Hải Điến

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Khu Hải Điến thành phố Bắc Kinh
中关村广场.jpg
Quảng trường Trung Quan Thôn
Tên khácHải Điện (海甸), Hải Điếm (海店)[1]:1
Tiền thânkhu 18, khu 36, khu 13
Tên gốc海淀镇一带古时的浅水湖泊
Tổng quan
Quốc giaCộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc
Thời gian thành lập1 tháng 9 năm 1952 [1]:1
Trụ sở chính quyền địa phươngsố 17 đường Trường Xuân quận Hải Điến thành phố Bắc Kinh
Quận trưởng hiện tạiVu Quân (sinh 1964)
- Số trấn7
- Số nhai đạo22
Địa lý
Kinh vĩ độ39°57′36″B 116°17′53″Đ / 39,959912°B 116,298055°Đ / 39.959912; 116.298055Tọa độ: 39°57′36″B 116°17′53″Đ / 39,959912°B 116,298055°Đ / 39.959912; 116.298055
Tổng diện tích430.77 kilômét vuông
Dân số và kinh tế
Tổng dân số (2014)367.8 vạn người[2]
GDP429 triệuNhân dân tệ
Khác
Mã bưu chính100089
Mã vùng điện thoại10
Trang web:www.bjhd.gov.cn
5 tòa nhà chọc trời
Thôn Đại Vận
thành Đồ Thư thuộc quận Hải Điến

Hải Điến (tiếng Trung: 海淀区, pinyin: Hǎidiàn Qū, Hán Việt: Hải Điến khu) [chú thích 1] là một quận nội thành nằm ở phía tây bắc của thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Diện tích toàn khu vực là 426 km vuông, chiều dài bắc nam khoảng 30km, đông tây chiều rộng tối đa 29km, chiếm 2.53%,diện tích của Bắc Kinh và khoảng ba phần tư diện tích đồng bằng của khu vực.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Di chỉ thời cổ đại gọi là trấn Hải Điến, khu Hải Điến trước thuộc thôn Chu Phòng, có di chỉ của Hán Thành, thôn còn sót lại từ thời Chiến Quốc; Hải Điến là thị trấn là thị trấn lớn nhất ở phía tây bắc vùng ngoại ô Bắc Kinh. Địa danh, “Hải Điến” được nhắc đén cuốn sách của Vương Uẩn (王恽) đời nhà Nguyên, Trung Đường Kí Sự (中堂记事) là một cuốn sách ghi chép lại sự việc.

Hải Điền còn được gọi là Hải Điện (“海甸”), trong thời nhà Nguyên đây từng là vùng nước trũng(đầm lầy) vì vậy mà gọi là Hải Điến. Vào thời nhà thanh vì việc xây dựng “Tam Sơn Ngũ Viên”(Tam Sơn:Hương Sơn, núi Ngọc Tuyền, núi Vạn Thọ và Ngũ Viên:Sướng Xuân Viên, vườn Viên Minh, Tĩnh Minh viên, Tĩnh Nghi viên, Di Hòa viên) làm cho văn hóa và kinh tế của khu Hải Điến ngày càng thịnh vượng.

Diện tích của khu Hải Điến trong thời Trung Hoa Dân Quốc thuộc vùng ngoại ô của hai huyện Uyển Bình (宛平) và Xương Bình (昌平).[1]:1

Ngày 10 tháng 1 năm 1949, nhân dận 18 quận thành phố Bắc Bình thành lập chính phủ tại trấn Hải Điến, tháng 7 cùng năm khu 16 và 17 được sáp nhập, đổi tên thành khu 16. Huyện Xương Bình nằm ở phía đông bắc cùng với 5 thôn sau đó được nhập vào khu 16. Tháng 8 năm 1950, khu 16 đổi tên thành khu 13. Đường Triển Lãm, đường Lễ Sĩ ở phía đông khu vực vào tháng 5 năm 1951 thuộc Tây Tứ, thuộc quyền quản lý của quận Tây Đan. Ngày 1 tháng 9 năm 1952, khu 13 đổi tên thành Hải Điến.[1]:1

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c 海淀区地名志编辑委员会 (1992). 北京市海淀区地名志. Nhà xuất bản Bắc Kinh. ISBN 7-200-01890-2. 
  2. ^ Nhân khẩu thường trú cuối năm 2014, mạng lưới thống kê thông tin Hải Điến
  3. ^ Lý Bỉnh Vệ, Đồng Trác Nhiên biên tập (tháng 8 năm 1934). Bắc Bình Địa Danh Điển (北平地名典). Bắc Kinh, Dân Quốc: Bắc Bình Dân Xã. tr. 137. 

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chữ "Hải Điến Khu" chữ “-{淀}-”này nhất quyết không phải là chữ giản thể của “-c{澱}-”[3]。“-{淀}-”Ý nghĩa gốc của từ này là hồ nước nông, khu vực phía tây đường Hải Điến triều Nguyên có một hồ nước nông tên gọi là Đăn Lăng Thấm (丹棱沜).[1]:1