của tiên vương không tội trạng gì, chỉ vì Đặng Thị là người đàn bà ác nghiệt, làm mê hoặc tiên vương để cướp ngôi cho con; Đình Bảo vốn có chí làm phản, hắn lợi dụng tân vương còn thơ ấu để áp chế, nên phụ hoạ với Đặng Thị để thành cái kế cướp ngôi. Nay tân vương bị bệnh nguy kịch, tất nhiên xảy ra họa loạn. Các quân sĩ đều là người cũ ở nơi thang mộc, làm nanh vuốt của nước, vốn giữ lòng trung nghĩa, nếu một bụng tôn phò, yên định được nhà chúa, thì tên tuổi sẽ chép trong thư đỏ, khoán sắt[4], công ấy còn gì lớn hơn?".[1]

Quân sĩ bèn hẹn nhau, mưu tính. Có Nguyễn Bằng làm người đứng đầu đề nghị khởi sự khi có ba tiếng trống trên phủ đường. Sáng ngày 24 ÂL (tức 28 tháng 11 năm 1782), Nguyễn Bằng đi tắt lên phủ lầu đánh trống, các quân sĩ cùng xông vào. Đình Bảo ra trận và bị giết. Quân sĩ bèn đem nhau đến sở giam, phò Trịnh Tông ra ngồi phủ đường, rồi lấy chỉ dụ của Nguyễn Thái Phi tâu xin mệnh lệnh nhà vua lập Khải làm nguyên soái Đoan Nam Vương, truất Cán làm Cung quốc công. Sau đó, Cán bị bệnh chết[1].

Họa kiêu binh[sửa | sửa mã nguồn]

Quân sĩ hai xứ Thanh, Nghệ vừa lập được công, bèn thả sức cướp bóc nhà họ Đặng và họ Hoàng, đến mấy ngày sau mới yên. Họ lại đòi ban thưởng. Trịnh Tông bèn tâu với Hiển Tông Vĩnh hoàng đế, phong Nguyễn Bằng làm Suy trung dực vận công thần và tước hầu; 30 người nhóm cuộc hội bàn đầu tiên được đặc biệt thăng thưởng; còn các quân thủy, quân bộ trong kinh ngoài trấn đều được thăng chức một bậc, và đều được ban thưởng tiền bạc có người nhiều người ít khác nhau. Lại rộng cấp cho mỗi người một đạo "không đầu sắc", cho phép họ được nhường cho thân thuộc. Từ đó kiêu binh ngày càng càn rỡ, viên quan cai quản không thể nào thống trị khống chế được, chỉ ràng buộc lỏng lẻo mà thôi.

Trước kia, Trịnh Sâm bị bệnh nặng, cho con là Cán nối ngôi, sai bọn Phan Lê Phiên viết thư cố mệnh và chế sách về Tuyên phi. Khi thư cố mệnh đã viết xong, chúa sai Trịnh Kiều viết thay. Đến nay, Trịnh Tông đưa thư cố mệnh ấy ra, trong thư có chữ thái phi Nguyễn thị phê rằng:

Không phải chữ chính tay tiên vương viết, không lấy gì làm bằng cứ, giao xuống cho chính phủ bàn luận.

Theo ý của Phạm Nguyễn Du, triều đình kết tội Trịnh Kiều, Phan Lê Phiên, Nhữ Công Điền đều can tội thiên tiện ra mệnh lệnh, bị bãi chức. Lại truất Đặng Thị Huệ làm thứ nhân, sau Đặng Thị uống thuốc chết[1].

