Hiếu Trang Hoàng Thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chiêu Thánh Hoàng thái hậu
昭聖皇太后
Thuận Trị Đế sinh mẫu
Imperial Portrait of Empress Xiao Zhuang Wen.jpg
Hoàng thái hậu Đại Thanh
Tại vị 10 tháng 2, 1651
- 7 tháng 1, 1661
Đăng quang 10 tháng 2, 1651
Tiền nhiệm Hiếu Đoan Hoàng thái hậu
Kế nhiệm Nhân Hiến Hoàng thái hậu đồng vị cùng Từ Hòa Hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu Đại Thanh
Tại vị 3 tháng 10, 1662
- 25 tháng 12, 1687
Đăng quang 3 tháng 10, 1662
Tiền nhiệm Thái hoàng Thái hậu đầu tiên
Kế nhiệm Từ Hi Thái hoàng Thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Thái Tông
Hậu duệ Thanh Thế Tổ Phúc Lâm
Cố Luân Ung Mục Trưởng Công chúa
Cố Luân Thục Tuệ Trưởng Công chúa
Cố Luân Thục Triết Trưởng Công chúa
Tên đầy đủ Bát Nhĩ Tề Cát Đặc Bố Mộc Bố Thái
(博爾濟吉特布木布泰)
Hán danh: Đại Ngọc Nhi (大玉儿)
Tước hiệu Chiêu Thánh Từ Thọ Cung Giản An Ý Chương Khánh Đôn Huệ Ôn Trang Khang Hòa Nhân Tuyên Hoằng Tĩnh Thái hoàng Thái hậu
(昭聖慈寿恭简安懿章庆敦惠温庄康和仁宣弘靖太皇太后)
Thụy hiệu Hiếu Trang Nhân Tuyên Thành Hiến Cung Ý Chí Đức Thuần Huy Dực Thiên Khải Thánh Văn Hoàng hậu
(孝莊仁宣誠憲恭懿至德純徽翊天啓聖文皇后)
Thân phụ Trung Thân vương Trại Tang
Thân mẫu Trung Thân vương Hiền phi
Sinh (1613-03-28)28 tháng 3 năm 1613
Khoa Nhĩ Thấm, Mông Cổ
Mất 27 tháng 1 năm 1688(1688-01-27) (74 tuổi)
Từ Ninh cung, Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Đại Thanh
An táng 10 tháng 12, 1725
Chiêu Tây lăng (昭西陵)

Hiếu Trang Văn Hoàng hậu (chữ Hán: 孝莊文皇后; tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᠠᠮᠪᠠᠯᡳᠩᡤᡡ
ᡤᡝᠩᡤᡳᠶᡝᠨ
ᡧᡠ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
tiếng Mãn Châu:hiyoošungga ambalinggū genggiyen šu hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga ambalinggv genggiyen xu hvwangheu; 28 tháng 3 năm 1613 - 27 tháng 1 năm 1688), thường được gọi là Hiếu Trang Thái hậu (孝莊太后), Chiêu Thánh Thái hậu (昭聖太后) hoặc Hiếu Trang Thái hoàng Thái hậu (孝莊太皇太后), là một phi tần của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, thân mẫu của Thanh Thế Tổ Thuận Trị Hoàng đế.

Hiếu Trang Hoàng thái hậu được biết đến với tài trí và khả năng chính trị của mình, được sử sách tôn vinh là người có sức ảnh hưởng và đóng góp to lớn trong việc ổn định trong buổi ban đầu khi lập quốc của Nhà Thanh, đặc biệt mối quan hệ giữa bà và Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn, giúp con trai bà Thuận Trị Đế ổn định ngai vàng khi còn quá nhỏ tuổi. Sau khi Thuận Trị Đế qua đời, bà dẫn dắt cháu của mình là Thanh Thánh Tổ Khang Hi Hoàng đế, giúp Khang Hi ổn định căn cơ và mở ra một thời đại thịnh trị nổi tiếng.

Bà được đánh giá cao trong lịch sử Nhà Thanh, vượt xa con cháu mình là Từ Hi Thái hậu, người đã đưa triều đại này đến sự diệt vong.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Trang Hoàng thái hậu

Hiếu Trang Hoàng thái hậu nguyên là Cách cách của Bác Nhĩ Tề Cát Đặc bộ, sinh ngày 8 tháng 2 năm thứ 41 niên hiệu Vạn Lịch triều Minh (1613). Tên đầy đủ của bà là Bát Nhĩ Tề Cát Đặc Bố Mộc Bố Thái (博爾濟吉特布木布泰), Mãn ngữ Bản Bố Thái (本布泰), có nghĩa là "Thiên giáng Quý nhân", tương truyền bà còn có Hán danh là Đại Ngọc Nhi (大玉儿), tuy nhiên thuyết này không rõ nguồn gốc.

Xuất thân cao quý người Mông Cổ, dòng dõi của Hiếu Trang Hoàng thái hậu là hậu duệ trực hệ của Chuyết Xích Cáp Tát Nhi (拙赤合撒儿), em trai cùng mẹ của Thành Cát Tư Hãn. Cao tổ phụ là Bát Địa Đạt Lãi (博地达赉), Bối lặc lâu đời của là con gái của Khoa Nhĩ Thấm Mông Cổ và là hậu duệ đời thứ 16 của Chuyết Xích Cáp Tát Nhi. Tằng tổ phụ Nạp Mục Tắc (纳穆塞), kế vị Bối lặc, sinh ra Mãng Cổ Tư (莽古斯), được nhà Thanh truy phong làm Hòa Thạc Phúc Thân vương (和硕福亲王). Mãng Cổ Tư có con trai, cũng chính là cha ruột của Hiếu Trang Thái hậu, Trung Thân vương Trại Tang (寨桑), kế vị Bối lặc của bộ tộc, và một người con gái, chính là Hiếu Đoan Văn hoàng hậu.

Trại Tang cưới mẹ bà, người được truy tôn làm Trung Thân vương Hiền phi (忠亲王贤妃) bởi nhà Thanh, và Hiền phi trước đó sinh ra hai anh trai Ô Khắc Thiện (乌克善), Mãn Châu Tập Lễ (满珠习礼) cùng Hải Lan Châu.

