Lệnh Ý Hoàng quý phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu)
Jump to navigation Jump to search
Hiếu Nghi Thuần hoàng hậu
孝儀纯皇后
Càn Long Đế Hoàng hậu
清 佚名 《清高宗乾隆孝仪纯皇后朝服像》.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Cao Tông
Càn Long hoàng đế
Hậu duệ Cố Luân Hòa Tĩnh Công chúa
Vĩnh Lộ
Hòa Thạc Hòa Khác Công chúa
Thanh Nhân Tông
Hoàng thập lục tử
Vĩnh Lân
Thụy hiệu Hiếu Nghi Cung Thuận Khang Dụ Từ Nhân Đoan Khác Mẫn Triết Dực Thiên Dục Thánh Thuần Hoàng hậu
(孝儀恭順康裕慈仁端恪敏哲翼天毓聖純皇后)
Thân phụ Ngụy Thanh Thái
Thân mẫu Dương Giai thị
Sinh 23 tháng 10, 1727(1727-10-23)
Mất 28 tháng 2, 1775 (47 tuổi)
Cát An sở, Bắc Kinh
An táng 23 tháng 10, 1775
Dụ lăng, Hà Bắc

Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu (tiếng Hán: 孝儀純皇后, tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᠶᠣᠩᠰᠣᠩᡤᠣ
ᠶᠣᠩᡴᡳᠶᠠᡥᠠ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
tiếng Mãn Châu:hiyoošungga yongsonggo yongkiyaha hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga yongsonggo yongkiyaha hvwangheu; 23 tháng 10, năm 172728 tháng 2 năm 1775), còn được biết đến dưới danh hiệu Lệnh Ý Hoàng quý phi (令懿皇貴妃), là một phi tần của Càn Long Đế và là sinh mẫu của Gia Khánh Đế.

Bà là hậu phi sinh nhiều con nhất cho Càn Long Đế, và con số này cũng nhiều nhất so với các hậu phi khác của nhà Thanh. Bà chưa từng làm hoàng hậu khi còn sống, danh phận cao nhất của bà là Hoàng quý phi nhưng với tư cách mẹ đẻ của Tân hoàng đế, bà được Càn Long Đế truy phong làm Hoàng hậu nhân dịp Gia Khánh Đế được chỉ định làm người nối ngôi.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Nghi hoàng hậu Ngụy Giai thị

Hiếu Nghi hoàng hậu, Ngụy Giai thị (魏佳氏), Mãn châu Tương hoàng kỳ, nhưng thực chất bà là xuất thân từ Chính hoàng kỳ Hán tộc Ngụy thị (魏氏), xuất thân từ Chính hoàng kỳ Bao y quản lĩnh hạ nhân (正黃旗包衣管領下人), sinh ngày 9 tháng 9 âm lịch vào năm Ung Chính thứ 5 (tức ngày 23 tháng 10 năm 1727). Dòng họ bà sau đó được con trai bà, Gia Khánh Đế theo truyền thống đưa vào Tương hoàng kỳ, nâng kỳ thành Ngụy Giai thị của người Mãn Châu[1].

Cứ theo Bát Kỳ Mãn Châu thị tộc tông phổ (八旗滿洲氏族通譜), Ngụy thị vốn là Thẩm Dương Ngụy thị (瀋陽魏氏) xuất thân, nhưng cứ liệu chi tiết cũng còn mơ hồ. Có một ít tư liệu chứng minh, tổ tiên Ngụy thị vốn là bộ hạ của Tam Phiên Cảnh thị (三藩耿氏), Tam Phiên Cảnh thị có 7 chức Tá lĩnh, 2 cũ 5 mới, trong đó có Tân Tá lĩnh tên Ngụy Quốc Hiền (魏國賢), là tổ 4 đời của Ngụy thị. Mà chi họ của Ngụy Quốc Hiền ở Thanh sơ cải thành Chính hoàng kỳ Bao y, thuộc Tân Giả khố, cho nên mới ghi lại là "Chính hoàng kỳ Bao y quản lĩnh hạ nhân".