Sau khi tôn lập Trịnh Tông, lính tam phủ cùng nhau rước hoàng tôn Duy Khiêm trở về. Duy Khiêm là con của thái tử Duy Vĩ. Trước kia thái tử bị Thịnh vương hãm hại, Duy Khiêm và các em đều bị bắt giam, mà hoàng tử thứ tư là Duy Cận được làm thái tử. Đó là ý của thái phi Nguyễn thị. Đầu năm 1783, Thái phi thấy hoàng tôn trở về, rất lo là Duy Cận mất ngôi, bèn tìm cớ ép hoàng tôn sang chầu rồi bí mật giết đi, nhưng việc đó bị phát giác ra bởi bọn kiêu binh. Họ hè nhau làm loạn một phen khiến Duy Cận suýt chết. Chúa biết việc này do Thái phi gây ra, dụ dỗ quân sĩ chớ làm huyên náo, rồi lập tức hạ lệnh cho bầy tôi trong triều xin nhà vua lập Duy Khiêm làm hoàng thái tôn. Lại bắt Duy Cận làm tờ biểu nhường ngôi thái tử. Duy Cận bị truất làm Sùng Nhượng công[5].

Mùa thu năm đó, Trịnh Tông khởi phục Nguyễn Lệ làm Thượng thư bộ Lại, coi việc Tham tụng, cậu là Dương Khuông giữ quyền phủ sự. Bọn Nguyễn Lệ ngày đêm mưu tính diệt trừ kiêu binh. Đầu năm 1784, có 4 quân sĩ giả xưng đồng đội, vay ức tiền của hiệu buôn ở phố Đông Hà, bị anh em trong bản đội phát giác. Bọn Nguyễn Lệ hạ lệnh lập tức xử trảm. Quân sĩ tuy bất bình nhưng không làm được gì, khiến bọn Nguyễn Lệ rất đắc chí. Có tri huyện Mai Doãn Khuê mất tấu việc kiêu binh muốn tôn phò vua Lê, đánh đổ nhà chúa, Nguyễn Lệ báo cáo cho chúa. Doãn Khuê tố cáo Nguyễn Siêu là cháu ngoại của Tứ Xuyên hầu là Phan Lê Phiên có dự vào mưu, nhưng có chứng cứ. Chúa vẫn phong cho Doãn Khuê tước bá, quản lãnh đội quân thị hậu và là giảng quan của hoàng tự tôn, cho ở nội điện để tiện dò xét[5].

Mùa xuân năm 1784, quân sĩ có người cậy công rước hoàng tự tôn về, xin ban phong cho cha mẹ, họ đem nhau vào sân điện tâu bày để xin phong, nhà vua sai triệu vào nội điện, tuyên bố chỉ dụ yên ủi. Chúa biết chuyện thất kinh, triệu Nguyễn LệDương Khuông vào và nói

Mưu kế của kiêu binh tôn phò nhà vua không thể dập tắt được, nay chúng đương tụ họp ở nội điện, làm thế nào bây giờ.

Bọn Nguyễn Lệ xin phái quân đến bắt và giết đi. Chúa y theo, lệnh cho Nguyễn Triêm dẫn quân đến bao vây trên nội điện, bắt được 7 người, giao xuống tra hỏi. Dương Khuông xin chiếu điều luật "vượt vào hoàng thành", đem chém tất cả[5]. Quân sĩ biết chuyện rất phẫn uất, đến sáng hôm sau thì khởi sự. Ngày 6 tháng 3 năm 1784, quân sĩ đem nhau vây nhà bọn Nguyễn LệDương Khuông. Khuông và Triêm đều trốn vào phủ chúa, Lệ chạy lên Sơn Tây. Quân sĩ tranh nhau phá hũy nhà cửa bọn này, rồi reo hò ầm ĩ vác siêu đao đi thẳng vào trong phủ lùng bắt. Trịnh Khải cùng Dương Thị đem tiền bạc ra để chuộc tính mạng cho Khuông. Quân sĩ lại lùng bắt Triêm, Trịnh Khải bất đắc dĩ bảo Triêm ra, quân sĩ lấy gạch đá đánh chết. Trịnh Tông bị ép hạ lệnh đoạt quan chức của Nguyễn LệDương Khuông[5]. Từ đấy, quyền bính về tay quân sĩ, chúng uy hiếp áp bức các quan, động một tý là dọa sẽ phá nhà, giết chết. Thậm chí đến việc thay đỗi tướng tá văn ban, võ ban cũng đều do miệng quân sĩ nói ra mới xong, công việc trong nước không thể xoay xở thế nào được. Cương mục nhấn xét

