Cố Luân Hòa Hiếu Công chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cố Luân Hoà Hiếu Công chúa)
Jump to navigation Jump to search
Cố Luân Hoà Hiếu Công chúa
Công chúa nhà Thanh
Princess He Xiao Ku Lun.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫu Phong Thân Ân Đức
Hậu duệ 1 con trai
Thân phụ Thanh Cao Tông
Thân mẫu Đôn Phi
Sinh 2 tháng 2, 1775(1775-02-02)
Nhà ThanhDực Khôn cung, Tử Cấm Thành
Mất 13 tháng 10, 1823 (48 tuổi)

Cố Luân Hoà Hiếu Công chúa (chữ Hán: 固倫和孝公主; 2 tháng 2, 1775 - 13 tháng 10, 1823), công chúa nhà Thanh, là Hoàng nữ thứ 10 và nhỏ nhất của Thanh Cao Tông Càn Long Đế trong lịch sử Trung Quốc.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Cố Luân Hoà Hiếu công chúa không rõ tên thật, sinh ngày 3 chính nguyệt năm Càn Long thứ 40, vào khi Càn Long Đế đã được 63 tuổi, mẹ bà là sủng phi Đôn Phi Uông thị, một phi tần người Mãn Châu, xuất thân Mãn châu Chính Bạch Kỳ.

Lúc này, gần như hầu hết các con gái của Càn Long Đế, bao gồm cả Cố Luân Hòa Tĩnh Công chúaHòa Thạc Hòa Khác Công chúa, hai con gái của Càn Long Đế với Lệnh Ý Hoàng quý phi Ngụy thị hoặc là đã qua đời, hoặc đã đi lấy chồng và rời khỏi Tử Cấm Thành. Càn Long Đế vì vậy rất vui mừng khi có thêm một tiểu công chúa. Kể từ khi sinh ra, Hoà Hiếu công chúa đã được phụ hoàng hết mực cưng chiều, cùng với các hoàng thất tông nữ, hoặc các anh em trong hoàng tộc vui chơi. Do sự cưng chiều của mình, Hòa Hiếu thường quấn quýt bên Càn Long Đế, do vậy thường có mặt trong các cuộc họp công khanh đại thần. Hòa Hiếu thường được nhận xét là có vẻ ngoài rất giống cha mình, bà được nhận xét là tính cách quyết đoán, và thường giả nam trang tháp tùng Càn Long Đế trong những chuyến đi săn. Càn Long Đế từng than thở đối với công chúa nói:"Nếu con mà là hoàng tử, ắt ta sẽ lập làm Trữ quân rồi".

Trái với điển lệ, Càn Long Đế nâng địa vị của Hoà Hiếu từ "Hoà Thạc Công chúa" (和硕公主; dành cho công chúa do các phi tần sinh ra, phẩm vị ngang với Quận vương) lên Cố Luân Công chúa (固倫公主; dành cho công chúa do Hoàng hậu sinh ra, phẩm vị ngang với Thân vương). Vì thế, Hoà Hiếu có tên hiệu là Cố Luân Hoà Hiếu công chúa (固倫和孝公主), hoặc đơn giản gọi là Thập công chúa (十公主).

Sủng thiếp của Càn Long Đế là Dung phi Hòa Trác thị, xuất thân gia tộc Hòa Trác được cho là dòng dõi Mohammed, do vậy trong Tín đồi Hồi giáo rất có uy vọng. Bởi vì xuất thân bối cảnh quan hệ, Dung phi rất yêu thích thảo nguyên, yêu thích các sự kiện đi săn của hoàng gia, do vậy đối với sự khác thường của Hòa Hiếu, Dung phi cảm thấy đồng cảm và xem như con gái ruột, do bản thân Dung phi không có con.

Năm Càn Long thứ 53 (1788), Dung phi lâm trọng bệnh khó mà qua khỏi, đối với hôn lễ sắp diễn ra của Hòa Hiếu cảm thấy cực kì tiếc nuối, liền trước khi qua đời đem hết châu báu do bản thân tự cất giữ đem chia ra các chị em, người hầu cận thân thiết, đáng chú ý nhất là số nữ trang dành cho Hòa Hiếu là nhiều nhất, lên đến hơn 200 kiện.

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 54 (1789), tháng 11, Hòa Hiếu công chúa khi đó đã 15 tuổi, kết hôn với Phong Thân Ân Đức (豐紳殷德), cũng 15 tuổi. Chồng bà là con trai cả của Hòa Thân, một viên quan xuất thân từ tộc Nữu Hỗ Lộc rất được Càn Long sủng ái. Khi công chúa xuất giá, đính hôn tại Vĩnh Thọ cung, Chính Đại Quang Minh điện, theo lễ dành cho Cố Luân công chúa, dùng rượu 40 bình, khi thành hôn dùng rượu 30 bình. Cả thảy 70 bình. Theo quy chế thì đáng lẽ phải thêm 20 bình từ Hoàng thái hậu, nhưng lúc này Sùng Khánh hoàng thái hậu đã tạ thế[1]. Sau 3 ngày đại hôn, Càn Long Đế triệu vợ chồng công chúa vào, và ban cho Hoà Hiếu công chúa là 300.000 lạng bạc; lớn hơn rất nhiều hồi môn của bất cứ công chúa nào khác của Càn Long Đế, có thể nói là vinh sủng ngập trời.