Đến thời trung kì Ung Chính, gia tộc Ngụy thị đã đạt đến hàng giai cấp tầm trung đẳng trong nhóm quan lại Bao y thuộc Nội Vụ phủ. Tằng tổ phụ là tặng Hộ trường quân đội Ngụy Tự Hưng (魏嗣兴), tằng tổ mẫu Trần thị; nội tổ phụ Tổng quản Nội Vụ phủ đại thần Ngụy Võ Sĩ Nghi (魏武士宜), có hai vợ là Niên thị và Triều thị. Tuy Võ Sĩ Nghi làm chức Nội Vụ phủ Tổng quản khá ngắn, nhưng có thể này leo lên được vị trí như vậy, ắt hẳn khi đó vị thế của gia tộc Ngụy thị cũng khá là có căn cơ, dù về cơ bản gia đình này trong hàng ngũ Bao y. Cha bà là Ngụy Thanh Thái (魏清泰), người Giang Tô, giữ chức Nội quản lĩnh (内管领), mẹ là Dương Giai thị, từng cùng tổ mẫu của Ngụy thị là Niên thị đảm nhiệm tuyên sách bảo văn nữ quan. Bên cạnh đó, chú bác trong họ nhà bà, thời kì Ung-Càn đều là quan viên trung cấp của Nội Vụ phủ, bà còn có người anh em trai tên Ngụy Đức Hinh (魏德馨).

Nguỵ thị xuất thân Bao y, nhờ lệ thuộc Nội vụ phủ nên có thể đã lấy thân phận cung nữ nhập cung, với đợt Nội Vụ phủ Tuyển tú. Cũng là do Bát Kỳ tuyển tú là lựa chọn con nhà quan chức, xuất thân từ Bát Kỳ cao quý, nên với thân phận là Nội vụ phủ Bao y nữ tử, Ngụy thị không được lấy thân phận tú nữ tham gia ứng tuyển phi tần.

Đại Thanh tần phi[sửa | sửa mã nguồn]

Nhập cung[sửa | sửa mã nguồn]

Theo những ngự chế thơ của Càn Long Đế đề cập, Ngụy thị chịu sự giáo dục của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu.

Thực tế, cụm từ giáo dục này có hàm nghĩa bao la, vì Hoàng hậu là hậu cung chi chủ, thống soái của toàn bộ nội, ngoại mệnh phụ, nên trên thực tế quyền hành bao quát, chỉ điểm bất kì ai cũng có thể xưng là giáo dục. Dựa theo những gì có được, Ngụy thị chưa chắc ngay từ đầu đã chịu Hiếu Hiền hoàng hậu trực tiếp quản lý, nhưng dựa vào gia thế có máu mặt trong Nội Vụ phủ Bao y, tổ phụ của gia đình bà được nhậm những chức quan quan trọng, cũng như anh em chú bác đều là quan viên Nội Vụ phủ tầm trung, có thể thấy tuy là thân phận cung nữ, nhưng Ngụy thị cũng có gia thế nhất định trong các nữ tử Bao y. Do vậy, có lẽ Ngụy thị không thể nào theo hầu một phi tần cấp thấp hoặc làm công việc hèn mọn, nên có thể là thân cận do đích thân Hiếu Hiền hoàng hậu chỉ bảo.

Năm Càn Long thứ 10 (1745), Ngụy thị trở thành Quý nhân. Ngày 23 chính nguyệt, Càn Long Đế đại phong hậu cung, Ngụy Quý nhân được phong Lệnh tần (令嫔). Ngày 17 tháng 11, lấy Công bộ Thượng thư Đạt Ha (達哈) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Ngũ Linh An (伍齡安) làm Phó sứ, hành sách phong lễ.