Lúc này là thế giới nào, ngàn đời chưa từng nghe có việc như thế! Câu nói "chính danh[6]" của thánh nhân thật đáng tin là không phải lời nói vu khoát.[5]

Nguyễn Lệ chạy lên Sơn Tây, bàn với em là Nguyễn Điều lấy mệnh lệnh của chúa bí mật truyền bảo để họ chiêu mộ nghĩa sĩ diệt kiêu binh. Lại mật báo cho Hoàng Phùng Cơ đem châu sư đến Thanh Trì, nói phao là đi tuần tiễu mặt sông, rồi ngầm dùng chiếc thuyền nhỏ để đón chúa, chúa ăn mặc giả dạng xuống thuyền, thuận dòng xuôi về Hiến doanh hành tại ở đấy. Nguyễn Lệ và Trịnh Tông hẹn nhau ngày 28 tháng 1 ÂL (tức 19 tháng 3) Hoàng Phùng Cơ sẽ đem thuyền đón chúa, sau đó các trấn đem quân vào kinh giết kiêu binh. Trong bọn quân sĩ có người biết được mưu ấy, họ bèn chia nhau ngày đêm canh giữ phủ chúa Trịnh rất nghiêm ngặt, chúa không sao đi được. Vì thế, các trấn cũng bãi binh. Từ đấy, quân sĩ mỗi khi ra ngoài kéo từng đàn hàng trăm hàng ngàn người, tung hoành nơi thôn xóm, tự ý cướp bóc thả cửa. Quân sĩ nào đi đường một mình, thường bị dân quê đón đường giết chết. Quân và dân không ưa nhau. Sau có quan Tham tụng là Bùi Huy Bích dỗ dành mãi mới dần dần hơi yên[3].

Giao tranh với Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 ÂL năm 1784, chúa bổ dụng Bùi Huy Bích làm tham tụng, Trương Đăng Quỹ, Trần Công Xán làm bồi tụng[5]. Lúc đó tình hình ở Bắc Hà ngày một rối loạn. Tháng 3 ÂL năm 1786, giá gạo cao vọt, dân trong kinh kỳ và tứ trấn bị đói to, thây chết nằm liền nhau. Chúa hạ lệnh chiêu mộ nhân dân, ai nộp của sẽ trao cho quan chức, nhưng không ai hưởng ứng. Bèn dùng sắc lệnh bắt ức nhà giàu để lấy tiền chia ra phát chẩn[5].

Một thủ hạ của Hoàng Đình BảoNguyễn Hữu Chỉnh không chịu theo Trịnh Khải, bỏ vào nam theo Tây Sơn để mượn quân báo thù. Vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc tin dùng Chỉnh. Chỉnh hiến kế đánh Thuận Hoá, Nguyễn Nhạc nghe theo, sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cùng Chỉnh mang quân bắc tiến. Tháng 5 ÂL, quân Tây Sơn do Nguyễn Văn Huệ chỉ huy tiến đánh Thuận Hóa. Hoàng Đình ThểVũ Tá Kiên tử trận, trấn thủ Phạm Ngô Cầu ra hàng, Thuận Hóa mất. Quân Tây Sơn tung quân vào thành, chém giết thả cửa, hơn vài vạn tướng sĩ đóng ở đồn, chỉ còn được vài trăm người qua sông trở về Bắc Hà mà thôi. Tướng đóng ở các đồn Cát Doanh[7] và Động Hải nghe được phong thanh đều chạy.

