Minh Huệ Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Huệ Đế
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Jianwen Emperor.jpg
Hoàng đế nhà Minh
Trị vì 30 tháng 6, 139813 tháng 7, 1402[1]
Tiền nhiệm Minh Thái Tổ
Kế nhiệm Minh Thành Tổ
Thông tin chung
Tên thật Chu Doãn Văn
Niên hiệu Kiến Văn: 6 tháng 2, 1399 - 29 tháng 7, 1402[2]
Thụy hiệu Ngắn: Huệ Hoàng đế[3]
Đầy đủ: Cung mẫn Huệ hoàng đế[4]
Miếu hiệu Huệ Tông[5]
Triều đại Nhà Minh
Thân phụ Ý Văn Thái tử Chu Tiêu
Thân mẫu Lã phi
Sinh 5 tháng 12 năm 1377
Mất 13 tháng 7 năm 1402 (24 tuổi)[6]
Trung Quốc
An táng Không rõ

Minh Huệ Đế (明惠帝) hay Minh Huệ Tông(5 tháng 12, 137713 tháng 7, 1402), là một vị hoàng đế nhà Minh trong lịch sử Trung Hoa. Tên thật của ông là Chu Doãn Văn (朱允炆), thụy hiệu là Huệ Đế (惠帝), còn gọi là Kiến Văn Đế (建文帝). Kiến Văn Đế kế vị Minh Thái Tổ (Hồng Vũ Đế) và cai trị từ năm 1398-1403.

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến Văn đế là con trai thứ hai[7] của Ý Văn thái tử Chu Tiêu (1355-1382) với bà phi họ Lã[7], cháu nội của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Ông là người hiếu học, tính hiếu thảo[7]. Do cha và anh trai ông là Chu Hùng Anh đã mất trước khi Thái Tổ qua đời nên Thái Tổ lập ông làm người kế vị vào tháng 9 năm 1382. Đến năm 1396 Thái Tổ cho lập Đông cung vương phủ.

Khi còn là hoàng thái tôn, ông từng dâng biểu đề nghị Minh Thái Tổ cho sửa 73 điều của Luật Hồng Vũ vì ông cho rằng các điều này quá ư nghiêm khắc[7].

Tháng 5 nhuận năm 1398, Thái Tổ bệnh mất, Doãn Văn lên ngôi, đóng đô ở Nam Kinh. Ông thay đổi chính sách của ông mình, giảm bớt hình phạt nghiêm khắc, tha nhiều tù nhân và áp dụng chính sách triệt phiên nhằm tập trung quyền lực về trung ương.

Bãi phiên và kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Minh Thái Tổ trị vì, để củng cố hoàng thất, ông đã phong cho con cháu làm phiên vương, nắm giữ binh quyền tại đất phong và đều có quân đội riêng để tự vệ. Khi Kiến Văn đế lên ngôi, ông trọng dụng ba người Tề Thái, Hoàng Tử Trừng, Phương Hiếu Nhụ với Tề Thái làm Binh bộ thượng thư, Hoàng Tử Trừng làm thái thường tự khanh, Phương Hiếu Nhụ làm hàn lâm viện thị giảng[7]. Mọi việc lớn của quốc gia đều bàn bạc với ba người này. Do chính sách phong phiên vương của Minh Thái Tổ nên thế lực của các phiên rất lớn. Khi còn là hoàng thái tôn, ông từng hỏi Hoàng Tử Trừng về cách xử lý các phiên. Sau khi lên ngôi, ông cho triệu các phiên vương về kinh để tiến hành bãi bỏ phiên vương. Tháng 4 âm lịch năm 1399 ép cho Tương vương Bách phải tự thiêu chết cùng cả nhà, còn Tề vương Phù, Đại vương Quế bị giáng làm thứ nhân. Tháng 6 âm lịch giáng Mân vương Biền làm thứ nhân nhưng chưa động tới Yên vương Lệ, do thế lực của ông này là rất lớn mạnh. Tuy nhiên, điều này đã làm cho Yên vương Chu Lệ lo sợ cho số phận của mình nên đã quyết định áp dụng sách lược tiên phát chế nhân để ra tay trước.