Phong hiệu Lệnh (令), căn cứ Hồng xưng thông dụng (鴻稱通用) của Nội Vụ phủ, là Mãn ngữ 「mergen」, có nghĩa là "Thông tuệ", "Sáng suốt". Một diễn giải khác cho rằng, phong hiệu "Lệnh" lấy ý trong cuốn Kinh Thi, Đại Nhã có câu: như khuê như chương, lệnh văn lệnh vọng (如圭如璋,令闻令望), là phong hiệu với mỹ ý: đẹp như ngọc khuê, như ngọc chương, khiến (lệnh) người đời nghe danh (văn), khiến người đời ngưỡng vọng.

Năm thứ 13 (1748), ngày 1 tháng 7, ra chỉ tấn phong Lệnh tần Ngụy thị làm Lệnh phi (令妃), cùng với Gia phi thăng làm Quý phi, Thư tần làm Thư phi, Uyển quý nhân làm Uyển tần. Năm sau (1749), ngày 5 tháng 4, lấy Lại bộ thượng thư Trần Đại Thụ (陳大受) làm Chính sứ, Lễ bộ Thị lang Mộc Hòa Lâm (木和林) làm Phó sứ, hành sách phong lễ.

Thăng cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Lệnh phi Ngụy thị mặc Long bào.

Năm thứ 21 (1756), ngày 21 tháng 4, Lệnh phi do mang thai nên thêm than, sang ngày 26 thêm nhũ mẫu, đến ngày 4 tháng 6, cho thêm đại phu[2]. Ngày 15 tháng 7, sinh hạ Thất công chúa, tức Cố Luân Hòa Tĩnh công chúa tại Ngũ Phúc đườngViên Minh Viên. Tháng 9 cùng năm, chỉ khi Thất công chúa tròn 3 tháng tuổi, Càn Long Đế ra chỉ dụ liên hôn công chúa cho Siêu dũng thân vương Trát Tát Khắc.

Thất công chúa là con đầu lòng trong những người con của Lệnh phi, tuy nhiên ngay lập tức bị chỉ hôn cho Mông Cổ, trong khi sinh trước đó vài tháng là Lục công chúa, con gái của Hãn tần Đới Giai thị, có lẽ vì Lệnh phi không được ân sủng như với Hãn tần. Khi đó, Hãn tần cũng mang thai cùng lúc với Lệnh phi, nhanh chóng được thêm nhũ mẫu và đại phu, trong khi Lệnh phi phải vài ngày hoặc vài tháng sau[3].

Không lâu sau, năm thứ 22 (1757), ngày 26 tháng 5, Lệnh phi do mang thai nên thêm than, ngày 27 thêm đại phu, đến 11 tháng 6 thêm nhũ mẫu[4]. Ngày 17 tháng 7, buổi trưa, hạ sinh Hoàng thập tứ tử Vĩnh Lộ, tuy nhiên Hoàng tử qua đời khi mới được 3 tuổi. Sang năm thứ 23 (1758), ngày 14 tháng 7, giờ Tuất, Lệnh phi lại tiếp tục sinh Hoàng cửu nữ, tức Hòa Thạc Hòa Khác công chúa. Có thể thấy đây là giai đoạn sinh nở liên tục nhất của bà.

Năm thứ Càn Long 24 (1759), Lệnh phi mang thai, ngày 10 tháng 6 được gia tăng than sưởi, phân bổ thái y và bà đỡ túc trực. Ngày 22, nữ tử học quy củ chỗ Lệnh phi phong Thụy thường tại. Ngày 24 tháng 9, tất cả cá đãi ngộ trên bị đình chỉ. Lệnh phi do dạy dỗ quy củ quá độ sảy thai. Ngày 21 tháng 11 cùng năm, Ngụy thị được thăng làm Lệnh Quý phi (令貴妃). Bà là Quý Phi đầu tiên không theo hầu từ tiềm để cũng không có xuất thân hiển hách. 17 tháng 12 cùng năm, lấy Đại học sĩ Phó Hằng làm Chính sứ, Hiệp bạn Đại học sĩ Lưu Thống Huân (劉統勛) làm Phó sứ, hành Quý phi sách phong lễ.