Gả cho Hoàng Thái Cực[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vạn Lịch thứ 42 (1614), Hoàng Thái Cực kết hôn với cô ruột của bà là Bát Nhĩ Tề Cát Đặc Triết Triết, phong làm Đại Phúc tấn. Vì nhiều năm Đại Phúc Tấn chỉ sinh 3 công chúa nên Trại Tang, cha bà tiến cử bà nhập cung sinh hoàng tử nối dõi có dòng máu Ái Tân Giác LaBác Nhĩ Tề Cát Đặc.

Năm Thiên Mệnh thứ 10 (1625), anh trai Ngô Khắc Thiện đưa em gái Bố Mộc Bố Thái đến Thịnh Kinh, Hoàng Thái Cực thu nạp làm thiếp. Bà nhập cung trở thành Trắc Phúc tấn, xưng gọi Tây cung Phúc tấn (西宫福晋), địa vị của Bố Mộc Bố Thái khi đó chỉ dưới cô ruột là Đại Phúc tấn Triết Triết, năm đó bà mới 13 tuổi. Năm Thiên Thông thứ 3 (1629), ngày 8 tháng 1, bà sinh hạ con gái thứ 4 của Hoàng Thái Cực tên Nhã Đồ (雅圖), sau là Cố Luân Ung Mục Trưởng Công chúa.

Năm Thiên Thông thứ 6 (1632), tháng 2, Trát Lỗ Đặc Bát Nhĩ Tể Cát Đặc thị, con gái của Bối lặc Đái Thanh (戴青) nhập cung, phong làm Đông cung Phúc tấn (东宫福晋), Bố Mộc Bố Thái bị đẩy xuống hàng thứ 3, thấp nhất trong các Phúc tấn. Ngày 12 tháng 2 năm đó, bà hạ sinh con gái thứ 5 cho Hoàng Thái Cực, tên là A Đồ (阿圖), sau là Cố Luân Thục Tuệ Trưởng Công chúa. Năm Thiên Thông thứ 7 (1633), ngày 16 tháng 11, bà hạ sinh tiếp tục con gái thứ 7 của Hoàng Thái Cực, tức là Cố Luân Thục Triết Trưởng Công chúa.

Năm Sùng Đức nguyên niên (1636), Hoàng Thái Cực xưng Hoàng đế, triều đại nhà Thanh chính thức thành lập. Hoàng Thái Cực phong Đại Phúc tấn Triết Triết làm Hoàng hậu, là Quốc quân Phúc tấn.

Bên cạnh đó, Hoàng Thái Cực còn lập ra Tứ phi (四妃), phong sủng phi Hải Lan Châu là Đông cung Đại Phúc tấn, phong hiệu là Thần phi (宸妃), ở Quan Thư cung, địa vị đứng đầu chúng phi. Trắc phi Na Mộc Chung mới nhập cung được phong làm Tây cung Đại Phúc tấn, phong hiệu Quý phi (贵妃), ở Lân Chỉ cung; Ba Đặc Mã Tảo phong Đông cung Trắc Phúc tấn, phong hiệu Thục phi (淑妃), ở Diễn Khánh cung; còn Bố Mộc Bố Thái được phong Tây cung Trắc Phúc tấn, phong hiệu Trang phi (莊妃), ban Vĩnh Phúc cung, nên gọi là Vĩnh Phúc cung Trang phi (永福宫莊妃). Trong Tứ phi, phân vị Trang phi là địa vị thấp nhất trong cả bốn người.

Năm Sùng Đức thứ 3 (1638), ngày 15 tháng 3, Trang phi sinh hạ cho Hoàng Thái Cực Hoàng tử thứ 9, đặt tên là Phúc Lâm.

Mẫu nghi thiên hạ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai được lập[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Sùng Đức thứ 8 (1643), ngày 9 tháng 8 (tức ngày 21 tháng 9 dương lịch), Hoàng Thái Cực mất tại Thịnh Kinh.

Vào thời điểm Hoàng Thái Cực qua đời, ông chưa lập ai làm Trữ quân, cũng không để lại chiếu thư, điều này đã gây nên sự xung đột tranh chấp ngôi vị trong nội bộ hoàng tộc. Lúc bây giờ, hai thế lực mạnh nhất là Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn, người em thứ 14 cùng cha khác mẹ của Hoàng Thái Cực, là tướng soái đứng đầu Bát Kỳ, và người kia là Túc Thân vương Hào Cách, con trai cả của Hoàng Thái Cực.

Trong tình cảnh lúc đó, Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn người có quyền lực nhất trong tám vị Nghị chính Đại thần, đã ý thức được rằng cán cân quyền lực chính trị và quân sự giữa hai bên bằng nhau, bất cứ bên nào lên làm Hoàng đế đều làm mất thế cân bằng, gây ra sự xung đột và chiến tranh ngay trong nội bộ triều Nhà Thanh. Cuối cùng, ông quyết định ủng hộ con trai thứ chín của Hoàng Thái Cực là Hoàng tử Phúc Lâm kế vị. Về lý do ủng hộ Phúc Lâm, phần lớn nhiều người nhận định còn mơ hồ, cho rằng chủ yếu là do mối quan hệ tình cảm giữa Đa Nhĩ Cổn và Trang phi theo rất nhiều giả thiết khác nhau.

Sau khi con Trang phi là Phúc Lâm lên ngôi, tức Thanh Thế Tổ Thuận Trị Hoàng đế, sinh mẫu Trang phi Bố Mộc Bố Thái vẫn gọi Thánh mẫu (聖母), trong khi Đích Hoàng hậu Triết Triết của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực trở thành Hoàng thái hậu, là Hoàng thái hậu chính thức duy nhất khi ấy. Vào lúc này, Thuận Trị Đế chỉ mới 6 tuổi, tám vị Nghị chính Đại thần bầu ra hai vị là Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn cùng Trịnh Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng làm hai vị Nhiếp chính vương.

Tấn tôn Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Trang Thái hậu mặc Thường phục

Năm Thuận Trị nguyên niên (1644), Lý Tự Thành tiến công Bắc Kinh, Sùng Trinh Nhà Minh tự vẫn tại núi Vạn Thọ, Nhà Minh diệt vong. Cha của Ngô Tam Quế bị Lý Tự Thành giết rồi treo trên cổng thành, Ngô Tam Quế uất hận gửi thư cầu viện Nhà Thanh, mở cửa Sơn Hải Quan cho thiết kỵ quân Bát Kỳ tiến vào trung nguyên. Đầu hạ năm đó, sau khi đã đánh tan quân Lý Tự Thành, Đa Nhĩ Cổn đã tiến thẳng vào thành Bắc Kinh. Từ đây Nhà Thanh đã thống nhất toàn bộ Trung Nguyên.

