Gia Khánh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gia Khánh Đế
嘉慶帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
清 佚名 《清仁宗嘉庆皇帝朝服像》.jpg
Flag of the Qing Dynasty (1889-1912).svg Hoàng đế Đại Thanh
Trị vì 9 tháng 2 năm 17962 tháng 9 năm 1820
(24 năm, 206 ngày)
Tiền nhiệm Thanh Cao Tông
Kế nhiệm Thanh Tuyên Tông
Thông tin chung
Hoàng hậu Hiếu Thục Duệ Hoàng Hậu
Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Vĩnh Diễm
(愛新覺羅永琰)
Húy: Ngưng Diệm (顒琰)
Niên hiệu Gia Khánh (嘉慶)
Thụy hiệu Thụ Thiên Hưng Vận Phu Hóa Tuy Du Sùng Văn Kinh Vũ Quang Dụ Hiếu Cung Cần Kiệm Đoan Mẫn Anh Triết Duệ Hoàng đế
(受天興運敷化綏猷崇文經武光裕孝恭勤儉端敏英哲睿皇帝)
Miếu hiệu Nhân Tông (仁宗)
Thân phụ Thanh Cao Tông
Thân mẫu Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
Sinh 13 tháng 11, 1760(1760-11-13)
Nhà ThanhViên Minh Viên, Bắc Kinh
Mất 2 tháng 9, 1820 (59 tuổi)
Nhà ThanhTị Thử Sơn Trang, Hà Bắc
An táng Xương lăng (昌陵), Tây Thanh Mộ

Thanh Nhân Tông (chữ Hán: 清仁宗, 13 tháng 11 năm 17602 tháng 9 năm 1820), Hãn hiệu Tát Y Thập Nhã Nhĩ Đồ Y Lỗ Cách Nhĩ Đồ hãn (萨伊什雅尔图伊鲁格尔图汗; Сайшаалт ерөөлт хаан), Tây Tạng tôn hiệu Văn Thù hoàng đế (文殊皇帝), là vị Hoàng đế thứ 7 của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc Mãn Châu. Ông cai trị từ năm 1796 đến năm 1820 và chỉ dùng niên hiệu Gia Khánh (嘉慶) nên ông còn được gọi là Gia Khánh Đế (嘉慶帝).

Vào năm Càn Long thứ 60 (1796), Càn Long Đế do không muốn thời gian trị vì của mình lớn hơn người tổ phụ Thanh Thánh Tổ Khang Hi mà mình ngưỡng mộ, đã thiện nhượng cho Gia Khánh Đế để lên làm Thái thượng hoàng, nhưng vẫn tiếp tục nắm quyền quyết định các việc lớn, sử gọi là Huấn chính (训政) biện pháp. Trong thời gian trị vì của mình, ông đã có những hành động cố gắng khôi phục lại triều Thanh sau một thời gian dài bị lũng đoạn bởi Hòa Thân và chống nạn buôn thuốc phiệnTrung Hoa. Ông đã cho hành quyết sủng thần của cha mình là Hòa Thân, một quan tham nổi tiếng thời Càn Long.

Thời kỳ trị vì của ông, mâu thuẫn xã hội gay gắt, nha phiến lưu nhập Trung Quốc, nạn tham nhũng không khởi sắc, sử gia gọi là Gia Đạo trung suy (嘉道中衰).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Nhân Tông Gia Khánh hoàng đế nguyên danh Vĩnh Diễm (永琰), sau khi lên ngôi tên ông đổi thành Ngung Diễm (顒琰) và lấy đó là húy kị. Ông là con trai thứ 15 của Thanh Cao Tông Càn Long hoàng đế, sinh tại Viên Minh Viên vào ngày 13 tháng 11 năm Càn Long thứ 25 (1760), mẹ là Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Ngụy Giai thị, con của Nguỵ Thanh Tháingười Hán.

Năm Càn Long thứ 54 (1789), ông được phong làm Gia thân vương (嘉親王). Càn Long Đế trước đó từng ngầm định 2 vị hoàng tử là Vĩnh LiễnVĩnh Tông, đều là con của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu Phú Sát thị nhưng đều qua đời sớm. Đến khi những năm cuối của triều đại, Càn Long Đế mới ngầm chọn ông chỉ định làm Trữ quân, cũng đã là lần thứ 3 Càn Long Đế quyết định lập Trữ.

