Nội chiến Angola

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội chiến Angola
Một phần của the Chiến tranh lạnhchiến tranh biên giới Nam Phi
Angola
Thời gian11 tháng 11 năm 1975 – ngày 4 tháng 4 năm 2002
(26 năm, 4 tháng, 3 tuần và 3 ngày)
Địa điểm
Kết quả

MPLA giành chiến thắng

  • Tất cả các lực lượng nước ngoài rút khỏi Angola vào năm 1989
  • Chuyển hướng tới một hệ thống chính trị đa đảng ở 1991/92
  • Giải thể các lực lượng vũ trang của FNLA
  • Sự tham gia của các đơn vị và FNLA, như đảng chính trị, trong hệ thống chính trị mới, từ 1991-1992 trở đi, nhưng cuộc nội chiến tiếp tục
  • Jonas Savimbi thiệt mạng trong năm 2002
  • Thỏa thuận hòa bình ngay lập tức và giải thể của các lực lượng vũ trang của UNITA năm 2002
  • Kháng cự của FLEC tiếp tục cho đến nay
Tham chiến
Angola MPLA
SWAPO
MK
 Cuba (1975-91)
 East Germany (1975-89)
 Soviet Union (1975-89)[1]
Cộng hòa Nam Phi EO (1992-95)
Moldavia
600 với 50 máy bay (1979–1981)
UNITA
FNLA
FLEC
 South Africa (1975-89)
 Zaire (1975)[9]
Chỉ huy và lãnh đạo
Angola Agostinho Neto (1975-1979)
Angola José Eduardo dos Santos
Angola Lúcio Lara
Cuba Fidel Castro
Cuba Arnaldo Ochoa (1975-1989)
Cuba Leopoldo Cintra
Cộng hòa Dân chủ Đức Erich Honecker
Cộng hòa Dân chủ Đức Heinz Kessler
Liên Xô Mikhail Gorbachev
Liên Xô Vasily Petrov
Sam Nujoma
Jonas Savimbi 
Holden Roberto
Luiz Ranque Franque
Cộng hòa Nam Phi Balthazar Johannes Vorster (1978-1979)
Cộng hòa Nam Phi Marais Viljoen (1979-1984)
Cộng hòa Nam Phi Pieter Willem Botha (1984-1989)
Cộng hòa Nam Phi F. W. de Klerk (1989)
Zaire Mobutu Sese Seko (1975)
Lực lượng

Angola Lực lượng MPLA:

Cuba Quân Cuba:

  • 35,000 – 37,000 (1982)[12]
  • 60,000 (1988)[12]

Cộng hòa Dân chủ Đức Quân Đông Đức:

  • 2,000-4,000 (1985)[14]

Liên Xô Quân Liên Xô:

  • Tổng cộng 11,000 (1975 đến 1991)[15]

Quân UNITA:

  • 65,000 (1990, cao nhất)[16]

Quân FNLA:

  • 22,000 (1975)[17]
  • 4,000 – 7,000 (1976)[18]

Liên hiệp Nam Phi Quân Nam Phi:

  • 20,000 (1976)
Thương vong và tổn thất

Angola Không rõ
Cuba 2,300 người chết (15,000 bị thương)[19]
Cộng hòa Dân chủ Đức Không rõ

Liên Xô 54 thiệt mạng[20]

Không rõ
Không rõ

Liên hiệp Nam Phi 2,038-2,500 chết (Gồm cả Chiến tranh giành độc lập Namibia)[21]
Hơn 500,000 đến 800,000 người thiệt mạng
4 triệu người phải di dời
70,000 người phải hứng chịu những tổn hại do chiến tranh