Năm Thuận Trị thứ 8 (1651), tháng 1, sau khi Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu băng thệ, triều thành đề nghị tôn Thánh mẫu Trang phi làm Hoàng thái hậu[1]. Ngày 10 tháng 2, bà được dâng tôn hiệu là Chiêu Thánh Từ Thọ Hoàng thái hậu (昭聖慈寿皇太后), bắt đầu thiết nghi trượng[2]. Chiếu cáo thiên hạ[3].

Sách tôn rằng:


Năm Thuận Trị thứ 11 (1654), Thuận Trị Đế truy tặng cha bà là Trại Tang làm Hòa Thạc Trung Thân vương (和硕忠亲王), còn mẹ bà là Trung Thân vương Hiền phi (忠亲王贤妃).

Năm Thuận Trị thứ 13 (1656), lại dâng tôn hiệu Chiêu Thánh Từ Thọ Cung Giản An Ý Chương Khánh Hoàng thái hậu (昭聖慈寿恭简安懿章庆皇太后).

Thái hoàng thái hậu uy quang[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Trị thứ 18 (1661), ngày 7 tháng 1, Thuận Trị Đế băng vì bệnh đậu mùa, khi chỉ mới 22 tuổi.

Trước tình thế đó, Hoàng thái hậu chọn Hoàng tử Huyền Diệp, con thứ ba của Thuận Trị lên kế vị, tức Thanh Thánh Tổ Khang Hi. Bà chỉ định bốn vị Nghị chính Đại thần phụ giúp Tân đế còn non trẻ, gồm: Sách Ni, Tô Khắc Xa Cáp, Át Tất LongNgao Bái. Trong thời gian này, Khang Hi Hoàng đế gọi bà là Thánh tổ mẫu Hoàng thái hậu (聖祖母皇太后), vẫn chưa chính thức định danh hiệu Thái hoàng Thái hậu.

Ngày 3 tháng 10, Khang Hi Đế chọn định huy hiệu cho Thánh tổ mẫu, cùng Mẫu hậu Hoàng hậu (tức Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu) và Mẫu hậu (tức Hiếu Khang Chương Hoàng hậu). Huy hiệu của Thái hoàng Thái hậu được định rằng Chiêu Thánh Từ Thọ Cung Giản An Ý Chương Khánh Đôn Huệ Thái hoàng Thái hậu (昭聖慈寿恭简安懿章庆敦惠太皇太后)[5].

Sách tôn viết:

Năm Khang Hi thứ 4 (1666), lại tôn thêm hai chữ Ôn Trang (温莊). Năm thứ 6 (1668) lại tôn thêm hai chữ Khang Hòa (康和). Năm thứ 15 (1677), tôn thêm hai chữ Nhân Tuyên (仁宣). Năm thứ 20 (1681), tôn thêm hai chữ Hoằng Tĩnh (弘靖). Bấy giờ bà là vị Thái hoàng Thái hậu đầu tiên của Nhà Thanh có tôn hiệu rất dài, lên đến 24 chữ, toàn xưng Chiêu Thánh Từ Thọ Cung Giản An Ý Chương Khánh Đôn Huệ Ôn Trang Khang Hòa Nhân Tuyên Hoằng Tĩnh Thái hoàng Thái hậu (昭聖慈寿恭简安懿章庆敦惠温庄康和仁宣弘靖太皇太后).

Hiếu Trang Thái hậu sinh hoạt đơn giản, không thích xa hoa. Khi bình định loạn Tam phiên, bà đem ngân lượng trong cung đình tiết kiệm được quyên ra khao thưởng binh lính xuất chinh. Mỗi phùng năm mất mùa, bà luôn là đem tiền tiết kiệm trong cung ra cứu tế, toàn lực phối hợp cũng như tận tâm duy trì sự nghiệp của con cháu và tổ tông. Gương tốt phi thường của bà, khiến các Hoàng đế về sau cảm phục mà noi theo.

Năm Khang Hi thứ 21 (1682), mùa xuân, Hoàng đế đi tuần Thịnh Kinh, ven đường cơ hồ mỗi ngày phái người viết thư thăm hỏi cuộc sống hàng ngày của Thái hậu, đồng thời báo cáo hành tung của chính mình, hơn nữa đem những món tươi ngon mà tự tay ông bắt được, đều phái đem về cung đặc dụ chế biến, trình lên lão tổ mẫu thưởng thức. Năm thứ 22 (1683), mùa thu, Khang Hi Đế bồi Tổ mẫu tuần du ngoạn Ngũ Đài Sơn, Hoàng đế mỗi khi hạ kiệu, tự mình vì Tổ mẫu mà tự tay đỡ bà lên từng nấc thang.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Khang Hi thứ 26 (1687), tháng 12, Thái hoàng Thái hậu bệnh nguy kịch. Khang Hi Hoàng đế ngày đêm không rời, thân phụng chén thuốc, cũng tự mình suất lĩnh vương công đại thần đi bộ đến Thiên đàn, kỳ cáo trời xanh, thỉnh cầu trời xanh có mắt giảm đi tuổi thọ của mình, mà tăng tuổi thọ tổ mẫu.

Khang Hi Đế khi đọc chúc văn, nước mắt chảy liên tục, vừa run vừa nói: “Nhớ khi còn nhỏ, sớm mất đi mẫu thân, may nhờ tổ mẫu chăm sóc, ba mươi năm hơn, cúc dưỡng dạy bảo, cứ thế thành công. Thiết nghĩ không có tổ mẫu Thái hoàng thái hậu, tuyệt không thể có đại nghiệp ngày hôm nay, cùng cực chi ân, suốt đời khó báo…… Nếu đại tính hoặc nghèo, nguyện giảm thần linh, ký tăng Thái hoàng Thái hậu mấy năm tuổi thọ” (Nguyên văn: 忆自弱龄,早失估恃,趋承祖母膝下,三十余年,鞠养教诲,以至有成。设无祖母太皇太后,断不能致有今日成立,同极之恩,毕生难报……若大算或穷,愿减臣龄,冀增太皇太后数年之寿。)[7].

