Minh Hiến Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Hiến Tông
明憲宗
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
明憲宗.jpg
Hoàng đế Đại Minh
Trị vì 28 tháng 2 năm 14649 tháng 9 năm 1487
(23 năm, 193 ngày)
Tiền nhiệm Minh Anh Tông
Kế nhiệm Minh Hiếu Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Phế hậu Ngô thị
Cung Túc hoàng quý phi
Hiếu Trinh Thuần hoàng hậu
Hiếu Mục hoàng hậu
Hiếu Huệ hoàng hậu
Tên thật Chu Kiến Tuấn (朱見濬)
Chu Kiến Thâm (朱見深)
Niên hiệu Thành Hóa (成化): 27 tháng 1, 1465-13 tháng 1, 1488
Thụy hiệu Kế Thiên Ngưng Đạo Thành Minh Nhân Kính Sùng Văn Túc Vũ Hoành Đức Thánh Hiếu Thuần hoàng đế
(繼天凝道誠明仁敬崇文肅武宏德聖孝純皇帝)
Miếu hiệu Hiến Tông (憲宗)
Triều đại Nhà Minh
Thân phụ Minh Anh Tông
Thân mẫu Hiếu Túc hoàng hậu
Sinh 9 tháng 12, 1447(1447-12-09)[1]
Mất 9 tháng 9, 1487 (39 tuổi)
Trung Quốc
An táng Mậu lăng (茂陵), Thập Tam Lăng

Minh Hiến Tông (chữ Hán: 明憲宗, 9 tháng 12, 144719 tháng 9, 1487), là vị Hoàng đế thứ 9 của nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông cai trị từ năm 1464 đến năm 1487, tổng cộng 23 năm với niên hiệuThành Hoá (成化), nên còn gọi là Thành Hoá Đế (成化帝).

Thời đại của ông được gọi là Thành Hóa tân phong (成化新风), một thời kì thịnh trị phát triển kinh tế, văn hóa, chế độ pháp luật khoan thứ, giảm miễn tô thuế. Những thành tựu này khiến thời đại của ông được so sánh ngang với Nhân Tuyên chi trị (仁宣之治).

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến Tông hoàng đế tên thật là Chu Kiến Tuấn (朱見濬), ông chào đời vào ngày 9 tháng 12, năm 1447 tại Tử Cấm Thành. Ông là con trai trưởng của Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn, mẹ là Hiếu Túc hoàng hậu Chu thị, người Xương Bình, lúc đó đang là Quý phi. Lúc đầu, vào đời Minh Anh Tông, Chu Kiến Thâm được phong làm Hoàng thái tử.

Năm 1449, sau Sự biến Thổ Mộc bảo, Minh Anh Tông bị tộc Ngõa Lạt Mông Cổ bắt, em trai ông là Chu Kỳ Ngọc lên ngôi, tức là Minh Đại Tông. Minh Đại Tông phế chức Thái tử của Chu Kiến Tuấn, cải thành Nghi vương (沂王), rồi để con mình là Chu Kiến Tể (朱见济) lên thay. Phế Thái tử Chu Kiến Thâm khi ấy phải nhẫn nhịn sống dưới sự cai trị của chú mình. Đến khi Mông Cổ Ngõa Lạt thả Anh Tông trở về, Đại Tông tôn Anh Tông lên làm Thái Thượng hoàng, nhưng lại giam Anh Tông vào trong Nam Cung, cách biệt với bên ngoài.

Năm 1457, Minh Anh Tông phát động Đoạt Môn chi biến (夺门之变), giành được ngai vàng. Chu Kiến Thâm được phục lại chức vị Đông cung Thái tử, rồi cảnh danh thành Chu Kiến Thâm (朱见深).

Thành Hóa tân phong[sửa | sửa mã nguồn]

Một bức tranh dưới thời nhà Tống vẽ gà mẹ cùng bầy gà con. Phía trên là bút tích do chính Hiến Tông ngự phê, thể hiện sự yêu thích của ông đối với bức tranh này

Năm 1464, ngày 23 tháng 2, Anh Tông hoàng đế băng hà, Thái tử Chu Kiến Thâm kế vị vào lúc vừa 17 tuổi. Tân đế cải niên hiệu Thành Hóa (成化), bắt đầu thời kỳ hưng thịnh được gọi là Thành Hóa tân phong (成化新风).

