Minh Vũ Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Minh Vũ Tông
明武宗
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
明武宗画像.jpg
Chân dung của Minh Vũ Tông.
Hoàng đế Đại Minh
Trị vì19 tháng 6 năm 150520 tháng 4 năm 1521
(&0000000000000015.00000015 năm, &0000000000000305.000000305 ngày)
Tiền nhiệmMinh Hiếu Tông
Kế nhiệmMinh Thế Tông
Thông tin chung
Thê thiếpHiếu Tĩnh Nghị Hoàng hậu
Tên thậtChu Hậu Chiếu (朱厚照)
Niên hiệuChính Đức (正德: 24 tháng 1, 150627 tháng 1, 1522;&0000000000000016.00000016 năm, &0000000000000003.0000003 ngày)
Thụy hiệuThừa Thiên Đạt Đạo Anh Túc Duệ Triết Chiêu Đức Hiển Công Hoằng Văn Tư Hiếu Nghị Hoàng đế
(承天达道英肃睿哲昭德显功弘文思孝毅皇帝)
Miếu hiệuVũ Tông (武宗)
Thân phụMinh Hiếu Tông
Thân mẫuHiếu Thành Kính Hoàng hậu
Sinh(1491-10-26)26 tháng 10, 1491[1]
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
Mất20 tháng 4 năm 1521(1521-04-20) (29 tuổi)
Báo phòng, Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An tángKhang lăng (康陵), Thập Tam Lăng

Minh Vũ Tông (chữ Hán: 明武宗; 26 tháng 10, 1491 - 20 tháng 4, 1521) là vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông trị vì từ năm 1505 đến năm 1521, trong suốt thời gian 16 năm tại vị, ông chỉ dùng niên hiệuChính Đức (正德), nên các sử gia trong sử sách còn gọi ông là Chính Đức Đế (正德帝).

Phần đông sử gia mô tả Vũ Tông là một vị hoàng đế gian dâm, phóng đãng và sở thích quái lạ, song cũng có những ý kiến trái ngược. Như việc ông giết gian hoạn Lưu Cẩn (刘瑾), bình định Ninh vương chi loạn (宁王之乱; hay còn gọi là Thần Hào chi loạn), Ứng Châu đại tiệp (应州大捷), cho thấy Vũ Tông cũng là một vị hoàng đế có năng lực, quyết đoán.

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thật của ông là Chu Hậu Chiếu (朱厚照), sinh ngày 26 tháng 10 năm 1491 tại Tử Cấm Thành, là con trưởng của Minh Hiếu Tông Hoằng Trị Đế và Hiếu Thành Kính Hoàng hậu Trương thị. Ông có 1 em trai là Chu Hậu Vĩ (朱厚煒) và 1 em gái là Thái Khang Công chúa (太康公主), nhưng cả hai đều qua đời khi còn rất nhỏ, vì vậy ông là người con duy nhất trưởng thành của Hiếu Tông và Trương Hoàng hậu.

Năm 1493, ông được phụ hoàng lập làm Hoàng thái tử khi chỉ mới 2 tuổi. Chu Hậu Chiếu có bản chất ham chơi lêu lổng, ông hay chơi đùa với các hoạn quan, đôi khi ông nghĩ ra nhiều trò tinh quái mà không ai ngờ được. Tuy nhiên, dưới sự quản giáo nghiêm khắc của vua cha, Chu Hậu Chiếu ít khi lơ là việc học. Ông được giáo dục kỹ lưỡng về văn học Nho giáo và tỏ ra xuất sắc trong môn học này. Nhiều quan lại, thượng thư của Hiếu Tông mong rằng Chu Hậu Chiếu sẽ trở thành một vị hoàng đế nhân từ và tài giỏi như cha mình.