Ban đầu, Chu Lệ chưa dám động binh vì một số người con của ông (Chu Cao Sí, Chu Cao Hú, Chu Cao Toại) còn ở Nam Kinh. Một số đại thần khuyên Huệ Đế giữ các con của Chu Lệ làm con tin. Tuy nhiên qua một thời gian, Huệ Đế thấy Chu Lệ sai sứ qua lại với thái độ mềm mỏng, cho rằng Chu Lệ thần phục nên thôi không giữ các con Chu Lệ nữa.

Tháng 7 âm lịch năm 1399, tại Bắc Kinh, Chu Lệ khởi binh làm phản[7]. Ban đầu, quân triều đình chiếm ưu thế do Huệ Đế là người nhân ái nên đã có chỉ dụ nếu không có lệnh [của ông] thì không được sát hại người của thúc phụ. Tuy nhiên, do Minh Thái Tổ lạm sát công thần nên phía Huệ Đế không còn nhiều người có khả năng cầm quân nên khi Chu Lệ, một người dày dạn kinh nghiệm chiến trường, đích thân cầm quân thì cán cân lực lượng lại ngả về phía Chu Lệ. Tháng 4 năm 1402, quân triều đình thua trận tại Hoài Bắc, quân của Chu Lệ thừa thắng vượt qua sông Hoài Hà tiến về Trường Giang. Trong chiến sự, vai trò của Chu Cao Hú - một người con của Yên vương được Huệ Đế thả về - có đóng góp khá nhiều. Có người khuyên Huệ Đế rời khỏi kinh thành nhưng Phương Hiếu Nhụ lại khuyên ông nên ở lại đợi viện binh.

Ngày 13 tháng 6 âm lịch năm 1402, quân Yên vương tiến vào Nam Kinh, qua của Kim Xuyên tiến vào phủ Ứng Thiên nhưng không bắt được Kiến Văn Đế. Kinh thành bốc cháy và người ta không rõ kết cục của ông ra sao[7]. Có thuyết nói rằng Kiến Văn Đế tự thiêu trong đám lửa cháy trong cung cấm. Lại có thuyết nói rằng ông bỏ trốn, cạo đầu làm sư, đi tu mai danh ẩn tích ở đâu không ai biết.

Chu Lệ vào cung, giết hại quan viên và lên ngôi, tức là Minh Thành Tổ hay Vĩnh Lạc đế.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi chú chung: Ngày tháng lấy theo lịch Julius. Nó không phải lịch Gregory đón trước.
  2. ^ Ngày 30 tháng 7 năm 1402 niên hiệu Kiến Văn chính thức bị Minh Thành Tổ bãi bỏ và niên hiệu Hồng Vũ được phục hồi cho tới đầu năm 1403 khi Thành Tổ đặt niên hiệu là Vĩnh Lạc.
  3. ^ Thụy hiệu này do hoàng đế nhà ThanhCàn Long đặt năm 1736. Trước đó, năm 1644 Phúc vương truy tặng ông thụy hiệu Nhượng hoàng đế
  4. ^ Đặt năm 1736. Thụy hiệu đầy đủ do Phúc vương năm 1644 là: Tự thiên Chương đạo Thành ý Uyên công Quang văn Dương vũ Khắc nhân Đốc hiệu Nhượng hoàng đế.
  5. ^ Miếu hiệu bị Minh Thành Tổ từ chối. Nhưng năm 1644 thì vua Nam MinhPhúc vương đã truy tặng Minh Huệ Đế miếu hiệu Huệ Tông. Tuy nhiên, miếu hiệu này không được nhiều sử sách ghi nhận, không giống như miếu hiệu của Cảnh Thái đế, cũng do Phúc vương truy tặng, nhưng nói chung là được nhiều sử sách công nhận.
  6. ^ Được cho là đã chết cháy khi hoàng cung bốc cháy. Tuy nhiên, người ta tin rằng ông thoát chết và sống ẩn mình trong nhiều năm sau đó như một vị sư.
  7. ^ a ă â b c d đ Minh sử: quyển 4

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bước thăng trầm của các triều đại phong kiến Trung Hoa - Cát Kiếm Hùng chủ biên, NXB Văn hóa Thông tin, 2003.