Sau khi lên ngôi, ông liền khôi phục lại Đế hiệu của người chú là Minh Đại Tông, tiến hành ân xá toàn quốc. Ông đã dùng chính sách giảm thuế, củng cố lại triều đình. Đương thời xem ông như một minh quân xuất chúng, thời kỳ trị vì xứng với Nhân Tuyên chi trị dưới thời Minh Nhân Tông Hồng Hi Đế và Minh Tuyên Tông Tuyên Đức Đế. Bấy giờ, các chư hầu như Lưu Cầu, Hà Mật (哈密), Xiêm La, Thỗ Lỗ phiên (吐魯番),...các nước đều dâng phương vật, xưng thần tuế cống.

Thành Hóa trung kì, trong hậu cung ông sủng ái Vạn Quý phi, rồi lại trọng dụng thân tín của bà ta là Uông Trực (汪直). Uông Trực ra sức hoành hành, tự lập ra một xưởng mới gọi là Tây xưởng (西廠). Cơ quan Tây xưởng này là một cơ quan mật vụ chuyên dò xét quan lại ở ngoài. Bọn tay sai của Uông Trực và chính Trực nắm giữ cơ quan đó, ra sức hà hiếp nhân dân, nhũng nhiễu cả quan lại, nên từ quan đến dân, từ người giàu đến kẻ nghèo, ai cũng oán hận chúng cả. Minh Hiến Tông thì càng lúc sa đà, chỉ lo ham mê tửu sắc. Sử nhà Minh chép rằng, trong cung vua có tới vạn phi tần, hoạn quan có tới 3000, thậm chí còn nhiều hơn thế nữa. Tuy đảng phái hoành hành, song nhìn chung đại để thời kì Thành Hóa quốc gia bình an vô sự.

Năm 1479, Thành Hóa thứ 15, Uông Trực bị Thành Hóa Đế nghi ngờ và bãi chức, nhưng hắn là kẻ ngang ngược, khi bị đuổi đi rồi hắn vẫn về Tây xưởng bí mật làm việc. Tới khi Minh Hiếu Tông lên ngôi thì biết được điều này. Uông Trực bị bắt, bị lột hết chức tước và bị đem về triều giam lỏng ở Đại lao. Sau hắn bị giết chết ở ngoài chợ.

Thời kỳ Thành Hóa có sự kiện Thổ địa kiêm tính (土地兼併; Land consolidation) phát sinh nghiêm trọng, khiến một lượng lớn dân chúng lưu lạc. Các vùng Kinh Châu, An Châu, Miện Châu, Tương Châu chịu thiệt hại nhất. Năm 1465, xảy ra Vân dương dân biến (鄖陽民變) cầm đầu bởi Lưu long (劉通), Thạch Long (石龍) và Lý Nguyên (李原). Binh bộ thượng thư Bạch Khuê (白圭) và Đô ngự sử Hạng Trung (史項) trấn áp và bình định.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1487, ngày 19 tháng 9, sau khi Vạn quý phi mất do bệnh gan, Minh Hiến Tông cũng nhớ bà ta quá mà sinh bệnh rồi qua đời, an táng tại Mậu Lăng (茂陵).

Thái tử Chu Hựu Đường kế vị, tức là Minh Hiếu Tông. Miếu hiệu của ông là Hiến Tông (憲宗), thụy hiệuKế Thiên Ngưng Đạo Thành Minh Nhân Kính Sùng Văn Túc Vũ Hoành Đức Thánh Hiếu Thuần hoàng đế (繼天凝道誠明仁敬崇文肅武宏德聖孝純皇帝), gọi tắt là Hiến Tông Thuần hoàng đế (憲宗純皇帝).

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn.
  • Thân mẫu: Hiếu Túc hoàng hậu Chu thị (孝肅皇后周氏; ? - 1504), người Xương Bình, con gái của Cẩm y vệ Ninh quốc công Chu Năng (周能). Sơ phong vị Quý phi. Khi Hiến Tông lên ngôi, cùng với Tiền hoàng hậu được đồng tôn Hoàng thái hậu. Sau khi Tiền Thái hậu qua đời, bà được tôn hiệu Thánh Từ Nhân Thọ hoàng thái hậu (聖慈仁壽皇太后). Do là phi tần tôn phong, bà không có thụy hiệu Duệ (睿) của Anh Tông như Tiền hoàng hậu.

