Đế quốc Bồ Đào Nha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đế quốc Bồ Đào Nha
1415–1999
Portuguese coat of arms (1481–1910)
Quốc huy
Tổng quan
     thực sự sở hữu      khám phá      khu vực chịu ảnh hưởng và thương mại      lãnh thổ thừa nhận      các trạm giao thương      vùng biển chính được khai phá và khu vực ảnh hưởng.
     thực sự sở hữu
     khám phá
     khu vực chịu ảnh hưởng và thương mại
     lãnh thổ thừa nhận
     các trạm giao thương
     vùng biển chính được khai phá và khu vực ảnh hưởng.
Thủ đôLisboaa
(1415-1809/1801-1999)
Rio de Janeiro
(1808-1821)
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Bồ Đào Nha
Tôn giáo chính
Công giáo Rôma
Chính trị
Chính phủChủ nghĩa thực dân
Vua 
• 1415–1433
João I (đầu tiên)
• 1908–1910
Manuel II (cuối cùng)
Tổng thống 
• 1911–1915
Manuel de Arriaga (đầu tiên)
• 1996–1999
Jorge Sampaio (cuối cùng)
Lịch sử 
1415
• Thành lập
1415
1580–1640
1585–1604
1588–1654
1640–1668
1822
1961
1961–1974
• Disestablished
1999
  1. ^ Thủ đô được đặt de facto tại Rio de Janeiro từ năm 1808 đến năm 1821.
Bản đồ giả về Đế quốc Bồ Đào Nha (1415-1999). Đỏ - thực sự sở hữu; Hồng - khai phá, khu vực ảnh hưởng và thương mại và tuyên bố chủ quyền; Xanh - vùng biển chính được khai phá và khu vực ảnh hưởng. Sự khám phá ra châu Úc đang được tranh cãi nên không hiển thị ở đây.

Đế quốc Bồ Đào Nha là đế quốc ra đời sớm nhất và kéo dài nhất trong lịch sử những đế quốc thực dân Châu Âu, kéo dài gần 6 thế kỉ, bắt đầu từ vụ chiếm Ceuta năm 1415 đến cuộc giao trả Ma Cao cho Trung Quốc Đại Lục năm 1999.

Những nhà thám hiểm Bồ Đào Nha bắt đầu thám hiểm eo biển Châu Phi năm 1419, đặt nền tảng cho sự phát triển của ngành hàng hải, nghiên cứu bản đồ và công nghệ hàng hải (như thuyền buồm), mục đích là để họ có thể tìm được một lộ trình đường biển tới những nguồn giao thương các sản phẩm gia vị. Năm 1488, Bartolomeu Dias đi vòng quanh mũi Hảo Vọng, và tới năm 1498, Vasco da Gama đặt chân tới Ấn Độ. Năm 1500, do một cuộc cập bến tình cờ vào bờ biển Nam Mỹ, vì mục đích bí mật của quốc vương, Pedro Álvares Cabral đã phát hiện và thành lập thuộc địa Brasil. Qua vài thế kỷ sau đó, những thủy thủ Bồ Đào Nha tiếp tục thám hiểm các đảo và eo biển tại Đông Á, họ đã lập nên những công sự và trạm giao thương khi đi qua những nơi đó. Vào năm 1571, một chuỗi các tiền đồn đã kết nối Lisboa với Nagasaki: đế chế này đã thực sự có tầm ảnh hưởng toàn cầu, quá trình đó đã đem về một sự thịnh vượng cho đất nước Bồ Đào Nha.

