Vương quốc Macedonia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Macedonia
Μακεδονία

808–168 TCN
150–148 TCN

 

 

 


Vergina Sun

Vương quốc Macedonia vào năm 336 TCN (cam)
Thủ đô Aigai (Vergina)[1]
(808–399 TCN)
Pella[2]
(399–168 TCN)
Ngôn ngữ Macedonia,
Attic, Koine
Tôn giáo Đa thần giáo Hy Lạp, Tôn giáo Hy Lạp hóa
Chính quyền Quân chủ
Vua
 •  808–778 TCN Karanos (đầu tiên)
 •  179–168 TCN Perseus (cuối cùng)
Lập pháp Synedrion
Giai đoạn lịch sử Cổ đại Hy-La
 •  Sáng lập bởi Karanos 808 TCN
 •  Chư hầu của Ba Tư[3] 512/511–493 TCN
 •  Xáp nhập vào đế quốc Ba Tư[3] 492–479 TCN
 •  Sự trỗi dậy của Macedon 359–336 TCN
 •  Thành lập Liên Minh Hy Lạp 338 TCN-337 TCN
 •  Chinh phục Ba Tư 335–323 TCN
 •  Trận Pydna 168 TCN
Tiền tệ Tetradrachm

Macedonia ( /ˌmæsɪˈdniə/) hoặc Macedon ( /ˈmæsɪˌdɒn/; tiếng Hy Lạp: Μακεδονία, Makedonía), là một vương quốc cổ đại nằm ở ngoài rìa thời kỳ Hy Lạp Cổ xưaHy Lạp Cổ điển,[4] và sau này trở thành quốc gia bá chủ ở Hy Lạp thời kỳ Hy Lạp hóa.[5] Vương quốc được thành lập và ban đầu được cai trị bởi triều đại Argead, tiếp theo sau đó là nhà AntipatrosAntigonos. Vốn là quê nhà của người Macedonia cổ đại, vương quốc ban đầu nằm tập trung ở khu vực tây bắc của bán đảo Hy Lạp,[6] có biên giới với Epirus về phía Tây, Paeonia về phía nam, Thrace về phía đông và Thessaly về phía Nam.

Trước thế kỷ thứ 4 TCN, Macedonia là một vương quốc nhỏ nằm bên ngoài khu vực bị thống trị bởi các thành bang hùng mạnh là Athens, Sparta, và Thebes, và lệ thuộc nhà Achaemenes trong một thời gian ngắn.[3] Dưới triều đại của vị vua nhà Argead là Philip II (359–336 TCN), Macedonia chinh phục khu vực đại lục Hy LạpThrace thông qua chinh phạt và ngoại giao. Cùng với một đạo quân được cách tân bao gồm đội hình phalanx sử dụng những ngọn giáo sarissa, Philippos II đã đánh bại các thế lực cũ là AthensThebes trong Trận Chaeronea vào năm 338 TCN. Người con trai của Philippos II, Alexandros Đại đế, lãnh đạo một liên minh các thành bang Hy Lạp, đã hoàn thành mục tiêu chỉ huy toàn bộ thế giới Hy Lạp của cha mình khi ông hủy diệt Thebes sau khi thành phố này nổi loạn. Trong chiến dịch chinh phạt tiếp theo sau đó của mình, Alexandros đã lật đổ đế quốc Achaemenes và chinh phục vùng lãnh thổ kéo dài tới tận sông Ấn. Trong một thời gian ngắn, đế quốc của ông là vương quốc hùng mạnh nhất thế giới – một vương quốc Hy Lạp hóa hoàn toàn, mở đầu sự chuyển tiếp tới một thời kỳ mới của nền Văn minh Hy Lạp cổ đại. Nghệ thuật Hy Lạpvăn học phát triển rực rỡ ở những vùng đất mới bị chinh phục và những tiến bộ trong triết học, kỹ thuật, và khoa học được truyền bá tới khắp mọi nơi trong thế giới cổ đại. Đặc biệt quan trọng là những đóng góp của Aristotle, người thầy của Alexandros, các tác phẩm của ông đã trở thành nguyên tắc cơ bản của triết học Phương Tây.