Sang ngày 25 tháng 12 (tức ngày 27 tháng 1 năm 1688), Hiếu Trang Thái hoàng thái hậu giá băng, hưởng thọ 75 tuổi. Tang lễ diễn ra trọng thể, Nhân Hiến Hoàng thái hậu cùng Hoàng quý phi Đông Giai thị dẫn đầu chúng Phi tần, Hoàng tử, Công chúa đều thành phục. Thân vương, văn võ lớn nhỏ quan viên, ngoại phiên Vương, Vương phi, Bát Kỳ nhị phẩm trở lên quan viên mệnh phụ, đều tụ tập đầy đủ thành phục, mỗi ngày khóc lâm[8]. Lúc này Tứ hoàng tử Dận Chân (tức Ung Chính Đế sau này) đã được 10 tuổi.

Năm Khang Hi thứ 27 (1688), ngày 16 tháng 10, suất chư Vương, Bối lặc, Văn Võ quần thần, cung phụng sách bảo, thượng tôn thụy rằng: Hiếu Trang Nhân Tuyên Thành Hiến Cung Ý Dực Thiên Khải Thánh Văn Hoàng hậu (孝莊仁宣誠憲恭懿翊天啟聖文皇后), sang ngày 22 tháng 10 thăng phụ Thái Miếu[9].

Sách thụy văn rằng:

Trước khi qua đời, bà trăng trối với Hoàng tôn Thanh Thánh Tổ Khang Hi của mình rằng: "Thái Tông cung phụng an cửu đã lâu, tránh vì ta mà kinh động đến. Huống hồ tâm huyết của ta dành trọn cho hai cha con của Hoàng đế, chỉ cần an táng gần Hiếu lăng là ta mãn nguyện rồi"[11]. Vì lẽ đó, Khang Hi Đế tạm an táng Thái hoàng Thái hậu gần Hiếu lăng (孝陵) của Thuận Trị Đế, thuộc Thanh Đông lăng. Hoàng đế cũng đem hủy bỏ 5 gian ở sinh tiền cư trú Từ Ninh cung của Thái hoàng Thái hậu, xây lại quy mô tương tự dưới chân núi, xưng Tạm An phụng điện (暂安奉殿) và tạm quàng linh cữu của Thái hoàng Thái hậu ở đấy. Đến thời Thanh Thế Tông, lăng mộ của bà được xây riêng biệt, tên là Chiêu Tây lăng (昭西陵), và năm Ung Chính thứ 3 (1725), ngày 10 tháng 12, linh cữu của bà từ Tạm An phụng điện mới được tiến hành đưa chôn vào địa cung.

Thụy hiệu của bà qua các đời đầy đủ là Hiếu Trang Nhân Tuyên Thành Hiến Cung Ý Chí Đức Thuần Huy Dực Thiên Khải Thánh Văn Hoàng hậu (孝莊仁宣誠憲恭懿至德純徽翊天啓聖文皇后).

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Trang Thái hoàng Thái hậu

Hiếu Trang Thái hậu Bác Nhĩ Tế Cát Đặc Bố Mộc Bố Thái, phụ tá 3 đời Đế vương đầu tiên của Đại Thanh, đối với việc Mãn Thanh nhập quan diệt Minh, củng cố nền chính trị của Mãn Thanh ở Trung Nguyên thì bà có công đầu tiên. Trong thời gian đầu tiên thời Thuận Trị Đế, bà đóng một vai trò rất lớn trong triều đại của con trai mình. Bà ít khi tham dự chuyện triều chính nhưng vai trò của bà là cán cân giữ sự cân bằng trong mối quan hệ giữa Hoàng đế và Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn, một mối quan hệ luôn là câu hỏi đối với giới sử học.

Trong thời gian Khang Hi Đế trị vì, tuổi còn nhỏ mà mất mẹ, bà đã nuôi dưỡng và chăm sóc Khang Hi Đế đủ kiến thức và nhận thức, vai trò không nhỏ tạo nên một thời đại Khang Hi phồn vinh của lịch sử Mãn Thanh. Đối với phương diện Tây học, bà được ghi nhận tuyệt đối coi trọng, góp phần tạo nên một giai đoạn Khang Hi cởi mở với thế giới. Ung Chính Đế rất tôn sùng tằng tổ mẫu, đã bình luận về bà:"Thống lưỡng triều chi dưỡng hiếu, cực tam thế chi tôn thân" (Nguyên văn: 统两朝之养孝,极三世之尊亲).

Học giả Dương Trân (杨珍) nói về bà:"Hiếu Trang được công nhận là một nữ chính trị gia kiệt xuất thời Minh-Thanh, ở tình huống đặc biệt khó khăn khi Thanh triều nhập quan, bà đã duy trì đoàn kết của Hoàng thất nhà Thanh, hơn nữa bảo hộ bồi dưỡng Thuận Trị, Khang Hi, những danh quân trong lịch sử, đối với tình thế khiến cục diện Trung Quốc từ phân liệt thành thống nhất cực kỳ ý nghĩa. Càng quan trọng là, bà không có giống như Từ Hi Thái hậu lợi dụng hoàn cảnh mà buông rèm chấp chính, trước sau ở vào phía sau màn, này ở Trung Quốc cổ đại sử đích thực là phi thường hiếm thấy".

Người ta tin rằng, Hiếu Trang Thái hậu đã thành hôn với Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn sau khi Hoàng Thái Cực mất. Mối quan hệ chị dâu lấy em chồng đối với tập tục dân tộc Mãn Châu là chuyện rất bình thường, nhưng bên trong mối quan hệ này là một câu chuyện tình có nhiều uẩn khuất.

Thuyết Thái hậu hạ giá lấy Đa Nhĩ Cổn, sớm nhất là bởi Trương Hoàng Ngôn (张煌言) khi ông ta đề cập trong 10 đầu thơ 《Kiến di cung từ - 建夷宫词》, trong đó có 1 bài nói:"Thượng thọ thương vi hợp nhi tôn, Từ Ninh cung lí lạn doanh môn. Xuân cung tạc nhật tân nghi chú, thái lễ cung phùng Thái hậu hôn" (Nguyên văn: 上寿觞为合而尊,慈宁宫里烂盈门。春宫昨日新仪注,太礼恭逢太后婚).