Năm 1505, ngày 8 tháng 6, Minh Hiếu Tông qua đời, thái tử Chu Hậu Chiếu lên kế vị, đổi niên hiệu là Chính Đức. Khi đó, ông vừa 14 tuổi.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Chìm đắm trong Báo phòng, hoạn quan lộng quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Tấm bia tưởng nhớ đến việc cải tạo Đền thờ Nhan HồiKhúc Phụ, 1509 (năm Chính Đức thứ 4)

Lúc mới lên ngôi, mặc dù ban đầu Vũ Tông vẫn có những nỗ lực ổn định chính sự để tiếp tục duy trì sự thịnh trị mà Hiếu Tông gây dựng, nhưng tính biếng nhác của ông đã ngăn ông trở thành một vị vua giỏi. Chẳng bao lâu sau khi lên ngôi, Minh Vũ Tông dần dần nản chí và chán ghét chính sự. Tuy vậy, Vũ Tông được ghi nhận bởi nhiều tài liệu lịch sử là một nhà chính trị khá hiệu quả, mặc dù đam mê lối sống xa xỉ và từ chối tham dự hầu hết các buổi chầu, ông lại cho thấy mình có thẩm quyền trong các quyết định và quản lý của mình. Dưới sự cai trị của Vũ Tông, tuy triều đình thiếu sự nề nếp và khuôn mẫu nhưng nền kinh tế đất nước vẫn tiếp tục phát triển, và cuộc sống người dân nói chung là thịnh vượng.

Năm 1507, Minh Vũ Tông cho xây Báo phòng (豹房), cả ngày chìm đắm trong đó. Vốn thích săn bắn, Vũ Tông cho bắt các loài thú quý hiếm nhốt ở trong vườn tại Báo phòng để thưởng ngoạn. Còn trong Báo phòng, Vũ Tông cho thuê các mỹ nhân giỏi múa hát vào biểu diễn. Sau này vua nghe nói con gái Hồi Hồi có nước da trắng, xinh đẹp thì vô cùng ngưỡng mộ, liền lệnh cho đô đốc Lã Tá Gia giả truyền thánh chỉ triệu những phụ nữ Hồi Hồi giỏi múa hát vào Báo phòng, và thế là Vũ Tông xem họ ca hát nhảy múa thâu đêm suốt sáng.

Cạnh ông có 8 hoạn quan hầu cận, hầu hạ cưỡi ngựa, đánh cầu, đuổi hươu, săn thỏ. Tên đứng đầu là Lưu Cẩn (刘瑾), những người còn lại là Trương Vĩnh, Mã Vĩnh Thành, Cốc Đại Dụng, Ngụy Bân, Khâu Tụ, Cao Phượng, La Tường. Minh Vũ Tông chỉ ham chơi, thấy bọn Lưu Cẩn luôn chiều theo ý mình nên quý chuộng. 8 tên hoạn quan đó dựa thế hoàng đế, tha hồ ra ngoài cung làm mọi chuyện phi pháp. Dân gọi chúng là "Bát hổ". Bọn họ hầu hạ Minh Vũ Tông ăn chơi đủ thứ. Chính vì thế, Vũ Tông chểnh mảng việc triều đình, thường vào thiết triều muộn hoặc không đến. Vũ Tông còn là kẻ nghiện rượu, ông tuyên bố cứ hai ngày mỗi khuya là dắt Truơng Vĩnh ra ngoài hoàng cung uống rượu quá độ, quậy phá tại lầu quán, trong lúc say rượu thường đi lang thang bên ngoài, nhận nhầm con gái nhà lành là kỹ nữ, rồi tùy tiện xông vào nhà dân giở trò đồi bại. Quyền thế Lưu Cẩn ngày càng mạnh, khiến triều đình ai cũng khiếp sợ.