Giữa giai đoạn 1580 và 1640, Bồ Đào Nha trở thành đối tác bậc dưới với Tây Ban Nha trong liên minh Iberia của quốc vương hai nước. Mặc dù hai đế chế tiếp tục được điều hành riêng biệt, những thuộc địa của Bồ Đào Nha trở thành mục tiêu tấn công của ba đế quốc châu Âu hùng mạnh đồng thời là đối thủ sừng sỏ của Tây Ban Nha là: Hà Lan (tham gia chiến tranh Độc Lập chống Tây Ban Nha), AnhPháp. Vì có dân số nhỏ hơn, Bồ Đào Nha đã không thể bảo vệ hệ thống kết nối những trạm giao thương và các đại lý ở nước ngoài, vì vậy đế chế này bắt đầu dần suy tàn. Việc đánh mất Brasil năm 1822-thuộc địa lớn và thu lợi nhiều nhất của Bồ Đào Nha-vào thời điểm các phong trào Độc lập đang lan tỏa khắp châu Mỹ, là một đòn giáng mạnh vào Bồ Đào Nha và đế chế của nó mà sau đó đã không bao giờ có thể phục hồi được nữa.

Cuộc tranh giành châu Phi bắt đầu cuối thế kỉ 19 đã để lại cho Bồ Đào Nha một ít thuộc địa tại lục địa này. Sau đệ nhị thế chiến, độc tài quân sự cánh tả Bồ Đào Nha là António Salazar đã cố gắng duy trì đê chế Bồ Đào Nha khi mà các quốc gia châu Âu khác đang bắt đầu rút khỏi những thuộc địa của họ. Năm 1961, một lực lượng nhỏ quân Bồ Đào Nha đóng tại Goa đã không thể chặn quân Ấn Độ tiến vào thuộc địa, nhưng Salazar quyết định tiến hành một cuộc chiến dài và đẫm máu nhằm dập tắt các lực lượng chống chủ nghĩa thực dân tại các thuộc địa Phi Châu. Cuộc chiến này kéo dài cho đến tận cuộc lật đổ chế độ cai trị Bồ Đào Nha năm 1974, được biết đến với cái tên cách mạng hoa Cẩm Chướng. Sau cuộc lật đổ, chính quyền mới lập tức thay đổi chính sách và công nhận nền độc lập cho tất cả các thuộc địa, bao gồm Đông Timor, rồi trao trả Ma Cao về Trung Quốc năm 1999, đánh dấu sự chấm hết của đế chế Bồ Đào Nha.

Cộng đồng các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha (CPLP) chính là sự kế thừa về văn hóa của đế chế Bồ Đào Nha.

Nguồn gốc (1139–1415)[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc xâm chiếm Ceuta, 1415, dẫn đầu bởi Henrique Nhà hàng hải, và thứ mấu chốt khởi phát đế quốc Bồ Đào Nha.

Ngọn nguồn của Vương quốc Bồ Đào Nha xuất phát từ reconquista, cuộc tái chiếm từ từ bán đảo Iberia từ Al-Andalus.[1] Sau khi nó được thiết lập như một vương quốc tách biệt vào năm 1139, Bồ Đào Nha đã hoàn thành việc tái chiếm lãnh thổ từ người Moor vào năm 1249, chiếm lại được Algarve. Tuy nhiên, nền độc lập của vương quốc tiếp tục bị đe dọa bởi người láng giềng Castile cho đến tận Hòa ước Ayllón năm 1411.[2]

Giải thoát khỏi các mối đe dọa sự tồn tại của mình và không bị thách thức bởi các cuộc chiến tranh của các nước Châu Âu khác, Bồ Đào Nha hướng sự chú ý về phía biển và việc khai phá quân sự những vùng đất Hồi giáo Bắc Phi.[3] Đã có rất nhiều lý do có thể có để họ thực hiện cuộc tấn công đầu tiên của họ lên vương triều Marinid (Maroc ngày nay). Nó cho họ cơ hội tiếp tục các cuộc thập tự chinh chống lại đạo Hồi; đối với giới quân đội, nó hứa hẹn sự vinh quang trong chiến đấu và chiến lợi phẩm;[4] và đây cũng là một cơ hội để Bồ Đào Nha mở rộng giao thương và giải quyết suy thoái kinh tế.[3]

