Minh Quang Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Quang Tông
明光宗
明光宗.jpg
Hoàng đế nhà Minh
Trị vì 28 tháng 8, 162026 tháng 9, 1620
(&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000029.00000029 ngày)
Tiền nhiệm Minh Thần Tông
Kế nhiệm Minh Hy Tông
Thông tin chung
Tên thật Chu Thường Lạc (朱常洛)
Niên hiệu Thái Xương (泰昌): 28 tháng 8, 1620[1][2] - 21 tháng 1, 1621
(&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000146.000000146 ngày)
Thụy hiệu Sùng Thiên Khế Đạo Anh Duệ Cung Thuần Hiến Văn Cảnh Vũ Uyên Nhân Ý Hiếu Trinh hoàng đế
(崇天契道英睿恭纯宪文景武渊仁懿孝贞皇帝)
Miếu hiệu Quang Tông (光宗)
Triều đại Nhà Minh
Thân phụ Minh Thần Tông
Thân mẫu Hiếu Tĩnh hoàng hậu
Sinh 28 tháng 8, năm 1582
Mất 26 tháng 9, 1620 (38 tuổi)
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Trung Quốc
An táng Khánh lăng (庆陵)

Minh Quang Tông (chữ Hán: 明光宗, 28 tháng 8, 158226 tháng 9, 1620), là Hoàng đế thứ 15 của triều đại nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông cai trị Trung Hoa chưa đầy một tháng trong năm 1620, mất sau đúng 29 ngày ở ngôi Hoàng đế. Ông chỉ kịp dùng niên hiệuThái Xương (泰昌), nên cũng gọi là Thái Xương Đế (泰昌帝).

Cái chết của Quang Tông Thái Xương Đế gắn trực tiếp với nghi án Hồng hoàn án (红丸案), đồng thời ông cũng chính là vị Hoàng đế tại vị ngắn nhất trong lịch sử nhà Minh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quang Tông Thái Xương hoàng đế tên thật là Chu Thường Lạc (朱常洛), sinh vào ngày 28 tháng 8, năm 1582 tại Tử Cấm Thành. Ông là con trai trưởng của Minh Thần Tông Vạn Lịch hoàng đế, mẹ đẻ là Hiếu Tĩnh hoàng hậu Vương thị, vốn là 1 cung nữ hầu hạ trong cung của Từ Thánh Lý thái hậu. Một lần, Minh Thần Tông vào Từ Ninh cung thăm Lý Thái Hậu, ông gặp cung nữ Vương thị thì đem lòng yêu thích, liền lâm hạnh và ban cho nàng một ít trang sức. Sau đó, Vương thị mang thai, Từ Thánh thái hậu phát giác, tra vấn Vạn Lịch Đế nhưng ông kiêng quyết không nhận, còn có ý dùng thuốc bỏ đi đứa bé. Thái hậu bèn sai quan Thái y tra vấn, chứng thực Vương thị có thai với Hoàng đế, nên gây sức ép bắt Vạn Lịch Đế lập Vương thị làm phi tần. Và bà được Vạn Lịch Đế phong làm Cung phi (恭妃).

Trước khi đăng quang, Chu Thường Lạc mong muốn được làm một vị minh quân. Tuy nhiên trong suốt chiều dài lịch sử Trung Hoa, ông là một trong những vị Hoàng đế từng nếm đủ mùi vinh, nhục, bi, hoan của cuộc đời; bởi vậy sau khi địa vị Thái tử được củng cố, ông đã thỏa sức chơi bời, dâm lạc để bù đắp những ngày thống khổ đã trải qua. Chính điều này đã khiến cho sức khỏe của ông suy giảm nghiêm trọng. Đến mức ngay tại lễ đăng quang, cố gắng lắm ông mới cầm cự được đến phút cuối cùng.

Sau khi Chu Thường Lạc lên ngôi, ông càng trở nên hoang dâm vô độ. Trịnh Quý phi trong quá khứ từng mắc lỗi với ông, đã đem hiến cho ông rất nhiều mỹ nữ. Nực cười nhất là mặc dù sức khỏe vô cùng yếu đuối, nhưng ông vẫn thu nhận tất và ngày đêm ân ái với họ. Có đêm ông còn mây mưa với nhiều mỹ nữ cùng một lúc.