Chấp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 60 (1795), Càn Long Đế triệu vương công hoàng tử vào chầu Cần Chánh điện (勤政殿) tuyên bố lập trữ, tuyên Gia thân vương Vĩnh Diễm làm Hoàng thái tử. Tháng 2 năm sau (1796), Càn Long Đế tuyên chiếu thiện nhượng cho Thái tử Vĩnh Diễm, lấy niên hiệu là Gia Khánh. Tuy thế, trong ba năm sau đó, Gia Khánh Đế chỉ làm Hoàng đế trên danh nghĩa, vì Thái thượng hoàng Càn Long vẫn là người ra quyết định. Đến mãi năm Gia Khánh thứ 4 (1799), Thái thượng hoàng băng hà, Gia Khánh Đế mới làm lễ lên ngôi, khi ấy đã 40 tuổi.

Sau khi Càn Long Đế băng hà, Gia Khánh Đế nắm triều chính và xử tội Hòa Thân. Với tội danh tham nhũng và lạm dụng chức quyền, Hòa Thân bị tước hết quan tước và ban cho tự sát. Con dâu của Hòa Thân, em gái của Gia Khánh Đế, là Cố Luân Hoà Hiếu Công chúa được miễn tội và ban cho một số tài sản của Hòa Thân.

Vào năm Gia Khánh thứ 8 (1803), phát sinh cuộc nội loạn của Trần Đức xông vào Tử Cấm Thành. Và năm Gia Khánh thứ 18 (1813), lại phát sinh loạn bởi Thiên Lý giáo (天理教) đột nhập vào hoàng cung. Những người trực tiếp tham gia bị xử tử, hàng trăm người khác bị lưu đày sau hai vụ ám sát này.

Triều đại của Gia Khánh Đế, tuy tiễu trừ Hòa Thân, thi hành tiết kiệm, cải tổ bè đảng, song vấn đề tham ô không một khởi sắc mà thậm chí còn nặng nề thêm. Trong suốt thời kì Gia Khánh Đế trị vì, bạo loạn xã hội bởi Bạch Liên giáoThiên Lý giáo đã làm tình hình trở nên nghiêm trọng. Nha phiến lưu nhập Trung Quốc. Bát Kỳ sinh nhai kế gặp vấn đề.

Băng hà[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Gia Khánh thứ 24 (1820), ngày 2 tháng 9, Gia Khánh Đế băng hà tại Hành cung Nhiệt Hà, cách Bắc Kinh 230 km về hướng đông bắc.

Gia Khánh đế trị vì được 24 năm, miếu hiệuNhân Tông (仁宗), thụy hiệuThụ Thiên Hưng Vận Phu Hóa Tuy Du Sùng Văn Kinh Vũ Quang Dụ Hiếu Cung Cần Kiệm Đoan Mẫn Anh Triết Duệ hoàng đế (受天興運敷化綏猷崇文經武光裕孝恭勤儉端敏英哲睿皇帝). Thanh Nhân tông được an táng tại tổ hợp Xương Lăng (昌陵) ở Tây Thanh Mộ, cách Bắc Kinh 120 km về hướng tây nam.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Thục hoàng hậu Hỉ Tháp Lạp thị (孝淑皇后喜塔腊氏).
Hiếu Hòa hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị (孝和皇后鈕祜祿氏).

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Sinh Mất Cha Ghi chú
Hiếu Thục Duệ hoàng hậu Hỉ Tháp Lạp thị
(孝淑睿皇后 喜塔腊氏)
2 tháng 10 năm 1760 5 tháng 3 năm 1797 Phó đô thống Nội vụ phủ Tổng quản Hòa Nhĩ Kinh Ngạch (和尔经额) thuộc thuộc Mãn quân Chính Bạch kỳ Bà thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia Thân vương, được sách lập làm Đích phúc tấn (嫡福晋);

Gia Khánh Đế tức vị, bà được sách phong Hoàng hậu;

Sinh ra Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Đế, Hoàng nhị nữ và Cố Luân Trang Tĩnh công chúa.

Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị
(孝和睿皇后钮祜禄氏)
10 tháng 10 năm 1776 23 tháng 1, 1850 Lễ bộ Thượng thư Cung A Lạp (恭阿拉) thuộc Mãn quân Tương Hoàng Kỳ Thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia Thân vương, được sách lập làm Trắc phúc tấn (侧福晋);

Gia Khánh Đế tức vị, bà được sách phong Quý phi;

Sau khi Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu Hỉ Tháp Lạp thị băng hà, bà được tiến phong Hoàng quý phi. Đến năm Gia Khánh thứ 7 (1801), sau mãn tang Thái thượng hoàng Càn Long, bà mới được lập làm Hoàng hậu;

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Cung Từ Hoàng thái hậu (恭慈皇太后);

Sinh Đôn Khác thân vương Miên Khải, Thụy Hoài thân vương Miên Hân và Hoàng thất nữ.