Năm 1415, một cuộc tấn công được tiến hành lên Ceuta, một lãnh thổ Hồi giáo Bắc Phi chiến lược dọc biển Địa Trung Hải, là một trong các trạm cuối của đường giao thương vàng và nô lệ xuyên Sahara. Cuộc xâm chiếm là một thành công quân sự, và đánh dấu bước đầu sự bành trướng của Bồ Đào Nha ra khỏi bán đảo Iberia,[5] nhưng nó cũng cho thấy tốn kém trong việc bảo vệ khỏi các lực lượng người Hồi giáo đã sớm bao vây nó. Người Bồ Đào Nha đã không thể nào sử dụng được Ceuta như một bàn đạp để tiến sâu vào nội địa,[6] và các đoàn bộ hành xuyên Sahara chỉ đơn thuần chuyển hướng đi của họ khỏi Ceuta hoặc dùng các trạm mậu dịch Hồi giáo khác.[7]

Thời kì đầu (1415–1663)[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Ceuta được xem như là một sự thất vọng của người Bồ Đào Nha, họ lại quyết định tiếp tục giữ nó khi đi khám phá bờ biển Châu Phi phía Đại Tây Dương.[7] Một nhân vật có vai trò quan trọng trong việc ủng hộ quyết định này là ngài Henrique Nhà hàng hải, người đã tham gia vào cuộc xâm chiếm Ceuta, là người đứng đầu trong việc thúc tiến và tài trợ các chuyến thám hiển hàng hải Bồ Đào Nha cho đến tận cái chết của ông ấy vào năm 1460.[8] Thời điểm bấy giờ, người Châu Âu không biết được gì nhiều về Châu Phi xa hơn mũi Bojador. Henrique muốn tìm hiểu xem lãnh thổ Hồi giáo ở Châu Phi trải dài đến tận bao xa, và liệu có khả thi để đến Châu Á bằng đường biển; cả hai là để đạt được nguồn xuất xứ của Con đường gia vị hái ra tiền; và có lẽ là để gia nhập với vương quốc Kitô truyền thuyết của Prester John đang được đồn rằng nằm ở đâu đó tại "Indies".[4][9] Dưới sự tài trợ của ông, những hòn đảo Đại Tây Dương Madeira (1419) và  Azores (1427) đã được vươn đến và bắt đầu sản xuất lúa mì xuất khẩu về Bồ Đào Nha.[10]

Thám hiểm bờ biển Phi Châu thời kì đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sự sợ hãi những gì nằm xa hơn mũi Bojador và liệu sẽ có trở về được hay không một khi đã vượt qua nó, đã được làm dịu đi vào 1434 khi nó được vòng quanh bởi Gil Eanes, một trong những thuyền trưởng của Henrique.[11] Vượt qua được nỗi sợ vô hình này, nó đã trở nên dễ dàng hơn cho việc quan sát dọc bờ biển. Năm 1443, hoàng tử Pedro, anh trai của Henrique và lúc đó là nhiếp chính của vương quốc phong cho ông ấy sự độc quyền hàng hải, chiến tranh và thương mại ở các vùng đất phía nam mũi Bojador. Về sau, sự độc quyền này được ban hành bởi các sắc lệnh giáo hội Dum Diversas (1452) và Romanus Pontifex (1455), cho phép Bồ Đào Nha độc quyền thương mại cho những vùng đất mới được khám phá.[12] Một thuận lợi lớn đã thúc đẩy quá trình này là sự phát minh của thuyền caravel giữa thế kỉ 15, một dạng thuyền có thể đi chịu gió hơn bất kì dạng thuyền nào khác đang được sử dụng ở Châu Âu;[13] các nhà hàng hải Bồ Đào Nha giờ đây dễ dàng trong việc đi đến các vĩ độ về phía nam, với tốc độ một vĩ độ trên một năm.[14] Sénégalbán đảo Cabo Verde đã được đi tới vào năm 1445.[15]

Bản đồ phía Tây Châu Phi bởi Lázaro Luis (1563). Tòa lâu đài lớn ở Tây Phi tượng trưng São Jorge da Mina.