Nhưng việc làm của Vũ Tông khiến các triều thần vô cùng thất vọng. Đại học sỹ Lưu Kiện và một số đại thần ba bộ Lại, Hộ, Binh khuyên can Vũ Tông trừ bỏ tám con hổ dữ đó. Bọn Lưu Cẩn được tin, liền khóc lóc với Vũ Tông. Minh Vũ Tông không những không nghe lời can gián, mà còn thăng Lưu Cẩn lên chức Tư lễ giám và cho 2 tên đồng đảng của Lưu Cẩn làm đề đốc Đông xưởngTây xưởng. Nắm quyền lớn trong tay, Lưu Cẩn liền tập hợp các đại thần, bắt quỳ trước Kim Thủy Kiều, công bố ghép tội một loạt đại thần là "gian đảng" và đuổi khỏi triều đình.

Hàng ngày, bọn Lưu Cẩn bày ra đủ trò vui thú cho Vũ Tông, đợi tới khi Vũ Tông mải mê, mới đưa hàng loạt sớ tấu xin Vũ Tông phê duyệt. Minh Vũ Tông bực mình nói: "Ta nuôi các ngươi để làm gì? Có mấy việc vặt thế này bắt ta tự làm hay sao?". Nói xong, quẳng các sớ tấu cho Lưu Cẩn.

Từ đó, bất kì việc lớn nhỏ, Lưu Cẩn đều không trình lên nữa. Hắn chuyên quyền độc đoán, giả truyền ý chỉ hoàng đế cho các đại thần. Bản thân Lưu Cẩn không thông thạo chữ nghĩa, nên đọc không hiểu nội dung các sớ tấu, liền mang về nhà cho đồng đảng xử lý. Các quan thấy vậy, nên mỗi lần muốn tâu việc gì, chỉ đưa bản sao cho Lưu Cẩn, còn bản chính thì đưa ra trước triều đình.

Dân gian lưu truyền 1 câu nói: "Trong thành Bắc Kinh có hai Hoàng đế, một Hoàng đế ngồi, một Hoàng đế đứng; một Chu Hoàng đế, một Lưu Hoàng đế".[2]

Sợ bị những phe đối lập chống lại, Lưu Cẩn phái đặc vụ của Đông xưởng, Tây xưởng đi do thám khắp nơi. Hắn còn đặt thêm 1 "nội hành xưởng" do tự mình quản lý bắt bớ. Số người bị bức hại lên tới mấy ngàn. Tiếng kêu than, oán giận của dân chúng vang dậy kinh thành. Lưu Cẩn lợi dụng quyền thế, hạch sách bóp nặn, đòi đưa hối lộ. Các quan địa phương tới kinh thành triều kiến, sợ Lưu Cẩn gây khó dễ, đều phải đưa lễ vật trước mặt hắn, mỗi lần có tới 2 bạn lạng bạc, hoặc phải vay nặng lãi mà trả dần. Tất nhiên, khoản tiền đó, lại bổ xuống đầu nhân dân lao động.

An Hóa vương chi loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1510, An Hóa vương Chu Chí Phiên lấy danh nghĩa chống Lưu Cẩn, khởi binh mưu phản, sử gọi là An Hóa vương chi loạn (安化王之乱). Minh Vũ Tông cử Dương Nhất Thanh là võ quan tổng quản vùng Ninh Hạ, Diên Tuy đem quân thảo phạt Chu Chí Phiên, đồng thời cử hoạn quan Trương Vĩnh làm giám quân, bắt được Chu Chí Phiên.[2]

Diệt trừ Lưu Cẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Nhất Thanh sau khi dẹp loạn An Hóa vương (安化王之乱), có ý muốn trừ Lưu Cẩn. Ông dò biết Trương Vĩnh vốn là 1 hoạn quan trong "bát hổ", nhưng từ khi Lưu Cẩn đắc thế, Trương Vĩnh có mâu thuẫn với Lưu Cẩn, liền lôi kéo Trương Vĩnh về phía mình.

Trên đường về kinh, Dương Nhất Thanh ghé sát vào tai Trương Vĩnh, dùng ngón trỏ tay phải viết vào lòng bàn tay trái 1 chữ "Cẩn". Trương Vĩnh nhíu mày nói: "Kẻ đó hàng ngày ở bên mình hoàng thượng, lại nhiều tai mắt, muốn trừ hắn đi rất khó!".