Chủ trương nghi vấn Thái hậu hạ giá Đa Nhĩ Cổn nói còn một ít luận cứ: Thứ nhất, Đa Nhĩ Cổn tôn xưng vì “Hoàng phụ Nhiếp chính vương”; thứ hai, theo 《Đông Hoa lục》 của Tưởng Lương Kỳ (蒋良骐) ghi lại, chiếu cáo Đa Nhĩ Cổn tội trạng, không chỉ có có tự xưng “Hoàng phụ Nhiếp chính vương”, còn có “Lại thân đến hoàng cung nội viện”; thứ ba, Hiếu Trang di chúc Khang Hi Đế, không cần đem bà cùng Hoàng Thái Cực hợp táng, liệu có phải vì bà đã tái giá Đa Nhĩ Cổn nên hổ thẹn ?

Có người cho rằng, mối tình giữa hai người xảy ra trước khi bà kết hôn của Hoàng Thái Cực. Có người cho rằng, đây là kế sách của Hiếu Trang Hoàng thái hậu nhằm duy trì Đế vị cho con trai của mình là Thuận Trị. Theo lịch sử, Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn đã cưới một trong những người em của bà là Tiểu Ngọc Nhi, nhưng trên thực tế giữa họ không có quan hệ huyết thống.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Cố Luân Ung Mục Trưởng Công chúa [固倫雍穆長公主, 1629 – 1678], tên là Nhã Đồ (雅圖), hạ giá lấy anh họ là Bật Nhĩ Tháp Cáp Nhĩ (弼尔塔哈尔) thuộc Khoa Nhĩ Thấm Mông Cổ.
  2. Cố Luân Thục Tuệ Trưởng Công chúa [固倫淑慧長公主, 1632 – 1700], tên là A Đồ (阿圖). Đầu tiên thành thân với Tác Nhĩ Cáp (索尔哈) thuộc Chính Hoàng Kì của Mãn Châu, sau đó tái giá với Sắc Bố Đằng (色布腾) thuộc Ba Lâm bộ Mông Cổ.
  3. Cố Luân Thục Triết Trưởng Công chúa [固倫淑哲長公主, 1633 – 1648], hạ giá con của Nội đại thần Ngạc Tề Nhĩ Tang (鄂齐尔桑) là Khanh Cát Nhĩ Cách (铿吉尔格) thuộc Tương Hoàng Kì của Mãn Châu.
  4. Hoàng cửu tử Phúc Lâm [福临], tức Thanh Thế Tổ Thuận Trị Hoàng đế.

Trong điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Trang Thái hậu không chỉ là một chủ đề hấp dẫn đối với giới sử học mà cuộc đời bà đã được đưa vào văn chương và nghệ thuật, đặc biệt là các tác phẩm điện ảnh về thời niên thiếu của Khang Hi.

Sau đây là một số bộ phim đáng chú ý có hình tượng của bà.