Trạm giao thương đại lí vượt biển đầu tiên đã được thiết lập vào năm 1445 trên hòn đảo Arguim, nằm ngoài khơi Mauritanie để thu hút các nhà buôn Hồi giáo và xây dựng độc quyền làm ăn ở các con đường đã đi đến ở Bắc Phi. Năm 1446, Álvaro Fernandes đẩy xa khám phá đến tận Sierra Leone ngày nay, và Vịnh Guinea được đạt tới những năm 1460.[16] Quần đảo Cabo Verde được phát hiện 1456 và đặt chân đến năm 1462.

Sự phát triển của mía tại Madeira bắt đầu vào năm 1455, sử dụng các cố vấn từ Sicilia và thủ đô Genova để sản xuất "muối ngọt" đang hiếm ở Châu Âu thời ấy. Đã nhen nhóm ở Algarve, khả năng đến được Madeira thu hút các nhà buôn người Genoa và Flemish bỏ qua Veneto. Nô lệ được sử dụng, và số lượng nô lệ nhập khẩu vào lên đến 10% dân số Madeira cho đến cuối thế kỉ 16.[17] Đến năm 1480 Antwerpen đã có khoảng bảy mươi thuyền tiến hành giao dịch trong việc mua bán đường Madeira, với phân phối tập trung chủ yếu ở Antwerpen. Cho tới những năm 1490 thì Madeira đã vượt mặt Síp như là nơi sản xuất đường nhiều nhất.[18] Sự thành công của các hãng buôn đường như Bartolomeu Marchionni đã thúc tiến sự đầu tư trong tương lai.[19]

Năm 1469, sau cái chết của hoàng tử Henrique và do kết quả nghèo nàn của các cuộc thám hiểm Phi Châu, vua Afonso V phong độc quyền thương mại ở phần Vịnh Guinea cho nhà buôn Fernão Gomes.[20] Gomes, người đã phải đi thám hiểm 160 km bờ biển mỗi năm trong năm năm, phát hiện các hòn đảo của Vịnh Guinea, trong đó có São Tomé và Príncipe và tìm ra một giao dịch bồi tích tiền tàng với người bản địa, gặp gỡ các nhà buôn Ả Rập và Berber ở một trạm tên là Elmina (mỏ quặng), nơi mà ông ấy thiết lập một trạm giao thương.[21] Giao dịch thương mại giữa Elmina và Bồ Đào Nha phát triển xuyên suốt trong một thập kỉ. Vào năm 1481, đức vua tại vị João II quyết định xây dựng São Jorge da Mina để nhằm bảo vệ đường mậu dịch này, tuy nhiên đã bị phản đối bởi vì hành động này bị xem là sự lạm quyền hoàng gia. Đường xích đạo được các nhà hàng hải băng qua vào năm 1473, với sự tài trợ của Fernão Gomes và qua khỏi sông Congo bởi Diogo Cão năm 1482. Và cũng trong chuyến thám hiểm này, người Bồ Đào Nha lần đầu tiên chạm trán Vương quốc Kongo, và ngay sau đó đã thiết lập quan hệ quan giao với họ.[22] Trong chuyến thám hiểm 1485–86, Cão tiếp tục đi đến Cape Cross (thuộc Namibia ngày nay) nằm gần chí tuyến Nam.[23]

Năm 1488, Bartolomeu Dias vòng quanh mũi Hảo Vọng ở cực Nam Châu Phi, phản bác được quan điểm sai lầm từ thời Ptolemy rằng Ấn Độ Dương bị khóa trong đất liền. Cùng thời điểm đó, Pêro da Covilhã đã âm thầm di chuyển xuyên lục địa đến Ethiopia, gợi ý rằng một đường biển đến Ấn Độ sẽ sớm xuất hiện.[24]