Chính vì sức khỏe yếu lại quá tham lam nữ sắc, ông ngã bệnh. Ngự y trong một lần thăm bệnh, đã dâng cho ông một viên "hồng hoàn", có màu đỏ, được điều chế từ sữa người. Chu Thường Lạc dùng xong thấy rất dễ chịu, lại do dược lực chưa đủ nên đòi dùng thêm 2 viên hồng hoàn nữa. Uống xong liền thấy người phấn chấn, bèn cho gọi mấy mỹ nhân vào để vui vầy cùng lúc. Kết quả là tinh ra không dứt.

Năm 1620, ngày 1 tháng 9, Thái Xương Hoàng đế Chu Thường Lạc chết ngay trên bụng một mỹ nhân của ông, hưởng dương 39 tuổi. Miếu hiệuQuang Tông (光宗), thụy hiệuSùng Thiên Khế Đạo Anh Duệ Cung Thuần Hiến Văn Cảnh Vũ Uyên Nhân Ý Hiếu Trinh hoàng đế (崇天契道英睿恭纯宪文景武渊仁懿孝贞皇帝), an táng tại Khánh lăng (庆陵).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Minh Thần Tông Chu Dực Quân.
  • Thân mẫu: Hiếu Tĩnh hoàng hậu Vương thị (孝靖皇后王氏, 1565 - 1611), sơ phong là Vương Cung phi (王恭妃), qua đời được thụy là Ôn Túc Đoan Tĩnh Thuần Ý hoàng quý phi (温肃端靖纯懿皇贵妃). Sau khi Minh Hi Tông lên ngôi mới tôn thụy Hoàng hậu.
  • Hậu phi:
  1. Hiếu Nguyên Trinh hoàng hậu Quách thị (孝元貞皇后郭氏; 1580 - 1613), người Thuận Thiên, con gái của Bác Bình hầu Quách Duy Thành (郭维城). Bà trở thành Thái tử phi khi Quang Tông còn là Hoàng thái tử. Qua đời trước khi Quang Tông đăng cơ, thụy là Cung Tĩnh Thái tử phi (恭靖太子妃). Về sau bà sau được Minh Hy Tông truy tôn thành Hoàng hậu. Bà sinh ra Hoài Thục công chúa.
  2. Hiếu Hòa hoàng hậu Vương thị (孝和皇后王氏; 1582 - 1619), người Thuận Thiên. Năm 1604, Vương thị vào hầu Quang Tông khi còn là Thái tử, sơ phong Tài nhân (才人). Sinh ra Minh Hy Tông và Giản Hoài vương Chu Do Học.
  3. Hiếu Thuần hoàng hậu Lưu thị (孝纯皇后刘氏, 1588 - 1615), người Hải Châu, bà vào hầu hạ Quang Tông với thân phận Thục nữ (淑女). Sinh ra Minh Tư Tông.
  4. Cung Ý Trang phi Lý thị (恭懿莊妃李氏, 1588 - 1624), người phủ Thuận Thiên, huyện Bảo Trì, sử gọi Đông Lý (东李), là thị thiếp hầu Quang Tông khi còn ở Tiềm để, phân vị Tuyển thị (选侍). Ban đầu Tây Lý nhận nuôi Minh Tư Tông, do sau này sinh con gái nên cải sang bà nuôi dạy.
  5. Khang phi Lý thị (康妃李氏, 1584 - 1674), gọi là Tây Lý (西李), là thị thiếp hầu Quang Tông khi còn ở Tiềm để, phân vị Tuyển thị (选侍). Sau khi Quang Tông lên ngôi, tấn phong Khang phi (康妃). Bà sinh ra Hoài Huệ vương Chu Do Mô, Nhạc An công chúa và là dưỡng mẫu của Minh Hy Tông.
  6. Ý phi Phó thị (懿妃傅氏, 1588 - 1644), sơ phong Thục nữ (淑女), hậu phong Tuyển thị (选侍). Sinh hạ Ninh Đức công chúaToại Bình công chúa.
  7. Ý phi Định thị (懿妃定氏), sinh ra Tương Hoài vương Chu Do Hủ.
  8. Kính phi Phùng thị (敬妃冯氏), sinh ra Huệ Chiêu vương Chu Do Triển.
  9. Thận tần Thiệu thị (慎嬪邵氏), sinh hạ Điệu Ôn công chúa.
  10. Tương tần Trương thị (襄嫔张氏).
  11. Khác tần Lý thị (恪嬪李氏).
  12. Định tần Quách thị (定嬪郭氏).
  13. Tuyển thị Vương thị (选侍王氏).
  14. Tuyển thị Triệu thị (選侍赵氏, ? - 1620), ban chết.