Theo truyền thống của Càn Long Đế, khi ông sắc phong Quý phi thì sẽ ra chỉ dụ tế cáo Thái miếu (như đã làm với Nhàn Quý phi, Thuần Quý phi[5], Gia Quý phi[6]), nhưng đến khi ra chỉ dụ sắc phong Lệnh phi làm Quý phi thì miễn không cử hành[7]. Tuy nhiên, vào năm Càn Long thứ 33 (1768), Khánh Quý phi sắc phong, Càn Long Đế vẫn ra chỉ dụ Tế cáo Thái miếu[8]

Năm Càn Long thứ 25 (1760), ngày 6 tháng 10, giờ Sửu, sinh được Hoàng thập ngũ tử Vĩnh Diễm, tức Thanh Nhân Tông. Năm thứ 27 (1762), ngày 30 tháng 11, sinh Hoàng thập lục tử, nhưng hoàng tử chết yểu do chủng đậu khi mới 2 tuổi.

Làm Hoàng quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 30 (1765), tháng 1, bà được theo hầu Càn Long Đế và Kế Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị đi tuần du phía nam sông Dương Tử, Thái Sơn, và Nhiệt Hà, xuyên qua các vùng Dương Châu, Tô Châu, Giang NinhHàng Châu. Đi theo còn có Khánh phi Lục thị, Dung tần Hòa Trác thị, Vĩnh Thường thại Uông thị và Ninh Thường tại. Tháng 2 năm đó, Kế hậu Ô Lạt Na Lạp thị đột ngột thất sủng, và chuyến đi Nam tuần năm ấy kết thúc. Ngày 9 tháng 5, ra chỉ dụ tấn phong Hoàng quý phi.

Ngày 11 tháng 6 cùng năm, lấy Đại học sĩ Phó Hằng làm Chính sứ, lấy Hiệp bạn Đại học sĩ Lễ bộ Thượng thư Trần Hoành Mưu (陳宏謀) làm Phó sứ, tuyên phong Lệnh Quý phi Ngụy thị làm Hoàng quý phi, sai quan tế cáo Thái miếu, Phụng Tiên điện[9]. Năm sau (1766), ngày 11 tháng 5, hạ sinh Hoàng thập thất tử Vĩnh Lân.

Từ khi Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu bạo băng, Kế hậu thất sủng, Ngụy thị là ở vị thế Hoàng quý phi nắm quyền quản lý hết mọi việc hậu cung, trở thành "vô danh vị nhưng có thực quyền" đứng đầu hậu cung hơn 10 năm trời. Tuy nhiên, theo thông lệ thường thấy của Kế hoàng hậu, Hiếu Hòa Duệ hoàng hậu, Hiếu Toàn Thành hoàng hậu, thì đáng lẽ sau 3 năm mãn tang, Ngụy thị có thể trở thành Hoàng hậu, nhưng đến cuối đời cũng chỉ ở danh vị Hoàng quý phi, lại không có danh vị "Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi" như Kế hoàng hậu từng có. Dầu vậy, tục ngữ nói "cửa cung vừa vào sâu như biển", tại đây bảo vệ nghiêm mật hậu cung, Ngụy thị xuất thân thấp hèn lại đạt được Hoàng quý phi, đứng đầu chúng tần phi khác có địa vị cao hơn bà nhiều năm, đúng là không dễ.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 40 (1775), ngày 29 tháng 1 (âm lịch), Lệnh Hoàng quý phi Ngụy thị qua đời tại Cát An sở (吉安所)[10], hưởng thọ 47 tuổi. Để tránh làm phiền Thái hậu, Càn Long Đế không nói chuyện Hoàng quý phi mất[11].

Càn Long Đế ngừng triều 5 ngày để tang, phái Hoàng tử thứ 6 Vĩnh Dung, Hoàng tử thứ 8 Vĩnh Tuyền, Hoàng tử thứ 12 Vĩnh Cơ, Hoàng tử thứ 15 Vĩnh Diễm, hoàng tôn Miên Đức, Miên Ức, Miên Huệ, Hoàng cửu nữ Hòa Khác công chúa, các Ngạch phò Lạp Vượng Đa Nhĩ Tế, Trát Lan TháiĐan Ba Đa Nhĩ Tế mặc tang phục. Còn phái Thượng thư Vĩnh Quý, Tổng quản nội vụ phủ đại thần Kim Giản cùng quản lý lễ tang[12].