Sau cái chết của Alexandros Đại đế vào năm 323 TCN, kế tiếp là các cuộc chiến tranh Diadochi, và sự phân chia đế quốc tồn tại ngắn ngủi của Alexandros, Macedonia vẫn là một trung tâm chính trị và văn hóa của người Hy Lạp ở khu vực Địa Trung Hải cùng với triều đại Ptolemaios, đế quốc Seleukos, và vương quốc Pergamon. Những thành phố quan trọng như Pella, Pydna, và Amphipolis đã tham gia vào các cuộc chiến tranh giành quyền lực để kiếm soát vùng lãnh thổ này. Những thành phố mới được thành lập, như là Thessalonica bởi Cassander (được đặt tên theo tên người vợ của ông ta là Thessalonike của Macedon).[7] Sự suy yếu của Macedonia bắt đầu với các cuộc chiến tranh Macedoniasự trỗi dậy của Rome với tư cách là cường quốc số một ở Địa Trung Hải. Khi cuộc chiến tranh Macedoni lần thứ Ba kết thúc vào năm 168 TCN, chế độ quân chủ của Macedonia bị bãi bỏ và được thay thế bằng các chư hầu của La Mã. Một giai đoạn ngắn phục hồi của chế độ quân chủ trong cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ Tư vào năm 150–148  TCN kết thúc bằng việc thiết lập tỉnh La Mã Macedonia.

Các vị vua Macedonia, người nắm giữ quyền lực tuyệt đối và sở hữu các nguồn tài nguyên của quốc gia như là vàng và bạc, thúc đẩy các hoạt động khai thác mỏ để đúc tiền, trả lương cho quân đội của họ và dưới triều đại của Philippos II, một hạm đội Macedonia. Không giống như các quốc gia diadochi kế tục, sự thờ cúng hoàng đế được ấp ủ bởi Alexandros chưa bao giờ được chấp nhận ở Macedonia, tuy nhiên các vị vua Macedonia vẫn đảm nhận vai trò như là các tư tế tối cao của vương quốc và là người bảo trợ hàng đầu cho các giáo phái trong nước và ngoại quốc thuộc về tôn giáo thời kỳ Hy Lạp hóa. Quyền lực của các vị vua Macedonia trên lý thuyết được giới hạn bởi thể chế của quân đội, trong khi đó một vài cộng đồng nằm bên trong liên bang Macedonia đã có được một quyền tự trị ở mức độ cao và thậm chí là có các chính quyền dân chủ với hội đồng nhân dân.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Macedonia (tiếng Hy Lạp: Μακεδονία, Makedonía) xuất phát từ tên dân tộc Μακεδόνες (Makedónes), mà bản thân nó lại có nguồn gốc từ tính từ μακεδνός (makednós) trong tiếng Hy Lạp cổ đại, nghĩa là "cao", có thể dùng để mô tả dân tộc này.[8] Nó có cùng gốc như tính từ μακρός (makros), nghĩa là "dài" hoặc "cao" trong tiếng Hy Lạp cổ đại.[8] Tên gọi này ban đầu được cho là có nghĩa hoặc là "người vùng cao nguyên", "người cao", hoặc "người to cao".[note 1] Nhà ngôn ngữ học Robert S. P. Beekes tuyên bố rằng cả hai thuật ngữ trên đều có nguồn gốc từ cơ sở ngôn ngữ tiền-Hy Lạp và không thể giải thích theo thuật ngữ hình thái học của ngôn ngữ Ấn-Âu.[9]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kì đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Lối vào một trong những ngôi mộ hoàng gia ở Vergina, một Di sản thế giới của UNESCO

Các sử gia Hy Lạp cổ đại HerodotosThucydides thuật lại truyền thuyết rằng các vị vua Macedonia thuộc triều đại Argead là hậu duệ của Temenos, vua của Argos, và do đó có thể tuyên bố rằng Heracles là một trong những vị tổ tiên của họ cũng như là một hậu duệ trực tiếp từ Zeus, vị thần đứng đầu hệ thống các vị thần của người Hy Lạp.[10] Các truyền thuyết trái ngược thì lại nói rằng hoặc là Perdiccas I của Macedon hoặc Karanos của Macedon là người đã sáng lập nên triều đại Argead, cùng với đó là 5 hoặc 8 vị vua trước Amyntas I.[11]Sự khẳng định rằng nhà Argead có nguồn gốc từ Temenos đã được chấp nhận bởi các giám khảo Hellanodikai của Thế vận hội Olympic cổ đại, cho phép Alexander I của Macedon tham gia vào các cuộc tranh tài.[12] Ít điều được biết đến về vương quốc trước triều đại của cha Alexandros I là Amyntas I của Macedon trong giai đoạn Archaic.[13]