Hoàng quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Sinh Mất Cha Ghi chú
Hoà Dụ Hoàng quý phi Lưu Giai thị
(和裕皇贵妃刘佳氏)
9 tháng 1 năm 1761 27 tháng 4 năm 1834 Bái đường a Lưu Phúc Minh (拜唐阿) Thành hôn với Gia Khánh Đế khi ông còn là Gia thân vương, được sách lập làm Trắc phúc tấn (侧福晋);

Gia Khánh Đế tức vị, bà được sách phong Hi phi (禧妃), sau thăng Hi Quý phi (禧贵妃);

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Hoàng khảo Hi Hoàng quý phi (皇考禧皇贵妃). Sinh Hoàng trưởng tử chết yểu và Hòa Thạc Trang Kính công chúa.

Cung Thuận Hoàng quý phi Nữu Hỗ Lộc thị
(恭顺皇贵妃钮祜禄氏)
1787 23 tháng 4 năm 1860 Chủ bạ Thiện Khánh (善庆) Nhập cung sách phong Như Quý nhân (如贵人), sau thăng Như tần (如嫔), rồi Như phi (如妃);

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Hoàng khảo Như Hoàng quý phi (皇考如皇贵妃), Hàm Phong kế vị tôn làm Hoàng tổ Như Hoàng quý thái phi (皇祖如皇贵太妃). Sinh Hoàng bát nữ, Cố Luân Tuệ Mẫn Công chúa và Đoan Thân vương Mân Du.

Phi tần[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Sinh Mất Cha Ghi chú
Thứ phi Hoàn Nhan thị
(恕妃完颜氏)
Không rõ Không rõ Kinh xa đô úy Ha Phong A (哈丰阿) Thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia thân vương, được sách lập làm Trắc phúc tấn (侧福晋), mất trước khi Gia Khánh đăng cơ.

Gia Khánh tức vị, truy phong Thứ phi (恕妃).

Hoa phi Hầu Giai thị
(华妃侯佳氏)
Không rõ 28 tháng 6 năm 1804 Thượng tứ viện khanh Thảo Trụ (讨住) Thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia thân vương, được sách lập làm Cách cách.

Gia Khánh tức vị, bà được sách phong Oánh tần (莹嫔), sau thăng Hoa phi (华妃). Sinh Hoàng lục nữ.

Trang phi Vương Giai thị
(莊妃王佳氏)
Không rõ 15 tháng 2 năm 1811 Văn cử nhân Y Lý Bố (伊里布) Thị thiếp của Gia Khánh khi ông còn là Gia thân vương.

Gia Khánh tức vị, sách phong Xuân Thường tại (春常在), sau thăng Xuân Quý nhân (春贵人), Cát tần (吉嫔) rồi Trang phi (莊妃).

Tín phi Lưu Giai thị
(信妃刘佳氏)
Không rõ 13 tháng 10 năm 1822 Tướng quân Bổn Chí (本志) Sách phong Tín Quý nhân (信贵人), sau thăng Tín tần (信嫔).

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Hoàng khảo Tín phi (皇考信妃).

Tốn tần Thẩm Giai thị
(逊嫔沈佳氏)
Không rõ Không rõ Nội vụ phủ đại thần Vĩnh Hòa (永和) Thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia thân vương, được sách lập làm Cách cách, mất trước khi Gia Khánh đăng cơ.

Gia Khánh tức vị, truy phong Tốn tần (逊嫔).

Giản tần Quan Giai thị
(简嫔关佳氏)
Không rõ Không rõ Bái đường a Đức Thành (德成) Thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia thân vương, được sách lập làm Cách cách, mất trước khi Gia Khánh đăng cơ.

Gia Khánh tức vị, truy phong Giản tần (逊嫔). Sinh Hoàng trưởng nữ.

Thuần tần Đổng Giai thị
(淳嬪董佳氏)
Không rõ 13 tháng 10 năm 1819 Không rõ Sách phong Thuần Quý nhân (淳贵人), sau thăng Thuần tần (淳嫔).
Vinh tần Lương thị
(荣嫔梁氏)
Không rõ 10 tháng 5 năm 1826 Viên ngoại lang Quang Bảo (光保) Thị thiếp của Gia Khánh khi ông còn là Hoàng tử. Gia Khánh tức vị, bà được sách phong Vinh Thường tại (荣常在), sau thăng Vinh Quý nhân (荣贵人).