Ngày 5 tháng 2, tạm an ở Tĩnh An trang[13]. Ngày 11 tháng 2, lấy Giản thân vương Phong Nột Hanh (豐訥亨) làm Chính sứ, Hiệp bạn Đại học sĩ Lại bộ Thượng thư Quan Bảo (官保) làm Phó sứ, sách văn ban thụy hiệuLệnh Ý Hoàng quý phi (令懿皇貴妃)[14]. Thụy hiệu "Ý", Mãn văn là 「fujurungga」, nghĩa là "Đoan trang", "Có phong độ". Những ngày Hành sơ nghi thức tế lễ, Hành đại nghi thức tế lễ, Hành trăm ngày nghi thức tế lễ, đều do con trai bà Vĩnh Diễm cử hành[15]. Ngày 23 tháng 10, giờ Thìn, phụng an Dụ lăng[16].

Bà là người thứ 5 và cũng là người cuối cùng được hợp táng cùng với Càn Long tại địa cung. Quan tài của bà ở phía bên phải đế quan của Càn Long. Càn Long Đế còn ra lệnh tăng lượng văn vật bồi táng thêm 18 kiện so với đãi ngộ thông thường cho Hoàng quý phi, tổng cộng tới 76 kiện, chỉ kém 1 kiện so với Hoàng hậu.

Hiếu Nghi Thuần hoàng hậu chân dung.

Càn Long Đế tư niệm Lệnh Ý hoàng quý phi, viết một cái gọi là Lệnh Ý hoàng quý phi vãn thi (令懿皇贵妃挽诗), trong đó viết:

Năm Càn Long thứ 60 (1795), ngày 3 tháng 9, Càn Long tuyên bố Vĩnh Diễm là Thái tử. Mẫu thân là Lệnh Ý Hoàng quý phi, do là Thái tử sinh mẫu, truy phong Hoàng hậu, thụy hiệu Hiếu Nghi (孝儀). Thụy hiệu "Nghi" này, do bị đổi từ "Ý" để tránh trùng với Hiếu Ý Nhân hoàng hậu. Theo Mãn văn, Nghi là 「yongsunggo」, có nghĩa là "Có lễ", so với thụy hiệu Ý ban đầu thì hoàn toàn kém. Ngày 13 tháng 10 cùng năm, Vĩnh Diễm kế vị, Càn Long Đế trở thành Thái thượng hoàng. Ngày 27, lấy Duệ thân vương Thuần Dĩnh (淳頴) làm Chính sứ, Trịnh thân vương Ô Nhĩ Cung A (烏爾恭阿) làm Phó sứ, sách thụy cho Hiếu Nghi hoàng hậu[18].

Theo ân điển của một Hoàng hậu được truy phong, Thần vị của bà nên có ở Thái miếu, và cử hành nghi lễ tế cáo đất trời, nhưng cuối cùng thần vị của bà chỉ được để ở Phụng Tiên điện, chứ không được đưa vào Thái miếu. Sự việc này ghi lại trong Thanh Cao Tông thực lục: "Càn Long năm thứ sáu mươi.Thái thường tự tấu vào tháng 12 này, Hiếu Nghi Hoàng hậu thần bài nên theo lệ nên tế cáo trời đất, Thái miếu. Trước một ngày cần bẩm báo Tông Nhân phủ để chọn Thân vương tế cáo. Nhưng Hoàng thượng hạ chỉ không cần cử hành"[19]. Về việc bị hủy tế cáo Thái miếu, lý do của Càn Long Đế được ghi trong Thực lục: "Ngày Ất Mão tháng mười năm Càn Long thứ 60. Kỷ Hợi: Chỉ dụ Hoàng thái tử, Hoàng tử, quân cơ đại thần rằng: Quốc triều điển lễ, coi trọng nhất là tế thần. Hiếu Nghi hoàng hậu, sinh được trữ quân, đã được ân điển sách tặng. Trước đã tế cáo Phụng Tiên điện, nếu tế Thái miếu, thiên địa nữa thì rất phiền hà. Vậy nên không cần cử hành"[20]. Sau khi Càn Long Đế qua đời, Gia Khánh Đế mới đưa bài vị của mẫu thân thăng phụ Thái Miếu.