Nội chiến Angola (tiếng Bồ Đào Nha: Guerra civil angolana) là một cuộc xung đột quân sự lớn ở quốc gia châu Phi Angola, bắt đầu từ năm 1975 và tiếp tục, với một số giai đoạn hòa bình xen kẽ, cho đến năm 2002. Cuộc chiến tranh bắt đầu ngay lập tức sau khi Angola trở thành quốc gia độc lập từ Bồ Đào Nha vào tháng năm 1975. Trước đó, một cuộc xung đột giải phóng thuộc địa, chiến tranh độc lập Angola (1961-1974), đã diễn ra. Cuộc nội chiến sau đó thực chất là một cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa hai phong trào giải phóng dân tộc trước đây gồm Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola và Liên minh Quốc gia vì sự Độc lập Toàn vẹn của Angola. Đồng thời, nội chiến Angola đã đóng vai trò là một chiến trường trong chiến tranh lạnh bởi sự tham gia quốc tế trực tiếp và gián tiếp quy mô lớn của các lực lượng đối lập nhau như Liên Xô, Cuba, Nam PhiHoa Kỳ mang tính chất xung đột lớn[22].

Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola (MPLA) và Liên minh Quốc gia vì sự Độc lập Toàn vẹn của Angola (UNITA) có nguồn gốc khác nhau trong cơ cấu xã hội Angola và lãnh đạo hai bên mâu thuẫn nhau, mặc dù mục tiêu chung của họ kết thúc chế độ thuộc địa. Mặc dù cả hai có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa nhưng mục đích huy động hỗ trợ quốc tế mà họ đặt ra là "chủ nghĩa Mác-Lênin" và "chống cộng", một cách tương ứng[23]. Một phong trào thứ ba, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Angola (FNLA), đã chiến đấu bên cạnh Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola và Liên minh Quốc gia vì sự Độc lập Toàn vẹn của Angola trong cuộc chiến tranh giành độc lập và các cuộc xung đột giải phóng thuộc địa, đã hầu như không có vai trò lớn trong cuộc nội chiến. Ngoài ra còn có Mặt trận Giải phóng của Enclave Cabinda (FLEC), một hiệp hội của các nhóm chiến binh ly khai, chiến đấu cho nền độc lập của tỉnh Cabinda từ Angola.

Cuộc chiến 27 năm có thể được chia thành ba thời kỳ tranh đấu lớn - 1975-1991, 1992-1994, và 1998-2002 - bị phá vỡ bởi các thời kỳ hòa bình mong manh. MPLA cuối cùng đã đạt được chiến thắng trong năm 2002, hơn 500.000 người đã thiệt mạng và hơn một triệu người bị buộc phải di cư trong nội bộ đất nước. Cuộc chiến tranh tàn phá cơ sở hạ tầng của Angola và làm hư hại nghiêm trọng các dịch vụ công của quốc gia, các doanh nghiệp kinh tế, và các tổ chức tôn giáo.

Nội chiến Angola đáng chú ý do sự kết hợp của các động lực nội bộ mang tính bạo lực của các phe phái tại Angola và sự can thiệp của các nước lớn bên ngoài. Cuộc chiến tranh đã trở thành một cuộc đấu tranh giữa phe cộng sản và phe chống cộng trong Chiến tranh Lạnh, khi cả Liên Xô và Hoa Kỳ, cùng với các đồng minh của mình, cung cấp viện trợ quân sự đáng kể cho các bên trong cuộc xung đột. Hơn nữa, các cuộc xung đột tại Angola gắn liền với Chiến tranh Congo lần thứ hai tại Cộng hòa Dân chủ láng giềng Congo, cũng như với các cuộc chiến tại Namibia.

Sơ lược về các phe tham chiến[sửa | sửa mã nguồn]

MPLA[sửa | sửa mã nguồn]

Bài viết chi tiết: MPLA

MPLA là 1 trong những nhóm quân nổi dậy chính trong cuộc chiến tranh giành độc lập Angola. MPLA bao gồm người Ambundu và giới tri thức đa chủng tộc của các thành phố như Luanda, BenguelaHuambo. Họ cũng là 1 trong số các nhóm lực lượng vũ trang được Liên Xô, các nước khối Đông ÂuCuba ủng hộ trong cuộc chiến giành độc lập khỏi thực dân Bồ Đào Nha. Đặc biệt Cuba còn được coi là đồng minh quan trọng nhất với họ suốt từ cuộc chiến giải phóng đất nước đến nội chiến.