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Vinh tần (荣嫔).

Ân tần Ô Nhã thị
(恩嫔乌雅氏)
Không rõ Không rõ Không rõ Phong vị Ân Quý nhân (恩贵人);

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Ân tần (恩嫔).

An tần Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị
(安嫔苏完尼瓜尔佳氏)
1785 Tháng 6, 1837 Không rõ Phong vị An Thường tại (安常在);

Thời Đạo Quang được tấn tôn làm An tần (安嫔).

Quý nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Ghi chú
Vân Quý nhân

(芸贵人)

Không rõ danh tính, an táng tại Xương Lăng (昌陵) - Phi viên tẩm (妃园寝).
Ngọc Quý nhân

(玉贵人)

Không rõ danh tính, an táng tại Xương Lăng (昌陵) - Phi viên tẩm (妃园寝).

Hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hoàng trưởng tử [皇长子; 4 tháng 2 năm 1779 - 10 tháng 4 năm 1780], chết yểu, Đạo Quang truy tôn thành Mục Quận vương (穆郡王), mẹ là Hoà Dụ Hoàng quý phi.
  2. Thanh Tuyên Tông Miên Ninh [旻宁], mẹ là Hiếu Thục Duệ Hoàng Hậu.
  3. Hoàng tam tử Miên Khải [绵恺, 6 tháng 8 năm 1795 - 18 tháng 1, 1838], mẹ là Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu. Thụy phong Đôn Khác Thân vương (惇恪亲王)
  4. Hoàng tứ tử Miên Hân [綿忻, 9 tháng 2 năm 1805 - 19 tháng 8 năm 1828], mẹ là Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu. Thụy phong Thuỵ Hoài Thân vương (瑞懷親王)
  5. Hoàng ngũ tử Miên Du [绵愉, 8 tháng 3 năm 1814 - 9 tháng 1, 1865], mẹ là Cung Thuận Hoàng quý phi. Thụy là Huệ Đoan Thân vương (惠端亲王)

Hoàng nữ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hoàng trưởng nữ [皇长女; 1780 - 1783], mẹ là Giản tần.
  2. Hoàng nhị nữ [皇二女; 1780 - 1783], mẹ là Hiếu Thục Duệ Hoàng Hậu.
  3. Hoà Thạc Trang Kính công chúa [和硕莊敬公主; 17 tháng 12 năm 1781 - 12 tháng 3 năm 1811], mẹ là Hoà Dụ Hoàng quý phi. Hạ giá lấy Tác Đặc Nạp Mộc Đa Bố Tể (索特纳木多布济) của Khoa Nhĩ Thấm Bát Nhĩ Tế Cát đặc bộ.
  4. Cố Luân Trang Tĩnh công chúa [固伦莊静公主; 7 tháng 9 năm 1784 - 7 tháng 5 năm 1811], mẹ là Hiếu Thục Duệ Hoàng Hậu. Hạ giá lấy Mã Ni Ba Đạt Lạt (玛尼巴达喇) của Bát Nhĩ Tế Cát đặc bộ.
  5. Hoà Thạc Tuệ An công chúa [和硕慧安公主; 11 tháng 11 năm 1786 - tháng 5 năm 1795], mẹ là Tốn tần. Qua đời khi lên 10 tuổi.
  6. Hoàng lục nữ [皇六女; 1789 - 1790], mẹ là Hoa phi.
  7. Hoàng thất nữ [皇七女; 1793 - 1795], mẹ là Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu.
  8. Hoàng bát nữ [皇八女; 1805], mẹ là Cung Thuận Hoàng quý phi.
  9. Cố Luân Tuệ Mẫn công chúa [固伦慧愍公主; 25 tháng 1, 1811 - tháng 5 năm 1815], mẹ là Cung Thuận Hoàng quý phi. Qua đời khi lên 5 tuổi.

Gia phả[sửa | sửa mã nguồn]

Kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Khánh
Sinh: 13 tháng 11, 1760 Mất: 2 tháng 9, 1820
Tước hiệu
Tiền vị
Hoàng đế Càn Long
Hoàng đế Trung Quốc
1796 – 1820
Kế vị
Hoàng đế Đạo Quang

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]