Dương Nhất Thanh nói: "Ngài cũng là thân tín của hoàng thượng. Lần này khải hoàn về kinh, hoàng thượng nhất định sẽ triệu kiến ngài. Nhân dịp đó, ngài tâu rõ nguyên nhân khiến Chu Chí Phiên mưu phản, nhất định hoàng thượng sẽ giết Lưu Cẩn. Đại sự mà thành công thì tên tuổi của ngài sẽ lưu truyền hậu thế".

Trương Vĩnh vốn có hiềm khích với Lưu Cẩn, nay được Dương Nhất Thanh hiến kế, liền quyết tâm thực hiện. Đến Bắc Kinh, Trương Vĩnh ngay trong đêm vào gặp Vũ Tông, tố cáo Lưu Cẩn mưu phản. Minh Vũ Tông liền hạ lệnh cho cấm quân đến bắt Lưu Cẩn. Lưu Cẩn không phòng bị gì, đang ngủ say, bị cấm quân xông vào trói lại, đưa vào nhà lao. Minh Vũ Tông sai cấm quân đến khám xét và tịch thu gia sản của Lưu Cẩn, phát hiện được 24 vạn nén vàng, 5 triệu nén bạc và vô số ngọc ngà châu báu. Ngoài ra, còn khám xét thấy long bào, đai ngọc, khôi giáp, vũ khí. Minh Vũ Tông lúc đó mới giật mình, lập tức xử tử Lưu Cẩn, dùng lăng trì hành hình. Bên cạnh đó, vua cho đóng cửa cả hai xưởng Đông Tây và giải phóng những đại thần vô tội bị bọn hoạn quan bắt giam.

Lưu Cẩn tuy đã bị giết, nhưng tình trạng ngu tối hủ bại của Vũ Tông đã nghiêm trọng tới mức không thể nào sửa được. Sau khi giết Lưu Cẩn, ông ta lại sùng bái 1 võ quan là Giang Bân (江彬). Giang Bân xúi giục hoàng đế, nhiều lần rời Bắc Kinh lên tìm thú vui chơi ở Tuyên Phủ (nay là Tuyên Hóa, Hà Bắc), Xương Bình, Mật Vân; có lúc vua đi xa hơn, băng qua Cư Dung quan, ngao du tới Đại Đồng. Trong mỗi chuyến đi như thế, Giang Bân và binh lính đã tìm kiếm rất nhiều con gái đẹp cho hoàng đế bất chấp họ là con nhà quan hay nhà dân, đã kết hôn hay chưa. Vũ Tông cũng để mọi quyền quân sự, chính trị cho Giang Bân giải quyết. Giang Bân vì vậy tha hồ tham nhũng, đòi hối lộ, bài xích người tốt.[2]

Minh Vũ Tông Chính Đức Hoàng đế Chu Hậu Chiếu

Khởi nghĩa nông dân[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng đế bỏ bê chính sự, đất đai tập trung cao độ vào tay địa chủ, thuế má và lao dịch trút lên đầu nhân dân lao động rất nặng nề, nên các cuộc khởi nghĩa nhân dân liên tiếp nổ ra. Năm 1510, vùng phụ cận Bắc Kinh nổ ra cuộc khởi nghĩa do Lưu Lục, Lưu Thất lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa kéo dài trong 2 năm, nghĩa quân hoạt động trong phạm vi 8 tỉnh thuộc Hà Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, 4 lần tiến tới gần Bắc Kinh, giáng 1 đòn nặng nề vào triều đình nhà Minh.[2]

Trận Ứng Châu và cuộc nổi dậy Chu Thần Hào[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1517, vua Mông CổDayan Khan đem quân quấy rối vùng Dương Cao, Sơn Tây. Minh Vũ Tông tự mình là tổng chỉ huy và đem quân dẹp loạn, cùng vũ tướng Giang Bân cầm quân, đại thắng. Sử gọi là Ứng Châu đại tiệp (应州大捷). Trong một thời gian dài sau trận chiến này, quân Mông Cổ đã không còn xâm phạm vào lãnh thổ nhà Minh