FNLA[sửa | sửa mã nguồn]

Bài viết chi tiết: FNLA

FNLA cũng là 1 nhóm khác trong cuộc chiến tranh giành độc lập Angola, được tách ra từ UNITA và tồn tại song song với MPLA cho đến nay. FNLA được hỗ trợ bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hỗ trợ trong một thời gian ngắn; nhưng viện trợ nhanh chóng bị rút lại, vì UNITA là phong trào mà Trung Quốc chủ yếu ủng hộ trong Chiến tranh giành độc lập Angola. Thay vào đó, FNLA đã được hỗ trợ bởi Hoa Kỳ trong cuộc nội chiến.

UNITA[sửa | sửa mã nguồn]

Bài viết chi tiết: UNITA

Người Ovimbundu là dân tộc chính ở miền trung Angola, chiếm khoảng một phần ba dân số cả nước, nhưng tổ chức này cũng có nguồn gốc từ một số dân tộc ít người ở miền đông Angola. UNITA được thành lập vào năm 1966 bởi Jonas Savimbi. Trong cuộc chiến chống thực dân, UNITA đã nhận được một số hỗ trợ từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Với sự bùng nổ của cuộc nội chiến, Hoa Kỳ quyết định hỗ trợ UNITA và tăng cường đáng kể viện trợ của họ cho UNITA trong những thập kỷ sau đó. Tuy nhiên, trong giai đoạn sau, đồng minh chính của UNITA là chế độ phân biệt chủng tộc của Nam Phi.

Nguyên nhân nội chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Chia rẽ sắc tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Do sự khác biệt về sắc tộc giữa MPLA, FNLA và UNITA mà đã dẫn đến xung đột sắc tộc xảy ra và cuối cùng dẫn đến nội chiến. MPLA có lực lượng chính đến từ người Ambundu trong khi đó FNLA và UNITA lại có lực lượng chính chiếm đa số là Người Ovimbundu.

Xây dựng quân đội và căng thẳng[sửa | sửa mã nguồn]

Cả 3 tổ chức đều có lực lượng vũ trang cho riêng mình nhằm chống lại lực lượng Bồ Đào Nha thuộc địa. Giao tranh chỉ kết thúc khi mà chính quyền độc tài Bồ Đào Nha bị lật đổ trong cách mạng, dẫn đến cuộc chạy trốn của người Bồ Đào Nha ở đất nước này trong khi họ là 1 trong những thành phần quan trọng nhất của quốc gia non trẻ này. Sau khi chính quyền quân sự bị lật đổ và Bồ Đào Nha rút quân mà không hề giám sát tình trạng quốc gia sau đó.

Điều này đã gây ra bất hòa giữa các phe và cuối cùng đã đến nội chiến và sự can thiệp quân sự vào Angola của Cuba và Nam Phi

Giai đoạn giao tranh[sửa | sửa mã nguồn]

1975

  • Quân đội Nam Phi triển khai chiến dich Savannah chống lại lực lượng Cuba ủng hộ MPLA ở Angola.

15 tháng 1 năm 1975

  • Hiệp định Alvor được ký kết bởi các bên tham gia vào cuộc xung đột

Tháng 7 năm 1975

  •  FNLA bị MPLA buộc rời khỏi Luanda, trong khi UNITA tự nguyện rút về phía nam Angola nơi đặt trụ sở. Đến tháng 8, MPLA kiểm soát 11 trong số 15 thủ phủ của tỉnh.

5 tháng 8 năm 1975   

  • Quân đội Nam Phi tấn công miền nam Angola bằng xe bọc thép và pháo binh, càn quét về phía thủ đô Luanda.

23 tháng 10 năm 1975   

  • Nam Phi triển khai quân đội đóng tại Namibia để hỗ trợ FNLA và UNITA.
  • Zaire gửi xe bọc thép, lính dù và tiểu đoàn bộ binh hỗ trợ FNLA với động cơ đảm bảo một chính phủ thân Kinshasa.
  • Sự hỗ trợ lớn của các lực lượng Cuba đứng về phía MPLA đã ngăn chặn sự thất thủ của Luanda 

23 tháng 11 năm 1975

  • FNLA và UNITA tuyên bố một chính phủ liên minh có trụ sở tại Huambo, với Holden RobertoJonas Savimbi là đồng chủ tịch.