Với cuộc thám hiểm đường bờ biển của mình ở Châu Phi, người Bồ Đào Nha để lại vô số những giá thập đá padrão, loại thập giái có khắc ghi quốc huy của Bồ Đào Nha được dùng để đánh dấu lãnh thổ,[25] và xây dựng vô số pháo đài và trạm mậu dịch. Từ những cứ địa này, họ sinh lời vào việc buôn bán nô lệ và vàng. Bồ Đào Nha chiếm vị trí độc quyền trong việc buôn nô lệ Phi Châu xuyên biển hơn một thế kỉ, nhập về hơn 800 nô lệ mỗi năm. Đa số nô lệ bị đem về thủ đô của Bồ Đào Nha Lisbon, nơi mà sau này người Phi đen được ước tính chiếm đến 10 phần trăm dân số.[26]

Hiệp ước Tordesillas (1494)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hiệp ước Tordesillas
Hiệp ước Tordesillas xẻ dọc thế giới ra thành hai phần Vương quốc Bồ Đào Nha và ần Castilla (Tây Ban Nha).

Năm 1492, sau khi Christopher Columbus phát hiện cho Tây Ban Nha Tân Thế giới, nơi mà ông tin rằng đó chính là Châu Á, đã dẫn đến tranh chấp giữa Bồ Đào Nha với Tây Ban Nha.[27] Điều này cuối cùng cũng được giải quyết bởi Hiệp ước Tordesillas năm 1494, chia đôi thế giới bên ngoài Châu Âu ra thành một chế độ "song quyền" giữa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha theo đường kinh tuyến dọc từ bắc xuống nam dài 1,560 km, phía tây quần đảo Cape Verde.[28] Tuy nhiên, vào thời điểm đấy lại không có phương thức chuẩn xác nào để phân định kinh tuyến, và cả hai lại tiếp tục tranh chấp lằn ranh này cho đến tận năm 1777.[29]

Việc hoàn tất hiệp ước này với Tây Ban Nha là một trong nhiều lí do được đưa ra bởi các nhà sử học giải thích tại sao người Bồ Đào Nha lại mất đến chín năm mới tiếp nối chuyến thám hiểm của Dias đến Vịnh Hảo Vọng, tuy vậy người ta cũng đã phát hiện rằng một số cuộc thám hiểm bí mật vẫn được tiến hành ngay trong chính khoảng thời gian này.[30][31] Mặc kệ lí do cho việc đó là gì đi nữa, mục tiêu dài hạn của Bồ Đào Nha là tìm ra một đường biển đến Châu Á cuối cùng cũng đã đạt được trong chuyến thám hiểm lịch sử của ngài Vasco da Gama.[32]

Bồ Đào Nha vào Ấn Độ Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Armadas da Índia
Vasco da Gama đặt chân đến Ấn Độ, in 1497