Năm 1519, Ninh vương Chu Thần Hào (稱宸濠) nổi dậy ở Nam Xương, Giang Tây, sử gọi là Ninh vương chi loạn (寧王之亂) hay Thần Hào chi loạn (宸濠之乱). Minh Vũ Tông sai Vương Dương Minh đem quân chinh phạt Thần Hào. Tới đầu năm 1520, Vương Dương Minh mới bắt được Ninh vương Chu Thần Hào nộp cho Minh Vũ Tông. Tuy nhiên Vũ Tông lại tỏ ra tiếc nuối vì không được tự mình bắt được Thần Hào, bèn lệnh cho lính thả hắn ra và tự mình xông ngựa đuổi theo bắt lại. Sau khi Ninh vương lần thứ hai bị bắt, Vũ Tông định giết ngay nhưng Vương Dương Minh và triều thần khuyên can, nên Vũ Tông phải tạm thời bắt hắn ta làm tù binh để xét xử sau. Vào tháng 1 năm 1521, Vũ Tông quyết định xử tử Chu Thần Hào tại Thông Châu, một sự kiện đã được một sứ giả của Bồ Đào Nha ghi lại ngay trên lãnh thổ Trung Quốc.

Sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa của Chu Thần Hào, Minh Vũ Tông lại đi tuần du ở vùng Giang Nam. Ông mải mê săn bắn, tiệc tùng, thưởng ngoạn, không còn màng đến chính sự.

Quan hệ với Phật giáo và Hồi giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ sứ Trung Quốc với chữ Taharat (sạch sẽ) trong thư pháp Thuluth, thời Chính Đức nhà Minh

Vũ Tông đã bị mê hoặc những người nước ngoài nên mời nhiều người Hồi giáo làm cố vấn, hoạn quan và phái viên tại kinh thành của ông. Các tác phẩm nghệ thuật như đồ sứ dưới thời cai trị của ông có chữ khắc Hồi giáo bằng tiếng Ả Rập hoặc tiếng Ba Tư.

Một sắc lệnh chống giết lợn đã dẫn đến suy đoán rằng Vũ Tông đã ứng dụng luật đạo Hồi do ông ta sử dụng các hoạn quan Hồi giáo, người đã ủy thác việc sản xuất đồ sứ với các chữ khắc Ba Tư và Ả Rập bằng màu trắng và xanh. Không rõ ai thực sự đứng sau sắc lệnh cấm giết mổ lợn.

Vũ Tông ưa thích phụ nữ Hồi giáo nước ngoài, có nhiều mối quan hệ tốt với họ.[3][4]

Theo Bret Hinsch trong cuốn sách Đam mê đoạn tụ: truyền thống đồng tính nam ở Trung Quốc, Vũ Tông có mối quan hệ đồng tính luyến ái với một thủ lĩnh Hồi giáo từ Kumul, tên là Sayyid Husain, người từng là giám thị ở Kumul trong chiến tranh biên giới Minh- Turfan, mặc dù không có bằng chứng thừa nhận điều này tồn tại trong các nguồn của Trung Quốc[5][6].

Ngoài ra Vũ Tông còn súng bái Phật giáo, thông hiểu kinh Phật bằng tiếng Phạn, thường xuyên tụng kinh gõ mõ trong cung, tự xưng là Đại Khánh Pháp Vuơng Tây Thiên Giác Đạo Viên Minh Tự Tại Đại Định Huệ Phật.