Gia tộc của Ngụy thị đem vào Mãn Châu Tương Hoàng kỳ theo truyền thống của nhà Thanh, đổi gọi Ngụy Giai thị. Gia tộc họ Ngụy, từ khi Ngụy thị trở thành Hiếu Nghi hoàng hậu, lấy lý do Ngụy thị chỉ là hầu cận Hiếu Hiền hoàng hậu nên cho tập thế tước truyền đời chỉ là Nhất đẳng Hầu (一等侯)[21], trong khi đó các ngoại thích khác theo truyền thống đều có tập tước là Nhất đẳng công tước. Cha của Ngụy thị là Ngụy Thanh Thái, vốn không có phong thụy, sau do Lễ bộ dâng chỉ, Càn Long Đế mới cho truy tặng làm "Tam đẳng Thừa Ân công" (三等承恩公), còn Dương Giai thị tặng làm Nhất phẩm Phu nhân (一品夫人)[22]. Em trai bà Đức Hinh cùng con cháu được thiện đãi, thế chức Tá lĩnh truyền đời.

Qua các đời Gia KhánhĐạo Quang, thụy hiệu đầy đủ của bà là Hiếu Nghi Cung Thuận Khang Dụ Từ Nhân Đoan Khác Mẫn Triết Dực Thiên Dục Thánh Thuần Hoàng hậu (孝儀恭順康裕慈仁端恪敏哲翼天毓聖純皇后).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Bà đã sinh cho Hoàng đế Càn Long tổng cộng sáu người con (bốn Hoàng tử và hai Hoàng nữ), trong số đó có Hoàng đế Gia Khánh. Đó là:

  1. Cố Luân Hòa Tĩnh Công chúa [固伦和静公主, 10 tháng 8 17569 tháng 2 1775], Hoàng nữ thứ 7 của Càn Long, tháng 7 năm 1770 hạ giá lấy Mông Cổ Siêu Dũng Thân vương Lạp Vượng Đa Nhĩ Tể (拉旺多尔济), cháu của Sách Lăng (策棱).
  2. Vĩnh Lộ [永璐, 31 tháng 8 17573 tháng 5 1760), Hoàng tử thứ 14 của Càn Long, không có truy phong.
  3. Hòa Thạc Hòa Khác Công chúa [和硕和恪公主; 17 tháng 8 175814 tháng 12 1780], Hoàng nữ thứ 9 của Càn Long, tháng 9 năm 1772 hạ giá lấy Ô Nhã Trát Lan Thái (烏雅札蘭泰). Tuy là công chúa do hoàng hậu sinh ra nhưng cũng chỉ có danh phận Hoà Thạc công chúa.
  4. Hoàng thập ngũ tử Vĩnh Diễm [永琰], tức Thanh Nhân Tông Gia Khánh hoàng đế, từ nhỏ đã được giao cho Khánh phi Lục thị nuôi dưỡng.
  5. Hoàng thập lục tử (13 tháng 1 năm 1763 – 6 tháng 5 năm 1765), con trai thứ 16 của Càn Long Đế, không truy phong.
  6. Khánh Hi Thân vương Vĩnh Lân [永璘, 17 tháng 6 176625 tháng 4 1820], Hoàng tử thứ 17 và là con trai út của Càn Long, do Dĩnh quý phi nuôi dưỡng, được phong Bối lặc năm 1789, được phong Khánh Quận vương (慶郡王) năm 1799, được phong Khánh Thân vương (慶親王) năm 1820 nhưng mất cùng vào năm đó.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim điện ảnh và truyền hình Diễn viên Nhân vật
1997 Hoàn Châu cách cách Triệu Lệ Quyên Lệnh phi
1998 Hoàn Châu cách cách 2 Triệu Lệ Quyên Lệnh phi
2003 Hoàn Châu cách cách 3: thiên thượng nhân gian Trần Lị Lệnh phi
2006 Thiếu niên Gia Khánh Trang Khánh Ninh Lệnh quý phi
2007 Nữ trạng tài danh Trần Mẫn Chi Ngụy hoàng hậu
2009 Gia Khánh quân du Đài Loan Hà Âm Lệnh phi
2011 Tân Hoàn Châu cách cách Lưu Hiểu Diệp Lệnh phi
2018 Hậu cung Như Ý truyện Lý Thuần Ngụy Yến Uyển
2018 Diên Hy Công Lược Ngô Cẩn Ngôn Ngụy Anh Lạc