Nguyễn Văn Huệ theo ý của Nguyễn Hữu Chỉnh, giả mệnh vua Tây Sơn (Nguyễn Văn Nhạc), lấy danh nghĩa "phù Lê diệt Trịnh", dùng Hữu Chỉnh làm tiền phong thủy quân, kéo quân ra cửa biển Việt Hải, vào cửa biển Đại An, kéo thẳng đến Vị Hoàng (trấn thành Nam Định) chiếm lấy kho lương. Văn Huệ tự thống suất đại binh, theo đường thủy, đường bộ tiếp tục xuất phát. Trấn tướng hai xứ Thanh, Nghệ bọn Bùi Thế ToạiTạ Danh Thùy đều bỏ thành trốn, Hữu Chỉnh kéo quân đến Vị Hoàng[5].

Triều thần biết Thuận Hóa mất, tâu rằng

Thuận Hóa vốn không phải đất đai của triều đình, trước kia tốn bao nhiêu công của mới lấy được, chung quy cũng chẳng ích lợi

gì? Bây giờ chỉ nên bàn luận tìm cách đóng quân ở Nghệ An theo như việc cũ mà thôi.

Chúa bèn cho Trịnh Tự Quyền đem quân tới Nghệ An chống cự, Tự Quyền chần chừ không đi, đến khi đi thì Nghệ An mất rồi, bèn đến đóng ở Kim Động, cùng với Đỗ Thế Dận đóng ở sông Phú Sa[8], Đinh Tích Nhưỡng đốc lãnh các quân thủy đạo tiến thẳng đến giữ ở cửa Luộc. Quân Trịnh gặp quân Tây Sơn và thua thảm, tranh nhau bỏ chạy, Sơn Nam bị mất. Lúc ấy triều đình đã hết sức rối ren đỗ nát, giặc đã nhòm biết kẽ tóc chân tơ rồi, tiến thẳng quân mà đánh lấy có khó khăn gì[5].

Trận thua đó làm cả thành Thăng Long nhốn nháo, các quan tranh nhau bỏ chạy. Nguyễn Lệ từ Sơn Tây về kinh, khuyên Trịnh Tông đưa nhà vua lên Sơn Tây để tính việc đối phó. Bọn kiêu binh hợp nhau lại la hét ầm ĩ, cho là Nguyễn Lệ dắt giặc vào kinh thành, toan giết Lệ, Lệ chạy lên Sơn Tây. Trịnh Tông vì Bùi Huy Bích không có công trạng gì, nên bắt ra ngoài đốc chiến; lại theo kế của Trần Công Xán, cố giữ kinh đô; chỉ đưa Thái phi và sáu cung ra ngoài. Chúa bèn triệu Hoàng Phùng Cơ về kinh, cho tiền mộ quân. Quân của Phùng Cơ đóng ở hồ Vạn Xuân, đội quân Tứ thị thủy dàn thuyền ở sông Thúy Ái. Chúa đem quân trong thành bày trận ở bến Tây Luông. Kết quả, Nguyễn Trọng YênNgô Cảnh Hoàn tử trận, quân Tây Sơn kéo lên bộ, đánh tan đội quân của Hoàng Phùng Cơ, giết sáu người con của ổng. Quân Tây Sơn tiến đến Tây Luông, chúa mặc nhung phục, ngồi trên bành voi, cầm cờ lệnh chỉ huy, nhưng quân sĩ nhìn nhau, không ai chịu tiến lên. Quân Tây Sơn tung quân ra chém giết, quan quân tan vỡ lung tung. Trịnh Tông quay voi trở về thành, đến cửa Tuyên Võ, trông thấy ngoài phủ đã cắm hàng loạt cờ quân địch, bèn dẫn hơn trăm tượng binh, hướng theo đường Sơn Tây chạy trốn. Bầy tôi, người thì bỏ trốn, người thì tan chạy, cũng không một người nào biết đến chúa cả[5].

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Trịnh Khải chạy đến xã Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, quân sĩ tan tác hết. Nguyễn Noãn đến xin chúa vào địa phận của mình, chúa không theo và đến nương nhờ viên tiến sĩ trước kia giữ việc ở Lại phiên là Lý Trần Quán trước đây vâng đem tờ hịch đi chiêu mộ nghĩa binh. Trần Quán nói dối với học trò là Nguyễn Trang, một tên tướng cướp

Có quan tham tụng Kế Liệt hầu tránh loạn đến đây, muốn phiền anh hộ tống ra khỏi địa phận[5].