Quan hệ với châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Những cuộc tiếp xúc trực tiếp đầu tiên giữa châu Âu với Trung Quốc xảy ra dưới triều đại của Vũ Tông. Trong một số nhiệm vụ ban đầu do Afonso de Albuquerque của Malacca thuộc Bồ Đào Nha ủy nhiệm, các nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha, ông Jorge Álvares và Rafael Perestrello đã hạ cánh ở miền nam Trung Quốc và giao dịch với các thương nhân Trung Quốc Tân GiớiQuảng Châu. Năm 1513, vị vua của họ, Manuel I của Bồ Đào Nha đã gửi cho Fernão Pires de Andrade và Tomé Pires để chính thức công khai mối quan hệ giữa 2 kinh thành tại Bắc Kinh và Lisbon, kinh thành của Bồ Đào Nha. Mặc dù Vũ Tông đã ban cho sứ giả Bồ Đào Nha lời chúc phúc khi đi thăm Nam Kinh vào tháng 5 năm 1520, nhưng sau khi Chính Đức đế qua đời, những người thương nhân Bồ Đào Nha đã bị nhà Minh từ chối quan hệ giao thương. Mặc dù buôn bán bất hợp pháp vẫn tiếp tục sau đó, quan hệ chính thức giữa Bồ Đào Nha và triều đình nhà Minh sẽ không được cải thiện cho đến những năm 1540, đỉnh điểm là sự đồng ý của nhà Minh vào năm 1557, cho phép Bồ Đào Nha thành lập Ma Cao làm cơ sở buôn bán của họ ở Trung Quốc.

Afonso de Albuquerque, người đã ủy thác các liên doanh hàng hải châu Âu trực tiếp đầu tiên đến Trung Quốc từ Malacca thuộc Bồ Đào Nha.

Liên minh Trung-Mã Lai chống lại Bồ Đào Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Malacca của Mã Lai là một quốc gia phụ lưu và là đồng minh của nhà Minh. Khi Bồ Đào Nha chinh phục Malacca vào năm 1511 và có hành động tàn ác chống lại Vương quốc Mã Lai, triều đình nhà Minh đã đáp trả bằng vũ lực bạo lực chống lại Bồ Đào Nha.

Nhà Minh đã bỏ tù và xử tử nhiều đặc phái viên Bồ Đào Nha sau khi tra tấn họ tại Quảng Châu. Người Malaccans đã thông báo cho người Trung Quốc về việc xâm lược Malacca của thực dân Bồ Đào Nha, mà nhà Minh đã đáp trả bằng sự thù địch với người Bồ Đào Nha. Người Malaccans nói với người Trung Quốc về sự lừa dối mà người Bồ Đào Nha đã sử dụng, ngụy trang các kế hoạch chinh phục lãnh thổ như các hoạt động buôn bán đơn thuần và kể về tất cả sự tàn bạo của thực dân Bồ Đào Nha.

Do Quốc vương Malacca khiếu nại chống lại cuộc xâm lược của Bồ Đào Nha với Chính Đức đế, người Bồ Đào Nha đã được chào đón với sự thù địch từ phía Minh triều khi họ đến Trung Quốc. Quốc vương Malacca, có trụ sở tại Bintan sau khi chạy trốn khỏi Malacca, đã gửi một thông điệp tới nhà Minh để lên án về thổ phỉ Bồ Đào Nha và những hoạt động bạo lực ở Trung Quốc, khiến triều Minh phải xử tử 23 người Bồ Đào Nha và tra tấn những người còn lại trong tù. Sau khi người Bồ Đào Nha thiết lập các đồn để buôn bán ở Trung Quốc và thực hiện các hoạt động cướp biển và đột kích ở Trung Quốc, nhà Minh đã đáp trả bằng việc tiêu diệt hoàn toàn người Bồ Đào Nha ở Ninh BaTuyền Châu. Pires, một đặc phái viên thương mại Bồ Đào Nha, nằm trong số những người đã chết trong ngục tối ở Trung Quốc.

Nhà Minh đã đánh bại một hạm đội Bồ Đào Nha vào năm 1521 tại Trận Tunmen, giết chết và bắt giữ rất nhiều người Bồ Đào Nha đến nỗi người Bồ Đào Nha phải từ bỏ đàn em của họ và rút lui chỉ với ba tàu, chỉ trốn thoát trở lại Malacca vì một cơn gió mạnh làm chìm các tàu chiến của quân đội nhà Minh khi Trung Quốc đã phát động một cuộc tấn công cuối cùng.