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《清史稿列传一·后妃》孝仪纯皇后,魏佳氏,内管领清泰女。事高宗为贵人。封令嫔,累进令贵妃。乾隆二十五年十月丁丑,仁宗生。三十年,进令皇贵妃。四十年正月丁丑,薨,年四十九。谥曰令懿皇贵妃,葬胜水峪。六十年,仁宗立为皇太子,命册赠孝仪皇后。嘉庆、道光累加谥,曰孝仪恭顺康裕慈仁端恰敏哲翼天毓圣纯皇后。后家魏佳氏,本汉军,抬入满洲旗。子四:永璐,殇;仁宗;永璘;其一殇,未命名。女二,下嫁拉旺多尔济、札兰泰。
  2. ^ 乾隆21年4月21日 令妃遇喜 添炭 4月26日添姥姥1位 6月4日添上夜大夫
  3. ^ 10月4日 祈嫔遇喜, 添炭 添守月大夫守月姥姥。
  4. ^ 乾隆22年:5月26日 令妃遇喜 添炭 5月27日添守月大夫 ,6月11日添守月姥姥。
  5. ^ 乾隆十年。乙丑。十一月。癸未。以册封纯贵妃、娴贵妃、愉妃、令嫔、遣官祭告太庙后殿。奉先殿。
  6. ^ 乾隆十四年, 四月辛巳。以册封皇贵妃摄六宫事、并册封贵妃、令妃、舒妃、婉嫔、遣官祭告太庙后殿。奉先殿。
  7. ^ 乾隆二十四年。己卯。十一月。○丁卯。谕、来年为朕五十诞辰。又来年即恭值圣母皇太后七旬万寿。钦奉懿旨。彤闱集福。盛典骈臻。令妃、庆嫔、頴嫔、贵人博尔济锦氏。俱淑慎敬恭。兄勷内职。宜加册礼。以宏嘉禧。令妃著晋封贵妃庆嫔頴嫔著晋封为妃。贵人博尔济锦氏、著晋封为嫔。钦此所有应行典礼各该衙门敬谨察例举行.
  8. ^ 乾隆三十三年 ,六月。己未。以册封。庆贵妃。容妃顺嫔遣官祭告太庙后殿。奉先殿
  9. ^ 乾隆三十年。乙酉。六月。甲寅。以册封令皇贵妃。遣官祭告太庙后殿。奉先殿
  10. ^ Một phủ sở ở ngoài Tử Cấm Thành, phi tần hoặc hoàng tử hoàng nữ không phải đích-xuất thì khi hấp hối đều đưa ra đây
  11. ^ 憩承光殿作: 为娱圣母情,宜割贤妃绻
  12. ^ 《清高宗实录》皇贵妃薨。谕、本月二十九日。皇贵妃薨逝。着称令懿皇贵妃。依例辍朝五日。派皇六子、皇八子、皇十二子、皇十五子、皇孙绵德、绵亿、绵惠、九公主、额驸拉旺多尔济、扎兰泰、及丹巴多尔济、丰绅济伦、穿孝。并派皇六子、尚书永贵、总管内务府大臣金简、经理丧仪。所有应行典礼。着各该衙门察例具奏。
  13. ^ 《清高宗实录》: 二月○癸未。上至吉安所、临送令懿皇贵妃金棺、移殡静安庄。