Đoàn thám hiểm của Vasco da Gama rời Bồ Đào Nha năm 1497, vòng quanh mũi cực Nam và tiếp tục đi theo dọc bờ biển Đông Phi, nơi mà một thủy thủ địa phương được đem lên tàu và chỉ đường cho họ xuyên suốt Ấn Độ Dương, đến được Calicut (thủ đô của vương quốc bản địa Zamorin) ở Tây Nam Ấn Độ vào tháng năm 1498.[33] Chuyến du thám thứ hai đến Ấn Độ được tiến hành vào năm 1500 dưới quyền chỉ huy của Pedro Álvares Cabral. Khi đi theo cùng đường biển hướng nam-tây của Gama xuyên qua biển Đại Tây Dương, Cabral lại đặt chân đến bờ biển Brazil ngày nay. Đây có thể là một chuyến khám phá tình cờ của người Bồ Đào Nha, nhưng người ta ngờ vực rằng thật ra họ đã biết được bí mật về sự tồn tại của Brazil, và nó nằm ở phía của họ trên lằn ranh Tordesillas.[34] Cabral đề nghị vua Bồ Đào Nha nên cho định cư ở vùng đất này, và hai cuộc thám hiểm đã được nối tiếp sau đó vào năm 1501 và 1503. Vùng đất được phát hiện có rất nhiều loại cây Caesalpinia echinata, hay còn gọi là "cây Brazil", cái tên mà sau này được dùng để gọi tên phần lãnh thổ này, nhưng lại không tìm thấy bất kì vàng hoặc bạc nào vì thời điểm ấy nguồn lực của Bồ Đào Nha được tập trung vào Ấn Độ.[35] Năm 1502, để áp đặt ưu thế độc quyền của mình lên vùng biển Ấn Độ Dương, Đế quốc Bồ Đào Nha tạo ra hệ thống đăng kí giấy phép cartaz, cho phép các tàu buôn được bảo vệ khỏi hải tặc và các quốc gia so kè.[36]

Những cuộc khám phá và thám hiểm của Bồ Đào Nha: ngày tháng, nơi đặt chân đến đầu tiên; những con đường gia vị chính của Bồ Đào Nha (màu xanh)

Hưởng lợi từ sự ganh đua giữa Vương quốc CochinZamorin xứ Calicut, người Bồ Đào Nha được xem như một đồng minh, khi họ giành được giấy phép để xây pháo đài Emmanuel (Fort Kochi) và một trạm mậu dịch, nơi định cư Châu Âu đầu tiên ở Ấn Độ. Họ xây dựng một trung tâm thương mại tại thành phố Tangasseri, Quilon (Coulão, Kollam) vào năm 1502, nơi mà đã trở thành tụ điểm thương mại về hạt tiêu,[37] và sau đó xây dựng các xí nghiệp ở Cochin (Cochim, Kochi) và Cannanore (Canonor, Kannur), xây một nhà máy tại Quilon năm 1503. Năm 1505 Vua Manuel I của Bồ Đào Nha chọn Francisco de Almeida làm Phó vương của Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha, thành lập chính quyền Bồ Đào Nha ở phía Đông. Năm đó Bồ Đào Nha cũng xâm chiếm được Kannur, nơi mà họ thành lập pháo đài St. Angelo, và Lourenço de Almeida đặt chân đến Sri Lanka để phát hiện ra cây quế. Mặc dù vua Cankili I xứ Jaffna ban đầu chống đối lại sự tiếp xúc với người Bồ Đào Nha, vương quốc Jaffna đã nhanh chóng nhận được sự chú ý từ quan quyền Bồ Đào Nha ngay sau khi họ phản kháng lại các hoạt động truyền giáo, và vì đặc điểm chiến thuật về khoảng cách của nó với cảng Trincomalee. Trong cùng năm đó, Manuel I hạ lệnh Almeida gia cố các thành trì Bồ Đào Nha ở Kerala và phía trong Đông Phi và nghiên cứu khả năng xây dựng thêm pháo đài ở Sri Lanka và Malacca để đối phó sự thù địch đang gia tăng với người Hồi Giáo trong những khu vực này và mối đe dọa từ các vua nô lệ hồi giáo (Mamluk Sultan).