Nhà Minh đã bắt giữ con tin là một sứ giả Bồ Đào Nha và sử dụng như một con bài mặc cả để yêu cầu người Bồ Đào Nha khôi phục vị vua Malacca (vua) bị phế truất lên ngai vàng. Ngoài ra triều đình đã tiến hành xử tử một số người Bồ Đào Nha bằng cách đánh đập và bóp cổ họ, và tra tấn những người còn lại. Các tù nhân Bồ Đào Nha khác bị đưa vào xích sắt và bị giam trong tù. Nhà Minh đã tịch thu toàn bộ tài sản và hàng hóa của Bồ Đào Nha trong quyền sở hữu của sứ giả Pires.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1520, Vũ Tông đi câu cá ở ao Tích Thủy bị lật thuyền và ngã xuống nước, rất may là được một binh sĩ nhảy xuống cứu. Tuy không bị chết đuối nhưng khi về kinh, ông đã đổ bệnh nặng.

Năm 1521, ngày 20 tháng 4, Vũ Tông chết trong Báo phòng, hưởng dương 30 tuổi. Theo di chiếu, con trai của Hưng vương Chu Hữu Nguyên, theo vai vế là em họ ông, là Chu Hậu Thông (朱厚熜), khi ấy 14 tuổi được lập làm vua. Quần thần tôn Chu Hậu Thông đăng cơ, tức Minh Thế Tông, niên hiệu là Gia Tĩnh. Thế Tông dâng miếu hiệuVũ Tông (武宗), thụy hiệuThừa Thiên Đạt Đạo Anh Túc Duệ Triết Chiêu Đức Hiển Công Hoằng Văn Tư Hiếu Nghị Hoàng đế (承天达道英肃睿哲昭德显功弘文思孝毅皇帝), an táng ở Khang lăng (康陵).

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Bức thư pháp của Chính Đức đế viết 4 chữ 天下奇觀 (Thiên hạ kỳ quan) ở tháp Thích Ca chùa Phật Cung.

Theo tường thuật của một số nhà sử học, mặc dù đạt nhiều thành công trong thời gian tại vị, Vũ Tông đã bỏ bê nhiệm vụ của mình, bắt đầu một xu hướng nguy hiểm sẽ ảnh hưởng đến các hoàng đế nhà Minh về sau. Việc từ bỏ các công việc chính thức như lo chính sự để theo đuổi sự hài lòng cá nhân sẽ dần dẫn đến sự trỗi dậy và thâu tóm quyền hành của các hoạn quan và cuối cùng hủy hoại vương triều nhà Minh. Học giả nhà Minh Tan Qian lập luận rằng: "Hoàng đế thông minh và vui tươi ... Ông cũng không làm hại các quan chức tranh luận hay can gián với ông. Ông rất thích sự hỗ trợ của các thượng thư và các công việc hiệu quả của những Đại học sỹ. Ông làm việc cho đến khi nửa đêm để ban hành sắc lệnh trừng phạt những tên tội phạm như Lưu Cẩn".