  1. Nhất đại hoàng hậu Đại Ngọc Nhi -《一代皇后大玉儿》 (1992). Diễn viên Phan Nghinh Tử.
  2. Tân Nguyệt cách cách - 《新月格格》 (1994). Diễn viên Lưu Tuyết Hoa.
  3. Công chúa Hoài Ngọc - 《懷玉公主》 (2000). Diễn viên Lưu Tuyết Hoa.
  4. Khang Hi vương triều - 《康熙王朝》(2001). Diễn viên Tư Cầm Cao Oa.
  5. Hiếu Trang bí sử - 《孝莊秘史》 (2002). Diễn viên Ninh Tịnh.
  6. Thiếu niên Thiên tử - Thuận Trị thiên - 《少年天子順治篇》 (2002). Diễn viên Phan Hồng.
  7. Thiếu niên Thiên tử - Khang Hi thiên - 《少年天子康熙篇》 (2003). Diễn viên Phan Hồng.
  8. Sóng gió Đại Thanh -《大清風雲》 (2006). Diễn viên Hứa Tịnh.
  9. Khang Hi bí sử - 《康熙秘史》(2006). Diễn viên Ô Sảnh Sảnh.
  10. Sơn hà luyến - Mỹ nhân vô lệ - 《山河戀 美人無淚》 (2011). Diễn viên Viên San San.
  11. Khuynh thành Tuyệt luyến - 《倾城绝恋》 (2011). Diễn viên Phan Nghinh Tử.
  12. Đa tình Giang sơn - 《多情江山》 (2015). Diễn viên Viên Vịnh Nghi.
  13. Đại Ngọc Nhi truyền kỳ - 《大玉兒傳奇》 (2015). Diễn viên Cảnh Điềm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cát Kiến Hùng (chủ biên), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc.
  • Mote, F.W. (1999). Imperial China: 900-1800. Harvard University Press. tr. 49–52. ISBN 0-674-01212-7. 
  • Hummel, Arthur William, ed. Eminent Chinese of the Ch'ing Period (1644–1912). 2 vols. Washington: United States Government Printing Office, 1943.
  • Rawski, Evelyn Sakakida. The Last Emperors: A Social History of Qing Imperial Institutions. Berkeley, CA: University of California Press, 1998.
  • Daily life in the Forbidden City, Wan Yi, Wang Shuqing, Lu Yanzhen. ISBN 0-670-81164-5.
  • Draft history of the Qing dynasty. 《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.太宗孝莊文皇后.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 清实录顺治朝实录-卷之五十二:顺治八年。辛卯。春正月。辛未。谕礼部。朕闻君德莫先于克孝礼制莫重乎尊亲。凡帝王缵承鸿业。深念劬劳。必上徽称。以彰盛典。所以隆礼显孝也。恭惟圣母、翊赞皇考、令德著于宫闱。诞育藐躬、恩慈勤于顾复。获缵丕绪。奄有寰区。良由圣母启迪之所致也。爰遵古典博采众谋拟上昭圣慈寿皇太后尊号。恭晋隆礼。用展孝思尔部将应行事宜择吉具闻。定皇太后冠顶、及皇后诸妃衣冠制。皇太后冠顶东珠与上同。皇后冠顶东珠十三颗衣用黄色居中宫西宫大妃冠顶东珠十二颗东宫妃东珠十一颗。定皇太后仪仗、及皇妃仪仗制、皇太后仪仗黄缎绣九凤曲柄伞一。黄缎宝相花伞四。红瑞草伞二。红素方伞二。销金九凤蓝伞二。青伞二。绣龙凤黄扇二。金黄素扇二。绣龙凤红扇二。绣鸾凤雉尾红扇二。吾仗四。卧瓜四立瓜四。红旗二。黄旗二。青旗二。蓝旗二。俱用缎销金龙凤文。金节一对。用黄纱绣龙凤文。黄轿一。黄车二。金马杌一。金交椅一。脚踏一。金唾盂一。金壶一。金水礶一。金香罏二。拂子二。金面盆一。金香盒二。用红油销金彩画凤底八角盘八面承之。四角桌八张。举香罏红油竿二根。两头俱刻凤文。皇妃仪仗、黄缎绣七凤曲柄伞一。黄缎宝相花伞二。红瑞草伞二。红方伞二。金黄素扇二绣凤雉尾红扇二吾仗二卧瓜二。立瓜二。销金凤文红旗二。青旗二。马杌一。交椅一。脚踏一。俱用起花金叶裹钉金唾盂一。金壶一。金水礶一。金面盆一。金香罏一。金香盒一。用红油销金彩画八角盘六面架六个承之。拂子二节一对。黄轿一车一四角用翟鸟金顶又诸妃仪仗、黄缎绣五。凤曲柄伞一。素黄缎伞二。红瑞草伞二。金黄素扇二。吾仗二。销金凤文青旗二。卧瓜二。立瓜二。黄轿一。车一。四角用翟鸟镀金顶马杌一。交椅一。脚踏一。俱用起花贴金银叶裹钉。金唾盂一。金面盆一。金壶一。金罏一。金香盒一。用红油销金彩画八角盘、六面架六个承之。金水礶一。拂子二。节一对。
