Chu hoàng hậu (Minh Tư Tông)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tư Tông Chu hoàng hậu
思宗周皇后
Hoàng hậu Đại Minh
Tại vị16281644
Tiền nhiệmHi Tông Trương hoàng hậu
Kế nhiệmHoàng hậu cuối cùng
Thông tin chung
Phối ngẫuMinh Tư Tông
Sùng Trinh hoàng đế
Hậu duệĐiệu hoàng đế Chu Từ Lãng
Hoài Ẩn vương Chu Từ Huyên
Định Ai vương Chu Từ Huỳnh
Khôn Nghi công chúa
Trường Bình công chúa
Chiêu Nhân công chúa
Thụy hiệuHiếu Kính Trinh Liệt Từ Huệ Trang Mẫn Thừa Thiên Phối Thánh Đoan hoàng hậu
(孝敬貞烈慈惠莊敏承天配聖端皇后)[1]
Hiếu Tiết Trinh Túc Uyên Cung Trang Nghị Phụng Thiên Tĩnh Thánh Liệt hoàng hậu
(孝節貞肅淵恭莊毅奉天靖聖烈皇后)[2]
Thân phụGia Định hầu Chu Khuê
Thân mẫuĐinh thị
Sinh(1611-05-10)10 tháng 5, 1611
Mất24 tháng 4, 1644(1644-04-24) (32 tuổi)
Khôn Ninh cung
An tángMinh Tư lăng

Hiếu Tiết Liệt hoàng hậu (chữ Hán: 孝節烈皇后; 10 tháng 5 năm 1611 - 24 tháng 4 năm 1644), là Hoàng hậu của Minh Tư Tông Sùng Trinh Đế và là vị Hoàng hậu chính thống cuối cùng của triều đại nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc.

Thời Thanh, bà được biết đến với thụy hiệuHiếu Kính Đoan hoàng hậu (孝敬端皇后), sau lại sửa thành Trang Liệt Mẫn hoàng hậu (荘烈愍皇后).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu họ Chu (周氏; khác với họ Chu 朱 của hoàng tộc nhà Minh), sinh ngày 29 tháng 3 (âm lịch) năm Vạn Lịch thứ 39 triều Minh Thần Tông, nguyên quán tại Tô Châu, sau đó gia đình chuyển đến phủ Thuận Thiên, Đại Hưng, Bắc Kinh. Gia cảnh thanh bần, mẹ họ Đinh, cha Chu Khuê (周奎) hành nghề y kiếm sống.

Khi còn ấu thơ, Chu thị đã có nhan sắc nổi bật và tính cách nhu thuận, rất được gia nhân yêu mến, được coi là "Chưởng thượng minh chủ". Một lần, văn sĩ Trần Nhân Thích (陈仁锡) diện kiến, đã vô cùng ngạc nhiên bởi sắc đẹp của bà, đã nói với cha bà:"Quân nữ thiên hạ quý nhân". Trần Nhân Thích bèn dạy bà Tư trị thông giám và Kinh thư chi sử, sau đó bà tinh thông sách vở lễ nghĩa, hiểu biết văn chương.

Giữa những năm niên hiệu Thiên Khải (1621 - 1627), Chu thị dựa vào tư sắc mỹ miều nhập cung, dung mạo đoan trang mỹ lệ, cơ phú khiết bạch tựa bích (da trắng như ngọc). Sùng Trinh cơ từ chép lại:"Hoàng hậu nhan như ngọc, bất sự đồ trạch".

Lịch sử chép lại, triều đình đang lúc tuyển phi cho hoàng đệ Tín vương Chu Do Kiểm, Trương hoàng hậu cho rằng Chu thị không thích hợp, vì nhỏ tuổi nhất, vóc dáng gầy gò, tuy nhiên Lưu Chiêu phi khước từ 3 vị mỹ nữ ứng tuyển, ưng ý Chu thị, đến tâu với Trương hoàng hậu:"Chu thị hiện tại tuy gầy yếu, chắc chắn tương lai sẽ phát triển". Vì vậy mà Chu thị được chọn, trở thành Vương phi đầu tiên tại Tín vương phủ của Tín vương.

Năm Thiên Khải thứ 7 (1627), Minh Hy Tông băng hà mà không có con, di chiếu cho Tín vương Chu Do Kiểm kế vị, lên ngôi là Minh Tư Tông. Tín vương phi Chu thị do đó trở thành Hoàng hậu, khi đó bà mới 16 tuổi[3]. Cha bà được phong Gia Định hầu (嘉定侯).

Quốc mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Chu hoàng hậu có nhan sắc, Minh Tư Tông có cảm tình tốt nên bà sinh hạ được ba con trai ba con gái.

Ngoài hoàng hậu, hoàng đế còn sủng ái Điền Quý phiViên Quý phi. Viên Quý phi ở chỗ Chu hoàng hậu xử sự khiêm cung nhún nhường, đối đãi nội ngoại trong cung cẩn thận khép nép, với Chu hoàng hậu qua lại dung hòa. Ngược lại, Điền Quý phi thì tài nghệ hơn người nhưng không chịu luồn cúi Chu hoàng hậu, đối đãi cũng không ngả về Chu hoàng hậu, một vị Chu hoàng hậu hết mực khiêm nhã đối với Điền Quý phi về sau bắt đầu xảy ra va chạm. Một mình quản lý lục cung, Chu hoàng hậu cũng thường mượn phép tắc trong cung để làm mất mặt Điền Quý phi.