Vương quốc Macedonia nằm dọc theo sông HaliacmonAxiusHạ Macedonia, phía bắc của núi Olympus. Sử gia Robert Malcolm Errington cho rằng một trong số những vị vua nhà Argead đầu tiên đã chọn Aigai (ngày nay là Vergina) làm kinh đô của họ vào giữa thế kỷ thứ 7  TCN.[14] Trước thế kỷ thứ 4 TCN, vương quốc này bao phủ một khu vực tương ứng với phần phía Tâymiền trung của vùng đất Macedonia thuộc Hy Lạp ngày nay.[15] Nó dần dần mở rộng sang khu vực Thượng Macedonia, được định cư bởi những bộ lạc Hy Lạp là người LyncestaeElimiotae , và đến các vùng đất Emathia, Eordaia, Bottiaea, Mygdonia, Crestonia, và Almopia, vốn được định cư bởi nhiều bộ lạc khác nhau như là người ThracePhrygia.[note 2] Những người hàng xóm không phải người Hy Lạp của người Macedonia bao gồm người Thrace, sinh sống ở những vùng đất phía đông bắc, người Illyria về phía Tây Bắc, và người Paeonia về phía bắc, trong khi vùng đất Thessaly về phía Nam và Epirus về phía Tây được định cư bởi người Hy Lạp với những nét tương đồng về văn hóa với của người Macedonia.[16]

Một đồng octadrachm bằng bạc thuộc về Alexander I của Macedon (Bản mẫu:Reign), đúc k. 465–460 TCN, cho thấy hình ảnh một Kỵ sĩ mặc một chlamys (áo choàng ngắn) và petasos (mũ đội đầu) trong khi đang giữ hai ngọn giáo và dẫn một con ngựa
"Những người Ionia cùng với chiếc mũ hình khiên" (Chữ viết hình nêm Ba Tư cổ đại: 𐎹𐎢𐎴𐎠𐏐𐎫𐎣𐎲𐎼𐎠, Yaunā takabarā)[17] được mô tả trên ngôi mộ của Xerxes I tại Naqsh-e Rustam, có thể là các chiến binh Macedonia phục vụ trong quân đội nhà Achaemenes, đội những kausia đặc trưng của họ, khoảng năm 480 TCN.[18]

Một năm sau khi Darius I của Ba Tư (522-486 TCN) phát động một cuộc xâm lược vào châu Âu nhằm chống lại người Scythia, người Paeonia, người Thrace, và một vài thành bang Hy Lạp ở khu vực Balkan, vị tướng người Ba Tư Megabazus đã sử dụng ngoại giao để thuyết phục Amyntas I quy phục như là một chư hầu của đế quốc Achaemenes, mở ra thời kỳ Macedonia thuộc Achaemenes.[note 3] Bá quyền của nhà Achaemenes đối với Macedonia đã bị gián đoạn trong một thời gian ngắn bởi cuộc nổi dậy của người Ionia (499–493 TCN), dẫu vậy vị tướng Ba Tư Mardonius đã đưa nó quay trở lại nằm dưới quyền bá chủ của nhà Achaemenes.[19]

Mặc dù Macedonia được hưởng một mức độ tự trị rộng rãi và chưa bao giờ bị biến trở thành một satrap (tức một tỉnh) của đế quốc Achaemenes, nó được cho là đã cung cấp binh lính cho quân đội nhà Achaemenes.[20] Alexander I đã hỗ trợ về mặt quân sự cho Xerxes I (486-465 TCN) trong cuộc xâm lược Hy Lạp lần thứ hai của Ba Tư vào năm 480–479 TCN, và những binh sĩ người Macedonia đã chiến đấu ở bên phía người Ba Tư tại Trận Platea vào năm 479 TCN.[21] Sau chiến thắng của người Hy Lạp tại Salamis vào năm 480 TCN, Alexander I đã đóng vai trò là một đại sứ của nhà Achaemenes để đề xuất một hiệp ước hòa bình và liên minh với người Athens, đề nghị này đã bị từ chối.[22] Ngay sau đó, quân đội của nhà Achaemenes đã buộc phải triệt thoái khỏi khu vực lục địa châu Âu, đánh dấu sự chấm dứt quyền kiểm soát của người Ba Tư đối với Macedonia.[23]

Sự dính líu với văn minh Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Macedon (cam) trong cuộc chiến tranh Peloponnesos vào khoảng năm 431 TCN, với Athensliên minh Delos (vàng), Spartaliên minh Peloponnesos (đỏ), các quốc gia độc lập (xanh), và đế quốc Achaemenes Ba Tư(tím)