  14. ^ 《清高宗实录》: 己丑。○命简亲王丰讷亨为正使。协办大学士尚书官保为副使。赍册宝。诣静安庄。赠谥皇贵妃为令懿皇贵妃。
  15. ^ 《清高宗实录》: ○癸巳。令懿皇贵妃行初祭礼。上命皇十五子永琰奠酒。○癸卯。令懿皇贵妃行大祭礼。上命皇十五子颙琰奠酒。五月○癸丑。令懿皇贵妃行百日祭礼。上命皇十五子颙琰奠酒。
  16. ^ 《清高宗实录》: 十月○壬辰。上至静安庄。视令懿皇贵妃金棺、奉移胜水峪启行。上命皇十五子颙琰恭送。于是月二十六日。奉安孝贤皇后陵寝。上还宫。
  17. ^ Nguyên văn: 儿女少年甫毕姻,独遗幼稚可怜真。兰宫领袖令仪著,萱户已勤懿孝纯。了识生兮原属幻,所惭化者近何频? 强收悲泪为欢喜,仰体慈帏度念谆。
  18. ^ 乾隆六十年十月,册赠令懿皇贵妃为孝仪皇后。以册赠孝仪皇后。前期命睿亲王淳頴为正使。郑亲王乌尔恭阿为副使。是日、恭赍册宝。诣孝贤皇后陵。册赠令懿皇贵妃为孝仪皇后。册文曰、朕惟离继照以作明。诞膺福祚。坤承天而正位。长发祥源。贤卜于天。景命方隆于授受。贵徵以子。追封允协于尊崇。惟令懿皇贵妃魏氏、德着诚庄。性昭淑顺。柔嘉维则。班初亚于三宫。式礼无愆。秩洊升于九御。六五叶黄裳之卜。欢奉萱闱。千亿开朱芾之占。喜宜兰殿。昔笃生夫睿哲。兆协横庚。今懋建夫元良。纪行周甲。昭兹来许。万年之岁月方长。佑我后人。廿载之音容如昨。兹以储徽克茂。继序其皇。吉启密缄。既正前星之号。幸符夙愿。将循上日之文。嗣服无疆。承华有自。特溯云軿于桂阃。用怀月御于椒涂。茂举上仪。聿崇升祔。兹册赠为孝仪皇后。于戏。本笃庆衍禔之德。母允垂仪。循召正言顺之规。子当承统。福所基也。尔子孙克绍于鸿图。礼亦宜之。我国家肇称之盛典。志维先定。灵其歆承。钦哉。
  19. ^ 乾隆六十年。○太常寺奏。本月二十七日。孝仪皇后神牌。升祔奉先殿。例应前一日遣官告祭天、地、太庙后殿。谨将宗人府送到亲王等职名。缮请钦点。得旨、著不必举行。
  20. ^ 乾隆六十年。乙卯。十月。○己亥。上谕皇太子、皇子、军机大臣曰、国朝旧典。最重祭神。孝仪皇后、乃朕因系嗣皇帝生母。恩旨册赠。止应于奉先殿祭告。若因此而举行天地庙祀大典。转邻于渎。已著不必举行
  21. ^ 乾隆六十年。乙卯。十一月。 ○谕曰、皇太子生母。已追封孝仪皇后。其家例宜晋封公爵。但孝仪皇后居孝贤皇后之次。著加恩暂赏一等侯爵。世袭罔替。交该旗照例拣选带领引见。寻予世管佐领花沙布一等侯爵如例。
  22. ^ 乾隆六十年。乙卯。十二月。○吏部疏请、孝仪皇后之父原任内管领清泰、追封为三等公。孝仪皇后之母杨佳氏、封为公妻一品夫人。得旨允行。