Một số nhà sử học hiện đại đã xem thời kỳ nắm quyền của ông đã xuất hiện những hiện tượng mới và tranh luận rằng hành động của ông cùng với những người kế vị của ông như Minh Thần Tông sau này là một phản ứng trực tiếp đối với sự bế tắc quan liêu ảnh hưởng đến triều đại nhà Minh trong giai đoạn nửa sau. Các hoàng đế rất hạn chế trong quyết định chính sách của họ và không thể thực hiện bất kỳ loại cải cách hiệu quả lâu dài nào khi có sở thích cá nhân rõ ràng, trong khi họ phải đối mặt với áp lực liên tục và được cho là chịu trách nhiệm cho tất cả những rắc rối mà quốc gia phải đối mặt. Kết quả là, các bá quan ngày càng thất vọng và vỡ mộng về các chính sách đổi mới của mình, và phản đối dưới các hình thức khác nhau về cơ bản là một cuộc đình công của đế quốc. Do đó, các hoàng đế như Minh Vũ Tông đã nhiều lần lẻn ra khỏi cung điện trong khi các hoàng đế như Minh Thế Tông và Minh Thần Tông chỉ đơn giản là không xuất hiện trong triều đình. Tuy vậy, các tác giả khác nói rằng Vũ Tông là một nhà cai trị với ý chí mạnh mẽ, đã xử lý dứt khoát với Lưu Cẩn, Chu Thần Hào, Chu Trí Phiên và mối đe dọa của Mông Cổ, đã có nhiều chính sách trong các vấn đề đối ngoại với đế quốc Bồ Đào Nha cũng như giải quyết những cuộc khủng hoảng do thiên tai, bệnh dịch và thuế má một cách khoan hòa. Mặc dù thành tựu của triều đại ông là phần lớn đóng góp của các bá quan văn võ rất tài năng của ông, nhưng chúng cũng phản ánh Vũ Tông là một vị vua có năng lực tốt.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hiếu Tĩnh Nghị Hoàng hậu Hạ thị (孝靜毅皇后夏氏; 1492 - 1535), người Thượng Nguyên. Sau khi Thế Tông Gia Tĩnh Đế kế vị, dâng tôn hiệu là Trang Túc Hoàng hậu (莊肅皇后).
  2. Thục Huệ Đức phi Ngô thị (淑惠德妃吳氏, ? - 1539), cha là Ngô Nhượng (吴让), thông thuộc lễ nghĩa trong cung nên rất được Trương Thái hậu quý mến.
  3. Vinh Thục Hiền phi Thẩm thị (榮淑賢妃沈氏, ? - 1542), cha là Thẩm Truyên (沈传), cũng được Thái hậu quý mến như Ngô Đức phi.
  4. Lưu Mỹ nhân (刘美人), còn gọi là Lưu cơ (刘姬), con gái của Lưu Lương (刘良), vốn là kỹ nữ, rất được Vũ Tông sủng ái.
  5. Vương thị (王氏), không rõ phong hiệu, người phủ Thuận Thiên (Bắc Kinh ngày nay), có tài văn thơ.
  6. Mã thị (马氏), còn gọi Mã cơ (马姬), không rõ phong vị, tư sắc diễm mỹ, biết cưỡi ngựa bắn cung, thạo nhiều thứ tiếng, giỏi Hồ nhạc.
  7. Đới thị (戴氏), con gái của Tổng binh Đới Khâm (戴钦), không rõ phong hiệu.
  8. Vương Mãn Đường (王满堂), con gái của Vương Trí (王智), bị gạch tên trong danh sách tuyển phi của Vũ Tông, sau được phong nữ quan.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi chú chung: Ngày tháng ở đây được lấy theo lịch Julius. Nó không phải là lịch Gregory đón trước.
  2. ^ a ă â b "Lịch sử Trung Quốc 5000 năm". Nguồn: Đài Phát Thanh Quốc tế Trung Quốc (CRI). Tác giả: Lâm Hán Đạt - Tào Dư Chương.
  3. ^ John W. Dardess (2012). Ming China, 1368-1644: A Concise History of a Resilient Empire. Rowman & Littlefield. tr. 47–. ISBN 978-1-4422-0491-1. 
  4. ^ Frederick W. Mote (2003). Imperial China 900-1800. Harvard University Press. tr. 657–. ISBN 978-0-674-01212-7. 
  5. ^ Bret Hinsch (1992). Passions of the cut sleeve: the male homosexual tradition in China. University of California Press. tr. 142. ISBN 978-0-520-07869-7. 
  6. ^ Société française des seiziémistes (1997). Nouvelle revue du XVIe siècle, Volumes 15–16. Droz. tr. 14. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]