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hoàng trưởng tử Chu Do Hiệu [朱由校], tức Hy Tông Triết hoàng đế (熹宗悊皇帝), mẹ là Hiếu Hòa hoàng hậu.
  2. Hoàng nhị tử Chu Do Học [朱由学; 1607 - 1610], mất lúc 4 tuổi, mẹ là Hiếu Hòa hoàng hậu. Thụy hiệu là Giản Hoài vương (簡懷王).
  3. Hoàng tam tử Chu Do Tiếp [朱由楫; 1609 - 1616], mất lúc 8 tuổi, mẹ là Tuyển thị Vương thị. Thụy hiệu là Tề Tư vương (齊思王).
  4. Hoàng tứ tử Chu Do Mô [朱由模; 1610 - 1615], mất lúc 5 tuổi, mẹ là Khang phi Lý thị. Thụy hiệu là Hoài Huệ vương (懷惠王).
  5. Hoàng ngũ tử Chu Do Kiểm [朱由檢], tức Tư Tông Hiếu Liệt hoàng đế (思宗孝烈皇帝), mẹ là Hiếu Thuần hoàng hậu.
  6. Hoàng lục tử Chu Do Hủ [朱由栩], chết yểu, con của Ý phi Định thị. Thụy là Tương Hoài vương (湘懷王).
  7. Hoàng thất tử Chu Do Triển [朱由橏], chết non, mẹ là Kính phi Phùng thị. Thụy hiệu là Huệ Chiêu vương (惠昭王).

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Điệu Ý công chúa [悼懿公主], chết yểu.
  2. Hoài Thục công chúa [懷淑公主; 1604 - 1610], húy Chu Huy Quyên (朱徽娟), mẹ là Hiếu Nguyên Trinh hoàng hậu.
  3. Hoàng tam nữ [皇三女; 1605 - 1625].
  4. Hoàng tứ nữ [皇四女; 1606 - 1608].
  5. Hoàng ngũ nữ [皇五女; 1608 - 1609].
  6. Ninh Đức công chúa [寧德公主1609 - ?], mẹ là Ý phi Phó thị. Hạ giá lấy Lưu Hữu Phúc (刘有福), mất thời Khang Hy nhà Thanh.
  7. Toại Bình công chúa [遂平公主; 1610 - 1632], mẹ là Ý phi Phó thị, hạ giá lấy Tề Tán Nguyên (齐赞元).
  8. Hoàng bát nữ [皇八女; 1611].
  9. Nhạc An công chúa [樂安公主; 1611 - 1644], mẹ là Khang phi Lý thị, hạ giá lấy Củng Vĩnh Cố (鞏永固).
  10. Hoàng thập nữ [皇十女; 1616 - 1617], mẹ là Khang phi Lý thị.
  11. Điệu Ôn công chúa [悼温公主; 1621], chết yểu, mẹ là Thận tần Thiệu thị.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi chú chung: Ngày trước năm 1582 là ngày trong lịch Julius, không [hải là lịch Gregory đón trước. Ngày sau năm 1582 là ngày trong lịch Gregory, chứ không phải là lịch Julius vẫn được dùng ở Anh quốc cho đến năm 1752.
  2. ^ Sau khi hoàng đế Minh Thần Tông qua đời, niên hiệu Vạn Lịch của ông theo mặc định được coi như là sẽ chính thức chấm dứt vào ngày 21 tháng 1 năm 1621 (ngày cuối cùng của năm âm lịch). Tuy nhiên, vua Quang Tông qua đời chỉ hơn 1 tháng sau đó, trước ngày 21 tháng 1 năm 1621, là thời điểm để bắt đầu của niên hiệu Thái Xương. Người kế vị ông là Minh Hy Tông quyết định là niên hiệu Vạn Lịch được xem như kết thúc kể từ ngày 27 tháng 8 năm 1620, ngày cuối cùng của tháng 7 âm lịch năm đó theo lịch Trung Quốc, để cho niên hiệu Thái Xương được áp dụng 5 tháng còn lại của năm này (xem bài Minh Thần Tông).