Nguyễn Trang xem thái độ của thầy thì biết người ở đó là chúa Trịnh, bèn cùng đồ đảng là Nguyễn Ba bắt giải nộp doanh trại Tây Sơn. Trần Quán được tin, vội vàng chạy đến, vừa lạy vừa khóc, nói

"Làm lầm lỗi chúa đến thế này là tội ở tôi.

Lại nói với Nguyễn Trang

Chúa là chúa chung khắp thiên hạ, mà tao lại là thầy mày. Nghĩa cả vua tôi là trọng, sao mày dám làm việc đó.

Nguyễn Trang đáp

Quan lớn để tôi ra mắt chúa. Chúa sống ở tay tôi, rồi quân nam đến hỏi tội thì quan lớn có cãi hộ được chăng. Sợ thầy không bằng sợ giặc, quý chúa không bằng quý mình.[5]

Trần Quán quay sang nói với chúa

Trời ơi, tôi giết chúa rồi, trời có thấu không.

Chúa bảo

Tấm lòng trung nghĩa của người, quả nhân biết rồi; không cần phải tự oán nữa.

Rồi Nguyễn Trang cho giải chúa đi. Trên đường bị áp giải dừng lại ở quán nước, Trịnh Tông vớ con dao trên bàn đâm cổ tự vẫn. Dao vừa đâm vào cổ, vết thương chưa sâu, người áp giải vội giằng lấy con dao, ông bèn lấy ngón tay chọc vào cổ mà xé vết thương rộng ra để chết. Sau đó ông được Nguyễn Huệ khâm liệm tống táng chu đáo. Năm đó Đoan Nam vương 24 tuổi, ở ngôi chúa được 4 năm, đúng như dự liệu của Trịnh Sâm, cơ nghiệp không bền. Nguyễn Văn Huệ sai sắm đủ áo quan khâm liệm tống táng; bổ dụng Trang làm trấn thủ Sơn Tây, phong là Tráng liệt hầu. Còn Lý Trần Quán sau việc đó thì tự chôn sống mà chết[5].

Sau khi Trịnh Tông chết, nhân lúc Tây Sơn rút về, phe cánh họ Trịnh bèn tìm lập bác ông là Trịnh Bồng làm chúa nhưng chẳng bao lâu thì lại bị Nguyễn Hữu Chỉnh đánh dẹp, chính thức chấm dứt nghiệp họ Trịnh. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, đến trước khi mất thì Trịnh Tông đã có 3 người con trai; đều cùng với Trịnh thái phi Dương thị lẫn trốn đi nơi khác. Do lam sơn chướng khí, dịch bệnh hoành hành nên hai người con nhỏ đều chết yểu, chỉ còn có người con lớn nhất là sống sót. Sau này khi quân Tây Sơn rút đi, vua Lê Chiêu Thống cho đón thái phi và vương tử về kinh, đối đãi tử tế; và sau đó không biết gì nữa về kết cục của họ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e Cương mục, chính biên quyển 45.
  2. ^ Nguyên tên là Ngô Thì Nhậm nhưng kiêng húy vua Tự Đức nên đổi thành như vậy
  3. ^ a ă Việt Nam sử lược, quyển 2, Tự chủ thời đại, chương IX
  4. ^ Nguyên văn chép "đan thư thiết khoán": Văn thư viết bằng son, khoán ước chế bằng sắt, đời cổ dùng ban cho bầy tôi có công, để truyền cho con cháu được miễn tội.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Cương mục, chính biên quyển 46.
  6. ^ Câu nói của Khổng Tử, chép trong thiên "Tử Lộ", sách Luận Ngữ ý nói danh phận của từng người phải cho đúng mức.
  7. ^ Nay thuộc xã Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
  8. ^ Hạ lưu sông Nhị, nay thuộc huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên