Lệnh Ý Hoàng quý phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hiếu Nghi Thuần hoàng hậu
孝儀纯皇后
Càn Long Đế Hoàng hậu
清 佚名 《清高宗乾隆孝仪纯皇后朝服像》.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Cao Tông
Càn Long hoàng đế
Hậu duệ Cố Luân Hoà Tĩnh Công chúa
Vĩnh Lộ
Hoà Thạc Hoà Khác Công chúa
Thanh Nhân Tông
Hoàng thập lục tử
Khánh Hi Thân vương Vĩnh Lân
Thụy hiệu Hiếu Nghi Cung Thuận Khang Dụ Từ Nhân Đoan Khác Mẫn Triết Dực Thiên Dục Thánh Thuần Hoàng hậu
孝仪恭顺康裕慈仁端恪敏哲翼天毓圣纯皇后
Thân phụ Ngụy Thanh Thái
Thân mẫu Dương Giai thị
Sinh 23 tháng 10 năm 1727
Giang Tô
Mất 28 tháng 2, 1775 (47 tuổi)
An táng 19 tháng 11
Dụ lăng, Hà Bắc

Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu (tiếng Hán: 孝儀純皇后, Mãn Châu: Hiyoošungga Yongsonggo Yongkiyaha Hūwangheo; 23 tháng 10 năm 172728 tháng 2 năm 1775), còn được biết đến dưới danh hiệu Lệnh Ý Hoàng quý phi (令懿皇貴妃), là một phi tần của Càn Long Đế và là mẫu thân Gia Khánh Đế.

Mặc dù lúc sinh thời, danh phận cao nhất của bà chỉ là Hoàng quý phi, nhưng với tư cách là mẹ đẻ của Tân hoàng đế, bà được vua Càn Long truy tôn làm Hoàng hậu nhân dịp Gia Khánh Đế được chỉ định làm người nối ngôi.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Nghi hoàng hậu Ngụy Giai thị

Hiếu Nghi hoàng hậu, Ngụy Giai thị (魏佳氏), Mãn châu Tương hoàng kỳ, nhưng thực chất bà là xuất thân từ Chính hoàng kỳ Hán tộc Ngụy thị (魏氏), xuất thân từ Nội vụ phủ Chính hoàng kỳ Bao y, sinh ngày 9 tháng 9 âm lịch vào năm Ung Chính thứ 5 (tức ngày 23 tháng 10 năm 1727). Dòng họ bà sau đó được con trai bà, Gia Khánh Đế theo truyền thống đưa vào Tương hoàng kỳ, nâng kỳ thành Ngụy Giai thị của người Mãn Châu.

Tằng tổ phụ là tặng Hộ trường quân đội Ngụy Tự Hưng (魏嗣兴), tổ phụ Tổng quản Nội Vụ phủ đại thần Ngụy Võ Sĩ Nghi (魏武士宜), cha bà là Ngụy Thanh Thái (魏清泰), người Giang Tô, giữ chức Nội quản lĩnh (内管领), mẹ là Dương Giai thị, cùng Ngụy thị tổ mẫu Niên thị từng đảm nhiệm tuyên sách bảo văn nữ quan. Nguỵ thị xuất thân bao y thấp kém, bởi vì lệ thuộc Nội vụ phủ nên có thể đã lấy thân phận cung nữ nhập cung, cũng là do Bát Kỳ tuyển tú là lựa chọn con nhà quan chức, xuất thân từ Bát Kỳ cao quý, nên với thân phận là Nội vụ phủ bao y nữ tử, Ngụy thị chân chính là không được lấy tú nữ thân phận tham gia ứng tuyển phi tần.

Đến năm Càn Long thứ 9 (1745), Nguỵ thị 19 tuổi lúc này đã trở thành Quý nhân, cuối năm đó được tấn phong lên hàng Lệnh tần (令嫔), đứng đầu Tam tần, ngoài ra còn có Thư tần Diệp Hách Na Lạp thị và Di tần Bách thị nữa. Phong hiệu Lệnh (令) lấy ý trong cuốn Kinh Thi, Đại Nhã có câu: như khuê như chương, lệnh văn lệnh vọng (如圭如璋,令闻令望), là phong hiệu với mỹ ý: đẹp như ngọc khuê, như ngọc chương, khiến (lệnh) người đời nghe danh (văn), khiến người đời ngưỡng vọng. Ngoài ra, phong hào “Lệnh” đối ứng Mãn văn là “mergen”, ý vì “Thông minh, cơ trí”. Từ Thanh thực lục, chỉ dụ tấn phong cho thấy Ngụy thị luôn đứng đầu chúng tần phi, trên cả Thư phi Diệp Hách Na Lạp thị, có thể thấy sự ân sủng khá thiên vị của Càn Long dành cho bà.