Một hải đoàn Bồ Đào Nha dưới quyền Tristão da Cunha và Afonso de Albuquerque đánh chiếm Soqotra tại cửa ra vào của Biển Đỏ vào 1506 và Muscat vào 1507. Nhận thất bại ê chề từ việc đánh chiếm Ormuz, họ quyết định đổi sang chiến thuật cắt đứt đường buôn bán ra vào từ Ấn Độ Dương. Madagascar được thám hiểm một phần bởi Cunha, và Mauritius được phát hiện bởi chính Cunha và cả Albuquerque theo kèm. Sau khi chiếm được Soqotra, Cunha và Albuquerque tách ra hoạt động riêng lẻ. Trong khi Cunha chu du giữa Ấn Độ và Bồ Đào Nha vì mục đích trao đổi hàng hóa, Alburquerque đến Ấn Độ để thay thế chức thống đốc sau khi nhiệm kì 3 năm của Almeida kết thúc. Almeida từ chối trao trả lại quyền lực cho Alburquerque và nhanh chóng bắt giam lỏng ông ấy, nơi mà ông bị giam cầm cho đến năm 1509.

Tuy được yêu cầu bởi Manuel I phải tiếp tục tìm hiểu ích lợi của vùng Malacca và Sri Lanka, Almeida lại tập trung vào phía tây Ấn Độ, chính xác hơn là vương quốc Gujarat Sultanate bởi vì ông nghi ngờ rằng có các tay buôn từ vùng này có nhiều quyền lực hơn. Vua nô lệ Al-Ashraf Qansuh Al-Ghuri cùng với vua Gujarati tấn công lực lượng Bồ Đào Nha ở cảng Chaul, dẫn đến cái chết của con trai Almeida. Để đáp trả lại, người Bồ Đào Nha đánh và phá hủy các hải đoàn Mamluk và Gujarati trong trận hải chiến Diu năm 1509.

Do sự chống đối từ Almeida, vua Manuel I và hội đồng của ông ở Lisbon đã phải phân phối quyền lực ở Ấn Độ Dương, chia thành 3 khu vực quyền hạn: Alburquerque được gửi đi Biển Đỏ, Diogo Lopes de Sequeira đến Đông Nam Á, tìm kiếm sự đồng thuận với vua hồi giáo của Malacca, và Jotge de Aguiar theo sau là Duarte de Lemos được gửi đến khu vực giữa Mũi Hảo Vọng vàà Gujarat. Tuy nhiên, các khu vực như vậy sau đó đã được tập trung bởi Afonso de Alburquerque sau khi ông nắm quyền và củng cố được sự thống trị của mình.

Trao đổi với Châu Á hải đảo, Châu Phi và Ấn Độ Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Goa, Malacca và Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đến cuối năm 1509, Albuquerque trở thành phó vương của Bồ Đào Nha thuộc Ấn Dộ. Trái ngược với Almeida, Albuquerque quan tâm nhiều hơn đến việc cải thiện sức mạnh của hải quân, và cũng tuân theo lợi ích của chính quốc hơn. Nhiệm vụ đầu tiên của ông là xâm chiếm Goa, nơi có vị trí chiến lược là một pháo đài phòng thủ giữa Kerala và Gurajat và mang tính quan trọng cho việc nhập khẩu ngựa Ả Rập.

Cuộc đánh chiếm Goa từ vương triều Adil Shahi của vùng Bịjapur vào năm 1510 nhanh chóng bị phản kháng bởi người Bijapur, nhưng với sự giúp đỡ của tay cướp biển đánh thuê người Hindu Timoji, ngày 25 tháng 11 năm đó vùng này đã bị tái chiếm. Tại Goa, Alburquerque khởi đầu mỏ đúc tiền Bồ Đào Nha Đầu tiên ở Ấn Độ vào năm 1510. Ông khuyến khích các di dân Bồ Đào Nha kết hôn với phụ nữ bản xứ, xây dựng một nhà thờ dưới danh nghĩa Catherine thành Alexanderia (vì nó được chiếm lại vào ngày lễ thánh của bà), và cố gắng tạo thiện cảm với người Hindu bằng cách bảo vệ đền thờ của họ và miễn giảm thuế. Bồ Đào Nha giữ gìn mối quan hệ thân thiện với các hoàng đế phía nam Ấn Độ của đế quốc Vijayanagara.