Theo Khiếu đình tạp lục (嘯亭續錄), đối với việc Hòa Thân lộng hành, công chúa cũng có biết và thường đối với trượng phu nói rằng:"Cha của người chịu Hoàng phụ ân trọng, nhưng không biết nghĩ đền đáp, mà chỉ ngày ngày nhận hối lộ, ta thật ưu lo thay cho chàng. Ngày nào đó thân không giữ được, ta ắt cũng bị chàng liên lụy"[2]. Có thể thấy được công chúa nhìn xa trông rộng. Còn có một năm nào đó vào mùa đông buổi sáng, Phong Thân Ân Đức ham vui, cùng gia nhân ra ngoài nghịch tuyết, công chúa thấy rất tức giận, bèn nói:"Chàng đã qua tuổi đội mũ, há còn làm những trò con nít?"[3], Phong Thân Ân Đức sợ hãi quỳ xuống xin chịu tội, cũng là công chúa ôn tồn dìu dậy mà nói:"Chàng thay vì làm những trò này, hãy cùng ta đọc thi thư"[4]. Như vậy có thể thấy, tuy Hòa Hiếu công chúa thâm chịu sự sủng ái của Càn Long Đế, nhưng vẫn rất hiểu lý lẽ lễ nghĩa, đối với chuyện trong ngoài đều có nhận thức rất rõ. Anh trai của Hòa Hiếu là Gia thân vương Vĩnh Diễm rất yêu quý đứa em gái này, khi nghe công chúa trở thành con dâu của Hòa Thân thì rất lo lắng.

Hoà Hiếu và Phong Thân Ân Đức có một con trai, sinh vào khoảng từ năm Càn Long thứ 58 (1794) đến năm thứ 60 (1796), nhưng hai năm sau, vào năm Gia Khánh thứ 2 (1798) thì qua đời. Từ đó công chúa không thể sinh dục được nữa. Do lo sợ nhà chồng tuyệt tự, công chúa khuyên Ân Đức nạp thiếp, nhưng rồi cũng chỉ có thêm 2 đứa con gái.

Năm Gia Khánh thứ 4 (1799), Hòa Thân bị bắt vì tội tham ô và lũng đoạn quan trường. Sau khi bị kết tội, Hòa Thân bị xử lăng trì, nhưng Gia Khánh Đế sau đó cho phép Hòa Thân được tự vận tại nhà để giữ thể diện cho em gái là Hoà Hiếu công chúa. Gia Khánh Đế cũng vì thế tha tội cho Phong Thân Ân Đức, chỉ bị tước hết danh hiệu.

Khối tài sản khổng lồ của Hòa Thân, được tích cóp suốt một đời làm quan tham nhũng, bị tịch thu. Gia Khánh Đế tha cho gia đình Hoà Hiếu, và thậm chí còn ban cho bà một phần số gia sản bị tịch thu này.

Cuộc sống sau này[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm Gia Khánh thứ 11 (1806), Gia Khánh Đế cử Phong Thân Ân Đức đến phục vụ trong quân đội tại Uliastai, Mông Cổ. Chẳng được bao lâu thì Phong Thân Ân Đức ngã bệnh. Hoà Hiếu công chúa thỉnh cầu Gia Khánh hoàng đế cho họ được trở về Bắc Kinh, và hoàng đế đã chấp thuận. Tháng 2 năm Gia Khánh thứ 15 (1810), Phong Thân Ân Đức trở về Bắc Kinh và nhận tước Tấn công (晋公). Ba tháng sau, vào tháng 5, ông qua đời, để lại Hoà Hiếu công chúa chịu cảnh goá phu, Gia Khánh Đế ban 5000 lạng bạc để cho Hòa Hiếu lo chi phí an táng.

Sau cái chết của Phong Thân Ân Đức, Hoà Hiếu công chúa nuôi dạy hai con gái 11 tuổi và 5 tuổi của ông. Cuộc sống của công chúa ổn định về tài chính, do Gia Khánh Đế ra lệnh cho Phủ Nội vụ phải chu cấp chu đáo cho bà, tầm 6000 lạng bạc.

Để cho công chúa có nơi nương tựa, ngoài số lương bổng lớn, Gia Khánh Đế còn để Phúc Ân (福恩) làm con thừa tự, thế tập tước Khinh xa Đô úy (輕車都尉) của Hòa Thân. Thời Đạo Quang Đế, công chúa tiếp tục được cháu trai chiếu cố.

Năm Đạo Quang thứ 3 (1823), ngày 10 tháng 9 (âm lịch), Hòa Hiếu công chúa qua đời, Đạo Quang Đế đích thân đến viếng tang. Tại khu Hải Điến, Bắc Kinh, có một tòa nhà thôn trang tầm 300 người ở, theo truyền thuyết là nơi chôn cất của Hòa Hiếu công chúa.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 光禄寺则例: 和孝固伦 公主 初定礼在正大光明殿永寿宫筵宴用玉泉酒四十觔, 和孝固伦 公主 下嫁成婚礼筵宴用玉泉酒三十觔
  2. ^ 「汝翁受皇父厚恩,毫無報效,惟賄日彰,吾代汝憂。他日恐身家不保,吾必遭汝累。」
  3. ^ 「汝年已愈冠,尚作癡童戲耶?」
  4. ^ 「汝勿作童戲,與吾共讀詩書。」