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Phế hậu Ngô thị (廢后吴氏), vị Hoàng hậu ngắn nhất dưới thời Minh, bị phế sau khi được sách phong chưa đầy 31 ngày. Có thông tin cho rằng do trách phạt Vạn quý phi bất kính nên bị Hiến Tông phế bỏ, giam vào lãnh cung.
  2. Hiếu Trinh Thuần hoàng hậu Vương thị (孝貞純皇后王氏, 1464 - 1518), người ở huyện Thượng Nguyên, Giang Nam. Không con cái.
  3. Hiếu Mục hoàng hậu Kỷ thị (孝穆皇后紀氏; 1451 - 1475), xuất thân hàn vi, nhan sắc của nàng khiến hoàng đế mê mẩn không rời, phong làm Thục phi (淑妃), mẹ đẻ của Minh Hiếu Tông, vì sinh Hiếu Tông mà bị Vạn Quý Phi, sủng phi của Minh Hiến Tông giết. Thụy hiệu ban đầu là Cung Khác Trang Hy Thục phi (恭恪莊僖淑妃). Sau Minh Hiếu Tông lên ngôi, truy phong thụy hiệu Hoàng hậu.
  4. Hiếu Huệ hoàng hậu Thiệu thị (孝惠皇后邵氏; ? - 1522), nhập cung được phong là Thần phi (宸妃), sau tấn phong lên ngôi Quý phi (贵妃). Bà sinh ra Duệ Tông hoàng đế Chu Hữu Nguyên, Kỳ Huệ vương Chu Hữu Lâm và Ung Tĩnh vương Chu Hữu Duẫn
  5. Cung Túc Hoàng quý phi Vạn Trinh Nhi (恭肅皇貴妃萬貞兒, 1428 - 1487), hoàng quý phi đầu tiên trong lịch sử, sủng phi của Hiến Tông. Hạ sinh Hoàng trưởng tử chết yểu.
  6. Đoan Thuận Hiền phi Bách thị (端順賢妃柏氏, ? - 1527), sinh ra Điệu Cung Thái tử.
  7. Trang Ý Đức phi Trương thị (莊懿德妃張氏), sinh hạ Ích Đoan vương Chu Hựu Tân, Hành Cung vương Chu Hựu Huệ và Nhữ An vương Chu Hựu Hằng
  8. Đoan Ý An phi Diêu thị (端懿安妃姚氏, ? - 1491), sinh hạ Thọ Định vương Chu Hựu Thành
  9. Cung Ý Kính phi Vương thị (恭懿敬妃王氏, 1465 - 1510), sinh hạ Hoàng thập tử chết yểu
  10. Vinh Huệ Cung phi Dương thị (榮惠恭妃楊氏), sinh hạ Kính Giản vương Chu Hựu Tôn và Thân Ý vương Chu Hựu Giai
  11. Khang Thuận Đoan phi Phan thị (康順端妃潘氏, ? - 1538), sinh hạ Vinh Trang vương Chu Hựu Xu
  12. Trang Tĩnh Thuận phi Vương thị (莊靖順妃王氏, 1448 - 1505), sinh hạ Nhân Hòa Công chúa
  13. Tĩnh Thuận Huệ phi Quách thị (靖順惠妃郭氏, ? - 1491), hạ sinh Vĩnh Khang Công chúa
  14. Hòa Huệ Tĩnh phi Nhạc thị (和惠靜妃岳氏, 1465 - 1534), hạ sinh Tiên Du Công chúa chết trẻ
  15. Tĩnh Hi Vinh phi Đường thị (靖僖榮妃唐氏, ? - 1524)
  16. Chiêu Thuận Lệ phi Chương thị (昭順麗妃章氏, ? - 1501)
  17. Cung Huệ Hòa phi Lương thị (恭惠和妃梁氏, ? - 1533)
  18. Đoan Vinh Chiêu phi Vương thị (端榮昭妃王氏)
  19. Thị thiếp Đới Ngân Nương (戴銀娘, 1460 - ?)

Hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ tên Tước vị Sinh Mất Mẹ Thê thiếp Ghi chú
1 Hoàng trưởng tử 1466 1466 Vạn Hoàng quý phi Chết khi chưa đầy 1 tuổi
2 Chu Hựu Cực
朱祐极
Điệu Cung Thái tử
悼恭太子
6 tháng 7, 1469 5 tháng 3, 1472 Đoan Thuận Hiền phi Có thuyết cho rằng Thái tử bị Vạn hoàng quý phi sát hại
3 Chu Hựu Đường
朱祐樘
Hiếu Tông Kính hoàng đế
孝宗敬皇帝
30 tháng 7, 1470  8 tháng 6, 1505 Kỷ Thục phi Lúc mẹ ông mang thai, sợ bị Vạn Quý phi ám hại nên nhờ một hoạn quan sắp xếp cho ở lãnh cung đến ngày sinh nở
4 Chu Hựu Nguyên
朱祐杬
Duệ Tông Hiến hoàng đế
睿宗獻皇帝
22 tháng 7, 1476 13 tháng 7, 1519 Thiệu Quý phi Dưới thời Vũ Tông được truy phong Hưng Hiến vương (興獻王)
Sau con trai là Minh Thế Tông truy là Duệ Tông hoàng đế (睿宗皇帝)
5 Chu Hựu Lâm
朱祐棆
Kỳ Huệ vương
岐惠王
12 tháng 11, 1478 2 tháng 12, 1501 Thiệu Quý phi Kỳ Huệ Vương phi Vương thị (岐惠王妃王氏), con gái của Binh mã chỉ huy Vương Tuân (王洵), chết trước Hựu Lâm không lâu Đất phong ở Đức An, chỉ có hai người con gái
Hoàng hậu thương 2 người cháu mồ côi sớm nên đón vào cung
6 Chu Hựu Tân
朱祐槟
Ích Đoan vương
益端王
26 tháng 1, 1479 5 tháng 10, 1539 Trang Ý Đức phi Vương phi Bành thị (王妃彭氏) Đất phong ở Kiến Xương (nay là Phủ Châu, Giang Tây), có 4 trai 2 gái
Vương tính kiệm ước, yêu dân mến sĩ, lại chuộng thi thư, giản tiện, người người đều phục
7 Chu Hựu Huệ
朱祐楎
Hành Cung vương
衡恭王
8 tháng 12, 1479 30 tháng 8, 1538 Trang Ý Đức phi Đất phiên Thanh Châu, con trai là Chu Hậu Hác (朱厚燆) thừa tước
8 Chu Hựu Duẫn
朱祐枟
Ung Tĩnh vương
雍靖王
29 tháng 6, 1481 7 tháng 1, 1507 Thiệu Quý phi Vương phi Ngô thị (王妃吴氏), con gái Cẩm y vệ Ngô Ngọc (吴玉) Đất phiên Hành Châu, không con thừa tự
9 Chu Hựu Thành
朱祐榰
Thọ Định vương
寿定王
2 tháng 12, 1481 1545 Đoan Ý An phi Vương phi Từ thị (王妃徐氏) và Kế phi Ngô thị (继妃吴氏) đều mất trước hoàng tử Đất phiên Bảo Ninh, không con cái
10 Hoàng thập tử 19 tháng 8, 1483 8 tháng 10, 1483 Cung Ý Kính phi Chết khi chưa đầy 1 tuổi
11 Chu Hựu Hằng
朱祐梈
Nhữ An vương
汝安王
13 tháng 10, 1484 1541 Trang Ý Đức phi Đất phiên Vệ Huy, vô thừa tự
12 Chu Hựu Tôn
朱祐橓
Kính Giản vương
泾简王
31 tháng 3, 1485 10 tháng 7, 1537 Vinh Huệ Cung phi Đất phiên Nghi Châu, con trai là Chu Hậu Thuyên? (朱厚烇) thừa tước
13 Chu Hựu Xu
朱祐枢
Vinh Trang vương
荣莊王
22 tháng 1, 1486 16 tháng 2, 1539 Khang Thuận Đoan phi Đất phiên Thường Đức, trưởng tử Chu Hậu Huân (朱厚勳) mất sớm nên đích tôn thừa tước
14 Chu Hựu Giai
朱祐楷
Thân Ý vương
申懿王
3 tháng 2, 1487 20 tháng 8, 1503 Vinh Huệ Cung phi Đất phiên Tự Châu, chết khi còn trẻ

Hoàng nữ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Tước vị Sinh Mất Năm kết hôn Phu quân Mẹ Ghi chú
1 Nhân Hòa Công chúa
仁和公主
1470 1544 1489 Tề Thuế Mỹ (齐世美) Trang Tĩnh Thuận phi Có năm con trai
2 Vĩnh Khang Công chúa
永康公主
1478 1547 1493 Thôi Nguyên (崔元), con trai của Quốc tử giám Giám sinh Thôi Nho (崔儒) Tĩnh Thuận Huệ phi Có 2 trai 2 gái
3 Đức Thanh Công chúa
德清公主
1479 1548 1496 Lâm Nhạc (林岳) không rõ Công chúa hiền lành, rất hiếu thảo với mẹ chồng, cư xử lễ nghĩa
Năm 1518, Lâm Nhạc mất, công chúa ở goá, có hai con trai
4 Hoàng tứ nữ không rõ không rõ không rõ Chết non
5 Trường Thái Công chúa
長泰公主
1478? 1487 không rõ Chết trẻ, táng tại Kim Sơn, Bắc Kinh
6 Tiên Du Công chúa
仙游公主
không rõ 1514 Hòa Huệ Tĩnh phi Mất sớm trước khi xuất giá
Táng tại Kim Sơn, Bắc Kinh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi chú chung: Ngày tháng tại đây được lấy theo lịch Julius. Nó không phải là lịch Gregory đón trước.