  2. ^ 清实录顺治朝实录-卷之五十三:顺治八年。辛卯。二月。己卯朔。礼部题上昭圣慈寿皇太后尊号仪注本月初十日卯时上皇太后尊号先期一日遣官祭告天地太庙社稷是日设皇太后仪仗于宫中内院礼部官进宫。设黄案于正中。亲王以下、公以上、俱朝服。于午门内序立。满洲蒙古汉军、固山额真尚书、精奇尼哈番梅勒章京、侍郎等官在左翼门外序立。文武百官、在午门外排班。銮驾、大乐、全设。皇太后册宝彩亭二座、在左翼门内陈设。皇上出宫。册宝彩亭起行。内院礼部官前导。皇上驾诣皇太后宫。王以下、公以上、进太和殿丹墀。随驾行。册宝彩亭、从左翼中门出。侍立官、皆跪候过随驾行。驾至皇太后宫门外、降辇。请皇太后升座。皇太后具礼服升座。册宝彩亭至宫门外、止。捧册宝官、捧册宝由正中进宫内。立于左侧。引礼官、导驾进宫门内。至拜位。王以下、公以上、在宫大门限外序立。固山额真尚书以下侍郎、梅勒章京以上、在宫大门外序立。鸿胪寺官奏跪。上率诸王众官皆跪。鸿胪寺官奏进册宝。左侧捧册宝官、跪进册宝于皇上。皇上受册宝、上献讫。右侧官跪接、置于黄案上。鸿胪寺官奏宣册宝宣读官、跪宣册宝讫。鸿胪寺官、奏叩头。上率诸王众官、皆三跪九叩头讫。午门外侍立各官、亦随行三跪九叩头礼。鸿胪寺官、奏礼毕。皇太后。皇上、俱还宫。诸王、众官、俱散。次日、皇上御太和殿。诸王率文武百官上表、行庆贺礼。礼毕。颁诏天下。是日、固伦公主、和硕福金以下。固山额真、精奇尼哈番、尚书以上命妇。诣皇太后宫、行庆贺礼。
  3. ^ 清实录顺治朝实录-卷之五十三: 顺治八年。辛卯。二月。己丑。以上昭圣慈寿皇太后尊号礼成。颁诏天下。诏曰。帝王统御寰区。抚绥亿兆。莫不正名彰德。致隆于所生。乃仁孝之至情。尊养之彝宪也。钦惟我圣母协赞皇考。勤修内则。克谐宫壸。以御于家邦。诞育眇躬、劬劳启迪。缵承洪绪、昆一多方。揆厥本原、实惟慈庇。王公臣庶、咸谓宜崇上尊号。以孚中外之心。协古今之礼。察兹公议、允惬朕衷。谨告天地、太庙、社稷于顺治八年二月初十日率诸王、贝勒、文武群臣、恭奉册宝。上尊号曰昭圣慈寿皇太后。隆仪备举。恺泽覃敷。所有恩恤事宜、条列于后。一和硕亲王以下、宗室三等辅国将军以上、应厚加恩赐一、外藩诸王以下、固山额真、精奇尼哈番以上、各加恩赐一内外自公主以下、至格格、各加恩赐一满洲、及在内蒙古、旧汉军、公爵以下拖沙喇哈番以上、并袭职幼官随朝以上者各加升一级。内有从前行间著劳、及在署供职已久者、应破格分别升授。一、先经颁给诰命世职各官、今遇恩诏升授者、于诰命内、准撰世袭罔替。旧汉军阿达哈哈番、满洲拜他喇布勒哈番、今遇恩诏、亦准撰给诰命。嗣后已领诰命者、如再膺实职、另行撰给敕书。白身任梅勒章京、甲喇章京、满洲、蒙古、白身任牛录章京、满洲、蒙古、汉军、白身任侍郎、内院学士、理事、汉启心郎、副理事、主事者、应概加升一级。一、在京文官五品以上、各加一级。一、在京官员九品以上、厚加恩赐。一、各省镇总督、巡抚、并总兵官、各加恩赐。一、地方人材、果有诚实有德、山林隐逸之士。著该督抚核实具奏、酌与录用。一、各省人丁徭银、派徵不等。八年一年、曾分九则者。上三则、免七分之一。中三则、免五分之一。下三则、免三分之一。不分等则者。三钱以上、免半。三钱以下、全免。畿辅、除前诏免过外。再照各省、一例蠲免一各处满汉兵丁、分马步战守、各加赏赉。一、历代帝王陵寝、先师孔子阙里、应遣官致祭、照旧例举行。一、满汉孝子、顺孙、义夫、节妇、该管官细加咨访、确具事实、勘给奏闻。礼部核实、以凭旌表。一、自顺治元年起、至八年二月十一日昧爽以前。凡卫所充军人犯、不论永远终身、悉与赦免回籍。督抚仍将赦过人数、具册报部。一、营中例毙马匹、有按年责赔之例。自顺治八年二月十一日以前、未赔者、悉为豁免。一、各营兵丁征战劳苦、如有饷有欠者、该督抚速为补给。一、征调别省兵丁、深为可悯。其家口坐粮、照例给发。务令得沾实惠。一、朝鲜□山戊不□额、进贡各色绵五百疋。棉布五千疋。以后永免绵一百疋。棉布六百疋。于戏。立爱惟亲。孝思不匮。惟我圣母、丕隆名寿。于万斯年。王公臣庶、偕兹大庆。其各祇乃身。裕乃心。勤乃事敬迓天庥。以共臻于郅理。布告天下。咸使闻知。昭圣慈寿皇太后诰谕皇帝曰。为天子者、处于至尊。诚为不易。上承祖宗功德、益廓鸿图。下能兢兢业业、经国理民。斯可为天下主。民者、国之本。治民必简任贤才。治国必亲忠远佞。用人必出于灼见真知。莅政必加以详审刚断。赏罚必得其平服用必合乎则。毋作奢靡。务图远大。勤学好问。惩忿戒嬉。倘专事佚豫、则大业繇兹替矣。凡几务至前、必综理勿倦。诚守此言、岂惟福泽及于万世。亦大孝之本也
  4. ^ ○戊子。上躬率诸王、文武群臣恭上昭圣慈寿皇太后尊号册。宝册文曰开国承家道莫先于立爱正名定位。礼莫大于尊亲。子有至情。古垂彝宪。宜登崇号。以表化原。恭惟圣母体备含弘。性成圣善。克恭俭而襄大业。秉慈惠而谐六宫。祜既笃于家邦。祥乃钟于继嗣。恩勤顾复、丕殚鞠子之劳。启迪训行备示作君之则。坤教彰于率土。母仪式于九围。至德难名。莫罄揄扬之实。深恩罔报。图申尊养之诚。爰顺舆情。肇隆盛典。谨告天地、太庙、社稷。率诸王贝勒文武群臣恭奉册宝。上尊号曰昭圣慈寿皇太后。伏愿凝和履泰燕子诒孙德位兼崇锡鸿禧于四海。天人协庆。介眉寿于万年宝文曰昭圣慈寿皇太后宝。
  5. ^ 清实录康熙朝实录-卷之七: 庚午。谕礼部、朕惟君国之道、必崇夫孝理。化民之务、首重乎尊亲。钦惟我圣祖母昭圣慈寿恭简安懿章庆皇太后、仁承天德。顺协坤仪。佐皇祖太宗文皇帝、肇建丕基。启皇考世祖章皇帝、宅中定鼎。朕缵荷鸿图。恭承懿训。仰惟恩德、爱戴弥殷。母后皇后、懋昭淑配。克嗣徽音。表正六宫。母仪四海。母后、温恭慈惠。诞育眇躬。圣善之德并隆、尊显之仪宜备。粤稽古制。询于佥谋。尊上圣祖母皇太后尊号曰、昭圣慈寿恭简安懿章庆敦惠太皇太后。母后皇后尊号曰、仁宪皇太后。母后尊号曰、慈和皇太后。尔部即择吉以闻