Năm thứ 13 (1749), ngày 20 tháng 5, Ngụy thị lại được tấn phong lên lên hàng Lệnh phi (令妃). Năm thứ 21, Lệnh phi sinh hạ Thất công chúa, tức Cố Luân Hòa Tĩnh công chúa tại Ngũ Phúc Đường ở Viên Minh Viên. Tháng 9 cùng năm, Càn Long ra chỉ dụ liên hôn công chúa cho Siêu dũng thân vương Trát Tát Khắc. Không lâu sau, năm thứ 22, Lệnh phi hạ sinh Hoàng thập tứ tử, tuy nhiên Hoàng tử qua đời khi mới được 3 tuổi. Sang năm thứ 23 Lệnh phi lại tiếp tục sinh Hoàng cửu nữ, tức Hòa Thạc Hòa Khác công chúa. Có thể thấy đây là giai đoạn sinh dục liên tục nhất của bà. Sang đến năm thứ 24 (1760), Lệnh phi lại có tin vui, tuy nhiên sau đó cái thai không giữ được. Ngày 4 tháng 2 cùng năm, Ngụy thị được thăng làm Lệnh Quý phi (令貴妃).

Năm Càn Long thứ 25, Lệnh Quý phi sinh được Hoàng thập ngũ tử Vĩnh Diễm, tức Thanh Nhân Tông Gia Khánh Hoàng đế sau này. 3 năm sau, bà sinh tiếp Hoàng thập lục tử nhưng hoàng tử chết yểu khi mới 2 tuổi.

Năm Càn Long thứ 30 (1765), tháng 1, bà được theo hầu Càn LongKế Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị đi tuần du phía nam sông Dương Tử, Thái Sơn, và Nhiệt Hà, xuyên qua các vùng Dương Châu, Tô Châu, Giang NinhHàng Châu. Tháng 2 năm đó, Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị đột ngột thất sủng, và chuyến đi Nam tuần năm ấy kết thúc vào ngày 19 tháng 2. Ngày 28 tháng 7 cùng năm, Lệnh Quý phi được lập làm Hoàng quý phi, thay Kế Hoàng hậu đang bị cấm túc cai quản công việc hậu cung. Năm sau, bà hạ sinh Hoàng thập thất tử Vĩnh Lân.

Tổng cộng, Ngụy thị sinh được 2 hoàng tử và 4 công chúa, là hậu phi sinh nở nhiều nhất của Càn Long, mà cũng là nhiều nhất của nhà Thanh, có thể thấy ân sủng thâm hậu.

Từ khi Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu bạo băng, Kế hoàng hậu thất sủng, Ngụy thị là ở vị thế Hoàng quý phi nắm quyền quản lý hết mọi việc hậu cung, có thể nói là đương khi ấy không khác gì Hoàng hậu, trở thành vô danh vị nhưng có thực quyền hậu cung đứng đầu hơn 10 năm trời. Tục ngữ nói, cửa cung vừa vào sâu như biển, tại đây bảo vệ nghiêm mật hậu cung, Ngụy thị xuất thân thấp hèn lại đạt được Hoàng quý phi địa vị đúng là không dễ. Hoàng Hậu Ô Lạt Na Lạp thị tùy Càn Long nam tuần bị thất sủng, cũng là có Lệnh quý phi Ngụy thị đi theo, chứng kiến Na Lạp thị từ Hoàng hậu địa vị cao cao tại thượng trong giây lát ngã vào vực sâu không thấy ánh sáng, Ngụy thị hẳn là tốt nhất nhân chứng.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 40 (1775), ngày 29 tháng 1, Lệnh Hoàng quý phi qua đời, hưởng thọ 47 tuổi, được ban thụy hiệuLệnh Ý Hoàng quý phi (令懿皇貴妃).

Càn Long ngừng triều 5 ngày để tang, phái Hoàng tử thứ 6 Vĩnh Dung, Hoàng tử thứ 8 Vĩnh Tuyền, Hoàng tử thứ 12 Vĩnh Cơ, Hoàng tử thứ 15 Vĩnh Diễm, hoàng tôn Miên Đức, Miên Ức, Miên Huệ, Hoàng cửu nữ Hòa Khác công chúa, các Ngạch phò Lạp Vượng Đa Nhĩ Tế, Trát Lan TháiĐan Ba Đa Nhĩ Tế mặc tang phục. Còn phái Thượng thư Vĩnh Quý, Tổng quản nội vụ phủ đại thần Kim Giản cùng quản lý lễ tang. Chín tháng sau, vào 19 tháng 11, bà được đưa vào Dụ LăngHà Bắc. Bà là người thứ 5 và cũng là người cuối cùng được hợp táng cùng với Càn Long tại địa cung. Quan tài của bà ở phía bên phải đế quan của Càn Long. Càn Long còn ra lệnh tăng lượng văn vật bồi táng thêm 18 kiện so với đãi ngộ thông thường cho Hoàng quý phi, tổng cộng tới 76 kiện, chỉ kém 1 kiện so với Hoàng hậu.

Càn Long Đế tư niệm Lệnh Ý hoàng quý phi, viết một cái gọi là Lệnh Ý hoàng quý phi vãn thi (令懿皇贵妃挽诗), trong đó viết:

Năm Càn Long thứ 60 (1796), ngày 9 tháng 2, Càn Long tuyên bố Vĩnh Diễm là Thái tử, đồng thời ra chỉ truy tặng bà là Hiếu Nghi Hoàng hậu (孝儀皇后). Tuy nhiên thần vị của bà chỉ được để ở Phụng Tiên Điện chứ không được đưa vào Thái Miếu. Sau khi Càn Long qua đời, Gia Khánh mới đưa bài vị của mẫu thân thăng phụ Thái Miếu.

Qua các đời Gia KhánhĐạo Quang, thụy hiệu đầy đủ của bà là Hiếu Nghi Cung Thuận Khang Dụ Từ Nhân Đoan Khác Mẫn Triết Dực Thiên Dục Thánh Thuần Hoàng hậu (孝仪恭顺康裕慈仁端恪敏哲翼天毓圣纯皇后).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Bà đã sinh cho Hoàng đế Càn Long tổng cộng sáu người con (bốn Hoàng tử và hai Hoàng nữ), trong số đó có Hoàng đế Gia Khánh. Đó là:

  1. Cố Luân Hoà Tĩnh Công chúa [固伦和静公主, 10 tháng 8 17569 tháng 2 1775], Hoàng nữ thứ 7 của Càn Long, tháng 7 năm 1770 hạ giá lấy Mông Cổ Siêu Dũng Thân vương Lạp Vượng Đa Nhĩ Tể (拉旺多尔济), cháu của Sách Lăng (策棱).
  2. Vĩnh Lộ [永璐, 31 tháng 8 17573 tháng 5 1760), Hoàng tử thứ 14 của Càn Long, không có truy phong.
  3. Hoà Thạc Hoà Khác Công chúa [和硕和恪公主; 17 tháng 8 175814 tháng 12 1780], Hoàng nữ thứ 9 của Càn Long, tháng 9 năm 1772 hạ giá lấy Ô Nhã Trát Lan Thái (烏雅札蘭泰). Tuy là công chúa do hoàng hậu sinh ra nhưng cũng chỉ có danh phận Hoà Thạc công chúa.
  4. Thanh Nhân Tông Vĩnh Diễm [永琰], từ nhỏ đã được giao cho Khánh phi Lục thị nuôi dưỡng.
  5. Hoàng thập lục tử (13 tháng 1 năm 1763 – 6 tháng 5 năm 1765), con trai thứ 16 của Càn Long Đế, không truy phong.
  6. Khánh Hi Thân vương Vĩnh Lân [永璘, 17 tháng 6 176625 tháng 4 1820], Hoàng tử thứ 17 và là con trai út của Càn Long, do Dĩnh quý phi nuôi dưỡng, được phong Bối lặc năm 1789, được phong Khánh Quận vương (慶郡王) năm 1799, được phong Khánh Thân vương (慶親王) năm 1820 nhưng mất cùng vào năm đó.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim điện ảnh và truyền hình Diễn viên Nhân vật
1997 Hoàn Châu cách cách Triệu Lệ Quyên Lệnh phi
1998 Hoàn Châu cách cách 2 Triệu Lệ Quyên Lệnh phi
2003 Hoàn Châu cách cách 3: thiên thượng nhân gian Trần Lị Lệnh phi
2006 Thiếu niên Gia Khánh Trang Khánh Ninh Lệnh quý phi
2007 Nữ trạng tài danh Trần Mẫn Chi Ngụy hoàng hậu
2009 Gia Khánh quân du Đài Loan Hà Âm Lệnh phi
2011 Tân Hoàn Châu cách cách Lưu Hiểu Diệp Lệnh phi
2018 Hậu cung Như Ý truyện Lý Thuần Ngụy Yến Uyển
2018 Diên Hy Công Lược Tần Lam Ngụy Anh Lạc

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyên văn: 儿女少年甫毕姻,独遗幼稚可怜真。兰宫领袖令仪著,萱户已勤懿孝纯。了识生兮原属幻,所惭化者近何频? 强收悲泪为欢喜,仰体慈帏度念谆。