Năm 1976

  • Cuba hỗ trợ đánh lui các lực lượng quân sự Nam Phi-UNITA, chiếm Huambo và đẩy lùi FNLA về Zaire.

Tháng 3 năm 1976

  • Nam Phi rút lui do không nhận được sự ủng hộ mà Hoa Kỳ đã hứa.
  • UNITA và FNLA rút về vùng nông thôn nơi họ phát động các chiến dịch chống lại MPLA.

1977

  • MPLA đẩy lùi một nỗ lực đảo chính do một trong những nhà lãnh đạo Angola và sau đó tự thiết lập vững chắc một chính quyền theo chủ nghĩa Mác-Lênin.

Năm 1979     

  • Bế tắc diễn ra khi UNITA không thể đẩy lùi MPLA từ các thủ phủ của tỉnh và MPLA nhận thấy mình không thể đè bẹp được phe đối lập của mình.
  • Cái chết của lãnh đạo MPLA Agostinho Neto dẫn đến việc Jose Eduardo dos Santos lên nắm quyền

12 tháng 5 năm 1980     

  • Quân đội Nam Phi xâm nhập tỉnh Cunene. Chính phủ Angola đổ lỗi cho Nam Phi về thương vong dân sự tại khu vực này. 

21 tháng 5 năm 1980  

  • SADF tấn công Cuando-Cubango và MPLA đã đe dọa hành động quân sự của Nam Phi sẽ bị đáp trả.

7 tháng 6 năm 1980

  • SADF tiến hành một cuộc xâm lược Cunene và Cuando-Cubango.    

Năm 1982  

  • Nam Phi bắt đầu một loạt các cuộc đàm phán bí mật với MPLA về việc rút quân của Nam Phi và Tây Nam Phi.  

1984

  • Các cuộc đàm phán bí mật được thực hiện dưới hình thức là Hiệp ước Lusaka.

1986 

  • Hỗ trợ cho UNITA được gia tăng mạnh mẽ nhờ hỗ trợ quân sự từ Hoa Kỳ.
  • Sự ủng hộ đối với MPLA cũng được Liên Xô, Cuba và các quốc gia thuộc Khối phương Đông khác tăng cường.

1987  

  • Nam Phi tái tham gia cuộc đấu tranh ủng hộ UNITA và xâm lược miền nam Angola, nhưng thất bại trong nỗ lực chiếm Cuito Cuanavale.
  • Các cuộc đàm phán với Liên Xô, Mỹ và Bồ Đào Nha dẫn đến việc quân đội Nam Phi và Cuba có điều kiện rút khỏi Angola.

1988

  • Trận Cuito Cuanavale diễn ra.

1989

  • Dos Santos và Savimbi đồng ý ngừng bắn.
  • Lệnh ngừng bắn sụp đổ ngay sau đó và các hoạt động du kích tiếp tục.

31 tháng 5 năm 1991

  • Angola tổ chức cuộc bầu cử tự do và công bằng đầu tiên. Savimbi (UNITA), người nhận được ít phiếu bầu hơn Dos Santos (MPLA), đã bác bỏ kết quả của cuộc bầu cử, cáo buộc MPLA gian lận bầu cử và quyết định tiếp tục chiến tranh du kích.

29 tháng 9 năm 1992

  • UNITA bị LHQ xử phạt, và Hoa Kỳ chính thức thừa nhận chính phủ Angola của MPLA.

1993  

  • Một hiệp định hòa bình được ký kết tại Lisbon bởi Dos Santos và Savimbi, dẫn đến hiến pháp đa đảng được ban hành.   

26 tháng 9 năm 1993  

  • Hoa Kỳ ban hành Lệnh Hành pháp 12865.
  • Liên hợp quốc đã nghiêm cấm mọi hình thức viện trợ của Hoa Kỳ cho Angola ngoại trừ thông qua các điểm nhập cảnh đã được chỉ định và cấm cung cấp viện trợ và vũ khí cho UNITA.