  6. ^ 清实录康熙朝实录-卷之七: 康熙元年。癸卯。黎明。直班内大臣、侍卫、内院、礼部官、俱朝服齐集。设太皇太后、两宫皇太后、册宝彩亭六座。内院、礼部官、前引太皇太后册宝彩亭、至太和殿正中陈设。仁宪皇太后、慈和皇太后、册宝彩亭、东西旁陈设。上礼服。升殿。阅册宝毕。内院、礼部官、导彩亭次第前行。上升舆随后。内大臣以下官、随驾出右翼门。至太皇太后宫门外。上降舆。捧册宝官、从彩亭内、捧太皇太后册宝进宫、置黄案上。礼部官导上于丹陛正中跪。大学士捧册宝跪进。上受册宝。次第献毕。上奏言、恭惟圣祖母皇太后陛下承天厚德。配地弘庥。臣嗣缵鸿图。仰蒙懿训。璇基永保。环海重熙。宜修尊显之仪章。用祝生成之福履。敬稽彝典、晋荐徽称。伏祈圣慈鉴俞。礼仪备举。慰四海瞻依之愿。迓万年昌炽之祥。册文曰、昌源茂衍、荷慈训之贻谋。景历初膺、奉彝章而晋号。欢腾宫籞。庆洽寰区。钦惟圣祖母昭圣慈寿恭简安懿章庆皇太后、至仁厚德、配地承天。辅皇祖以式廓丕基、懋著肃雝之化。启皇考而载恢大业、益隆圣善之规。顾眇躬之嗣缵洪猷、赖懿教之恩隆诲迪。敬循显扬之典、用抒孝养之忱。谨告天地、宗庙、社稷。率诸王、贝勒、文武群臣、恭奉册宝、加上徽号曰、昭圣慈寿恭简安懿章庆敦惠太皇太后。伏愿休徵滋至。纯嘏弥增。绵鹤算于无疆。耀鸿名于有永。宝文曰、昭圣慈寿恭简安懿章庆敦惠太皇太后之宝。
  7. ^ 清实录康熙朝实录-卷之一百三十二: 康熙二十六年。丁卯。十二月。乙巳朔。上率诸王、贝勒、贝子、公、及文武官员等、步诣天坛致祭。上亲撰祝文曰、嗣天子臣玄烨敢昭告于皇天上帝曰、臣仰承天佑、奉事祖母太皇太后、高年荷庇、藉得安康。今者、疹患骤作、一旬以内、渐觉沉笃、旦夕可虑。臣夙夜靡宁、寝食捐废、虔治药饵、遍问方医、罔克奏效。五内忧灼、莫知所措。窃思天心仁爱、覆帱无方、矧臣眇躬、夙蒙慈养。忆自弱龄、早失怙恃、趋承祖母膝下、三十余年、鞠养教诲、以至有成。设无祖母太皇太后、断不能致有今日成立。罔极之恩、毕生难报。值兹危殆、方寸愦迷、用敢洁蠲择日、谨率群臣、呼吁皇穹、伏恳悯念笃诚、立垂照鉴。俾沉疴迅起、遐算长延。若大数或穷、愿减臣玄烨龄、冀增太皇太后数年之寿。为此匍伏坛下、仰祈洪佑。不胜恳祷之至。读祝版时、上涕泪交颐。陪祀诸王大臣等、无不感泣。祭毕、上即诣慈宁宫侍疾。
  8. ^ 清实录康熙朝实录-卷之一百三十二: 康熙二十六年。己巳。子时。太皇太后崩于慈宁宫。遗诰曰、予以薄德、幼承太祖高皇帝登聘。获奉太宗文皇帝。赞助内政。越既有年。不幸龙驭上宾。痛不欲生。誓以身殉。诸王大臣、以世祖皇帝方在冲龄、继承大统、保护靡托、合辞坚请。勉留此身、抚育教训、未尝少懈。十有九年、重遭不造、世祖皇帝崩逝、悲悼予怀、益无意人世、告天吁众、冀申初志。诸王大臣、复以今皇帝冲龄践祚、正须鞠育、恳请再四。予顾此藐狐、难忍捐弃、勉抑哀衷、相依□山戊示□月。今皇帝至孝性成、诚切肫恳、视膳问安、朝夕罔间、备物尽志、无所不周、屡荐徽称、尊崇斯极、终始惟一、几三十年。予因兹敬养、遂使两世哀感之怀、大为宽释。且皇太后奉事勤恪、予心甚安。但念世际昇平、皇帝纯孝、亘古所无、予正可诞膺福祉、奈年齿逾迈、时用自伤、顷当寝疾、皇帝躬省药饵、寝食捐废、步祷郊坛、竭诚呼吁。乃数尽难挽、遽至弥留。予寿七十有五、得复奉太宗文皇帝左右、惬予夙心、夫亦何憾。今皇帝励精图治、爱育苍生、海宇乂安。兆姓乐业、天下臣民颂太平之庥者、功归启佑、予殁有荣施焉。惟是皇帝大孝性成、超越今古、恐过于悲痛、宜勉自节哀、以万几为重。中外文武群臣、恪恭奉职、勿负委任、以共承无疆之福、其丧制、悉遵典礼、成服后三日、皇帝即行听政。其持服、依世祖皇帝遗诏、以日易月。二十七日而除。天地宗庙社稷之祭、不可以藐躬之故、致稽大典。及百神祀事、照常无停。故兹诰谕。其各遵行。上擗踊哀号。呼天抢地。哭无停声。皇太后、上暨皇妃、皇子、俱成服。亲王以下、文武大小官员、外藩王以下、及台吉等。王妃公主以下、八旗二品以上官员命妇。俱齐集成服。嗣是每日哭临二次。凡二十七日
  9. ^ 清实录康熙朝实录-卷之一百三十七: 康熙二十七年。戊辰。九月。壬戌。以恭奉大行太皇太后神牌、升祔太庙礼成、颁诏天下。诏曰、朕惟礼先报本、推崇备极夫鸿名。孝重尊亲、追远特隆于庙享。载稽往牒、钜典维昭。钦惟皇祖妣太皇太后、至德弘宣。深仁溥被。光赞我太宗文皇帝、躬勤缔造、启式廓之鸿图。笃生我世祖章皇帝、统一寰区、懋永清之大烈。丕彰圣善、抚育眇躬。殚三纪之恩勤、绵万年之历祚。缅思罔极、俨承慈训于杯棬。衍庆无疆、敬晋徽称于琬琰。博询舆论。虔考隆仪。祗告天地、宗庙、社稷。于康熙二十七年十月十六日、率诸王、贝勒、文武群臣、恭奉册宝、上尊谥曰、孝庄仁宣诚宪恭懿翊天启圣文皇后。二十二日、升祔太庙。既展追崇之报、宜弘锡类之仁。于戏。荐九庙之馨香。孝思不匮。萃万方之爱戴。纯嘏弥昌。率土扬庥。普天被泽。布告中外、咸使闻知。
  10. ^ 清实录康熙朝实录-卷之一百三十七:○乙卯。恭奉册宝、上大行太皇太后尊谥。册文曰、坤顺承天、懿德肇兴夫鸿业。萃亨假庙、隆称永式于明禋。将崇升祔之仪。宜备显扬之典。钦惟皇祖妣大行太皇太后、徽音集庆。厚德凝符。同妫汭以钟灵。并洽阳而著范。归我太宗文皇帝、当金玺来嫔之日、正雕戈启土之年。内治克襄。帝图式廓。格精诚于九庙、化洽苹蘩。敷阴礼于六宫、祥徵穜稑。笃生世祖章皇帝、永清四海、本胎教之虔恭。协正三辰、奉母仪之雍肃。每纡睿照、眷青原蔀屋之艰。实沛洪仁、颁红粟太仓之赐。观腾扶杖。惠溢歌衢。爰逮眇躬、益彰慈训。秉三十年之圣善。克致太平。溥亿兆姓之和恒、长开景运。懿筐载绩、勤劳不替于重闱。大练垂裳、节俭每先于下土。万国共尊亲之戴。两朝备孝养之隆。寿考康宁、福骈臻于箕范。含弘光大、德莫罄于羲图。方承爱日之欢、遽遘升遐之痛。终天衔恤。率土均哀。深惟笃祜所由来。永念发祥之有自。爰咨舆论。请命于天。谨奉册宝、上尊谥曰、孝庄仁宣诚宪恭懿翊天启圣文皇后。于戏。周室展閟宫之祀、礼载升歌。汉廷表长乐之仪、史传新注。伏冀慈灵可接。陟降在兹。必得其名、垂休声于琬琰。克昌厥后、流余庆于球图。彤管常新。瑶函永焕。宝文曰、孝庄仁宣诚宪恭懿翊天启圣文皇后之宝。
  11. ^ Nguyên văn: 太宗奉安久,不可为我轻动。况我心恋汝父子,当於孝陵近地安厝,我心始无憾。