Năm Sùng Trinh thứ 13 (1640), tháng giêng, là tết Nguyên đán, theo lệ thì tần phi sẽ đến Giao Thái điện (交泰殿) triều bái Hoàng hậu. Điền Quý phi theo lễ đến trước điện thỉnh an, Chu hoàng hậu biết Điền phi đến bái kiến nhưng cố tình không tuyên gọi Điền phi vào. Khi đó đang là gió đông, tiết trời rất rét, Chu hoàng hậu tuy có thể bãi miễn triều hạ nhưng vẫn để Điền phi chờ ở ngoài như vậy. Một lúc sau, Viên Quý phi đến, khi thông báo liền được Chu hoàng hậu gọi vào yết bái, vui vẻ thăm hỏi. Sau khi Viên phi ra về, Điền phi mới được vào điện bái lễ, nhưng Hoàng hậu không nói một câu gì, Điền phi chỉ có thể yên lặng lui ra.

Điền Quý phi bị làm nhục, khóc lóc đến Thừa Càn cung (承乾宮) mách Hoàng đế. Tư Tông không rõ sự tình, thấy nước mắt ái phi thì lòng đau như cắt, bèn đến Giao Thái điện hỏi rõ Chu hoàng hậu, có tranh cãi rất lớn. Lúc sau, Tư Tông bình tĩnh suy ngẫm, làm lành lại với Chu hoàng hậu, còn ra chỉ biếm Điền Quý phi đến Khải Tường cung (啟祥宮) sám lỗi. Suốt 3 tháng trời không triệu Điền phi thị tẩm.

Cùng năm, tiết ngày xuân, Tư Tông cùng Hoàng hậu ngắm hoa tại Vĩnh Hòa cung (永和宮), trông thấy Thừa Càn cung là nơi ở của Điền phi, thì hỏi Hoàng đế dạo này không thấy nàng ta. Hoàng đế lạnh nhạt không đề cập, Hoàng hậu liền giãi bày cớ sự hôm trước, cốt là để đàn áp ngạo khí của Điền phi, cũng là vì tốt cho triều đình, nhưng Hoàng đế rốt cuộc vẫn làm ngơ. Chu hoàng hậu bèn sai cung nữ lấy xe đến thăm Điền phi, cả hai lại hàn huyên như chưa từng xảy ra cớ sự. Minh Tư Tông vì thế càng bội phục Hoàng hậu.

Minh vong[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Sùng Trinh thứ 17 (1644), tháng 3, phiến quân của Lý Tự Thành tiếp cận kinh thành.

Ngày 18 tháng 3 (tức ngày 23 tháng 4 dương lịch) cùng năm, buổi thiết triều cuối cùng của Sùng Trinh hoàng đế với các đạu thần được diễn ra. Lý Tự Thành đã yêu cầu Sùng Trinh đầu hàng, nhưng ông từ chối. Ngày hôm sau, quân nổi loạn tấn công kinh thành. Sùng Trinh Đế ra lệnh cho các con ông lẩn trốn kẻ địch ở nhà người thân, và triệu tập hết những người còn lại của hoàng tộc.

Thà chết chứ không muốn bị, các hoàng đế bắt đầu giết bởi phiến quân, Sùng Trinh sát hại tất cả các thành viên nữ, cung thiếp và phi tần trong hoàng tộc. Ông đã giết chết Khôn Nghi công chúa, cắt đứt một cánh tay của Trường Bình công chúa trước khi cải trang thành một thái giám và trốn thoát.[4] 

Còn Chu hậu và Viên Quý phi được ra lệnh tự sát (Điền phi chết trước đó một năm do bệnh), thế nên bà đã tự treo cổ tự tử tại Khôn Ninh cung, Tử Cấm Thành. Ngày mất là ngày 19 tháng 3 âm lịch, năm Sùng Trinh thứ 17.

Mầy ngày sau, ngày 21 tháng 3, Minh Tư Tông tự sát ở Cảnh Sơn, thế là xác hai vợ chồng bị quân Lý Tự Thành đem ra Đông Hoa chém đầu thị chúng. Ngày 4 tháng 4, châu lại châu Xương BìnhTriệu Nhất Quế (趙一桂) đem thi thể Đế Hậu táng vào khuôn viên mộ của Điền Quý phi. Khi nhà Thanh nhập quan, đã cho an táng cả hai vợ chồng theo nghi thức, mệnh dân chúng để tang 3 ngày, dâng thụy cho Sùng Trinh Đế là Đoan hoàng đế, lăng gọi Tư lăng (思陵)[5]. Chu hoàng hậu được dâng thụy là Hiếu Kính Trinh Liệt Từ Huệ Trang Mẫn Thừa Thiên Phối Thánh Đoan hoàng hậu (孝敬貞烈慈恵荘敏承天配聖端皇后).

Thời Thuận Trị năm thứ 16, cải thụy cho Sùng Trinh Đế là Trang Liệt Mẫn hoàng đế, Hoàng hậu vì thế trở thành Trang Liệt Mẫn hoàng hậu (荘烈愍皇后).

Nhà Nam Minh dâng thụy hiệu cho bà là Hiếu Tiết Trinh Túc Uyên Cung Trang Nghị Phụng Thiên Tĩnh Thánh Liệt hoàng hậu (孝節貞粛淵恭荘毅奉天靖聖烈皇后).

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nhà Thanh truy tôn.
  2. ^ Nhà Nam Minh truy tôn.
  3. ^ Keith McMahon: Celestial Women: Imperial Wives and Concubines in China from Song to Qing
  4. ^ Frederic E. Wakeman,Lea H. Wakeman: Telling Chinese History: A Selection of Essays
  5. ^ 帝體改葬,令臣民為服喪三日,諡曰端皇帝,陵曰思陵。