1994  

  • Chính phủ MPLA và UNITA ký hiệp định hòa bình theo Nghị định Lusaka tại Zambia.

Tháng 1 năm 1995  

  • MPLA, FNLA và UNITA đồng ý thành lập một chính phủ chuyển tiếp chung. Tuy nhiên, trên thực tế, cuộc đấu đá tranh giành quyền lực giữa 3 phe vẫn tiếp tục.

1995    

  • Những người gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc đến Angola để đảm bảo một chính phủ chuyển tiếp hòa bình.

1996

  • Dos Santos và Savimbi đồng ý thành lập một chính phủ đoàn kết và hợp nhất quân đội thành một quân đội quốc gia.

Tháng 4 năm 1997     

  • Savimbi từ chối vị trí của mình trong chính phủ đoàn kết và không tham dự lễ nhậm chức.

Tháng 2 năm 2002    

  • Sau cái chết của Jonas Svimbi dưới bàn tay của chính phủ Angola, UNITA và MPLA đã ký một thỏa thuận ngừng bắn.  

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc nội chiến kéo dài trong hơn 26 năm đã giết chết từ 500,000-800,000 người và gây thiệt hại cho kinh tế Angola. Tuy nhiên, bạo lực tại Angola vẫn chưa kết thúc mà vẫn tồn tại đến nay.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “AfricanCrisis”. AfricanCrisis. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013.
  2. ^ W. Martin James III (2011).
  3. ^ Nzongola-Ntalaja, Georges; Wallerstein, Immanuel Maurice (1986). The Crisis in Zaire. tr. 193–194.
  4. ^ 앙골라 내전: 지식백과 (bằng tiếng Hàn). Terms.naver.com. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2014.
  5. ^ David A. Granger. “Forbes Burnham and the Liberation of Southern Africa” (PDF). Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2015.
  6. ^ a b c d Vines, Alex (1999). Angola Unravels: The Rise and Fall of the Lusaka Peace Process. Human Rights Watch, pp. 103–104.
  7. ^ a b For the three movements see Franz-Wilhelm Heimer, The Decolonization Conflict in Angola, 1974–76: An essay in political sociology, Geneva: Institut Universitaire de Hautes Études Internationales, 1979
  8. ^ a b Vines (1999), p. 106.
  9. ^ Perez de Cuellar C. Pilgrimage for Peace: A Secretary-General's Memoir pp. 325–326
  10. ^ a b Never Ending Wars, 2005, p. 24.
  11. ^ Saul David (2009). War. Google Books. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2013.
  12. ^ a b c "La Guerras Secretas de Fidel Castro" (in Spanish). CubaMatinal.com. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2013.
  13. ^ Africa South of Sahara 2004, p. 66.
  14. ^ [1][liên kết hỏng]
  15. ^ Andrei Mikhailov (ngày 15 tháng 2 năm 2011). “Soviet Union and Russia lost 25,000 military men in foreign countries”. English pravda.ru. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013.
  16. ^ Irving Louis Horowitz (1995). Cuban Communism, 8th Edition. Google Books. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2013.
  17. ^ Angola - Independence Struggle, Civil War, and Intervention. MongaBay.com.
  18. ^ Khủng bố chính trị: a new guide to actors, concepts, data bases, theories and literature.
  19. ^ Bush Wars: The Road to Cuito Cuanavale. Books.google.com. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013.
  20. ^ 15.02.2011 (ngày 15 tháng 2 năm 2011). “Soviet Union and Russia lost 25,000 military men in foreign countries - English Pravda”. English.pravda.ru. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013.Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  21. ^ https://sites.google.com/site/sabushwarsite/interesting
  22. ^ “Angola General Conflict Information”. Uppsala Conflict Data Program. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013.
  23. ^ The MPLA adopted the label "Marxist-Leninist" in 1977, but at the same time eliminated by way of a massacre its wing that wanted it to become communist; the label was then given up again in 1991. UNITA adopted anti-communist rhetoric for reasons of convenience, and also gave it up in 1991.

https://www.sahistory.org.za/article/angolan-civil-war-1975-2002-timeline-events