Vào tháng 4 năm 1511 Albuquerque du thuyền đến Malacca ở Malaysia, thị trường hương liệu lớn nhất thời bấy giờ. Mặc dù giao dịch được nắm phần lớn bởi Gujurati, các nhóm khác như Thổ Nhĩ Kì, Ba Tư, Armenia, Ethopia cũng mua bán ở đó. Albuquerque nhắm đến Malacca để cản trở ảnh hưởng của người Hồi giáo và người Venice lên giao dịch hương liệu và gia tăng sức mạnh của Lisbon. Đến tháng 7 năm 1511, Albuquerque đã chiếm được Malacca và gửi Antonio de Abreu và Francisco Serrão (cùng với Ferdinand Magellan) đi khám phá địa lý vùng Indonesia.

Bán đảo Malacca mau chóng trở thành căn cứ chiến lược cho việc mở rộng thương mại Bồ Đào Nha với Trung Quốc và Đông Nam Á. Một cánh cổng rộng, gọi là A Fomosa, được dựng lên để bảo vệ thành phố và vẫn còn tồn tại đến nay. Biết được tham vọng của người Xiêm với Malacca, Albuquerque ngay lập tức gửi Duarte Fernandes đi Vương quốc Xiêm (Thái Lan ngày nay), nơi mà ông chính là người Châu Âu đầu tiên xuất hiện, thiết lập mối quan hệ hữu nghị và thương mại giữa hai bên.

Đế quốc Bồ Đào Nha tiến sâu thêm xuống phía nam và tiếp tục phát hiện ra Timor năm 1512. Jorgge de Meneses khám phá ra New Guinea năm 1526, gọi nó là "đảo Papua". Năm 1517, João da Silveira chỉ huy một hải đoàn đến Chittagong, và đến 1528, Bồ Đào Nha đã thiết lập một nơi cư trú ở Chittagong. Bồ Đào Nha đặt trung tâm hoạt động của họ dọc bên bờ sông Hugli, nơi mà họ gặp người Hồi giáo, người Hindu và người Chatin.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 301
  2. ^ Newitt 2005, tr. 15–17
  3. ^ a ă Newitt 2005, tr. 19
  4. ^ a ă Boxer 1969, tr. 19
  5. ^ Abernethy, p. 4
  6. ^ Newitt 2005, tr. 21
  7. ^ a ă Diffie & Winius 1977, tr. 55
  8. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 56: Henry, a product of 15th-century Portugal, was inspired by both religious and economic factors.
  9. ^ Anderson 2000, tr. 50
  10. ^ Coates 2002, tr. 60
  11. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 68
  12. ^ Daus 1983, tr. 33
  13. ^ Boxer 1969, tr. 29
  14. ^ Russell-Wood 1998, tr. 9
  15. ^ Rodriguez 2007, tr. 79
  16. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 469
  17. ^ Godinho, V. M. Os Descobrimentos e a Economia Mundial, Arcádia, 1965, Vol 1 and 2, Lisboa
  18. ^ Ponting 2000, tr. 482
  19. ^ Davis 2006, tr. 84
  20. ^ Bethencourt & Curto 2007, tr. 232
  21. ^ White 2005, tr. 138
  22. ^ Gann & Duignan 1972, tr. 273
  23. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 156
  24. ^ Anderson 2000, tr. 59
  25. ^ Newitt 2005, tr. 47
  26. ^ Anderson 2000, tr. 55
  27. ^ McAlister 1984, tr. 73–75
  28. ^ Bethencourt & Curto 2007, tr. 165
  29. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 174
  30. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 176
  31. ^ Boxer 1969, tr. 36
  32. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 176–185
  33. ^ Scammell, p. 13
  34. ^ McAlister 1984, tr. 75
  35. ^ McAlister 1984, tr. 76
  36. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 274, 320–323
  37. ^ Thangassery, Kollam – Kerala Tourism

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]