Mặc dù ban đầu là một chư hầu của Ba Tư, Alexander I của Macedon đã xây dựng những mối quan hệ ngoại giao thân thiện với các kẻ thù Hy Lạp trước đây của ông, người Athen và Sparta-lãnh đạo liên minh các thành bang Hy Lạp.[24] Người kế vị của ông ta, Perdiccas II (454-413 TCN) đã lãnh đạo người Macedonian tham gia vào bốn cuộc chiến tranh khác nhau chống lại Athens, lãnh đạo liên minh Delos, cùng lúc đó lại bị xâm lược bởi vị vua người Thrace Sitalces của vương quốc Odrysia, đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ của Macedonia ở phía đông bắc.[25]Chính trị gia người Athen, Pericles đã thúc đẩy quá trình thuộc địa hóa khu vực sông Strymon gần vương quốc Macedonia, tại đây thành phố thuộc địa Amphipolis đã được thành lập vào năm 437/436 TCN để nó có thể cung cấp cho Athens một nguồn cung vàng và bạc ổn định cũng như là gỗdầu hắc ín để cung cấp cho hải quân Athen.[26]Ban đầu Perdiccas II đã không có bất cứ hành động nào và có thể đã chào đón người Athen, vì người Thrace là kẻ thù chung của họ.[27] Điều này đã thay đổi khi người Athen thiết lập liên minh với một người em trai và em họ của Perdiccas II, những người đã nổi loạn chống lại ông.[27] Do đó, hai cuộc chiến tranh riêng biệt chống lại người Athens đã nổ ra trong khoảng thời gian từ năm 433 tới năm 431 TCN.[27]Vị vua Macedonia trả đũa bằng cách kích động cuộc nổi loạn của các đồng minh Athens ở Chalcidice và tiếp sau đó giành được sự ủng hộ từ thành phố có vị trí chiến lược là Potidaea.[28] Sau khi chiếm được các thành phố của người Macedonia là ThermaBeroea, Athens vây hãm Potidaea nhưng thất bại trong việc chiếm nó; Therma đã được trao trả lại cho Macedonia và phần lớn khu vực Chalcidice trở về tay của người Athens trong một hiệp ước hòa bình được trung gian bởi Sitalces, ông ta đã trợ giúp về quân sự cho người Athens đổi lại là có được các đồng minh Thrace mới.[29]

Perdiccas II đã đứng về phía Sparta trong cuộc chiến trang Peloponnesos (431–404 TCN) giữa Athens và Sparta, và vào năm 429 TCN Athens đã trả đũa bằng cách thuyết phục Sitalces xâm lược Macedonia, nhưng ông ta đã phải rút lui do không có đủ quân lương vào mùa đông.[30] Vào năm 424 TCN, Arrhabaeos, một vị vua địa phương ở Lynkestis thuộc Thượng Macedonia, đã nổi loạn chống lại Perdiccas, và người Sparta đã đồng ý giúp đỡ ông để dập tắt cuộc nổi loạn.[31] Tại Trận Lyncestis người Macedonia đã hoảng sợ và bỏ chạy trước khi cuộc chiến bắt đầu, khiến cho vị tướng Sparta là Brasidas nổi giận, binh sĩ của ông ta đã cướp bóc đoàn xe chở quân nhu vô chủ của người Macedonia.[32] Perdiccas sau đó đổi phe và ủng hộ người Athens, và ông đã có thể dập tắt cuộc nổi loạn của Arrhabaeos.[33]

Một đồng didrachm của Macedonia được đúc dưới triều đại của Archelaos I của Macedon (413-399 TCN)

Brasidas qua đời vào năm 422 TCN, cùng năm này Athens và Sparta đã đạt được một hiệp ước, hiệp ước Hòa bình của Nicias, mà giải thoát Macedonia khỏi nghĩa vụ như là một đồng minh của Athen của mình.[34]Sau trận Mantinea vào năm 418 TCN, những người Sparta chiến thắng đã thiết lập một liên minh với Argos, một hiệp ước quân sự mà Perdiccas II đã nhiệt tình tham gia vì mối đe dọa của các đồng minh Sparta còn lại ở Chalcidice.[35] Khi Argos đột nhiên đổi phe với tư cách là một nền dân chủ thân Athen, hạm đội Athen đã có thể thiết lập một cuộc phong tỏa chống lại các hải cảng của Macedon và xâm lược Chalcidice vào năm 417 TCN.[36] Perdiccas II cầu hòa vào năm 414 TCN, ông ta thiết lập một liên minh với Athens mà đã được tiếp tục bởi con trai và người kế vị của ông là Archelaos I (413-399 TCN).[37] Athens sau đó đã hỗ trợ về mặt hải quân cho Archelaos I trong cuộc vây hãm Pydna của người Macedonia vào năm 410 TCN, đổi lại bằng gỗ và các trang bị cho hải quân.[38]

Dẫu cho Archelaos I đã phải đối mặt với một số cuộc nổi loạn và phải chống lại một cuộc xâm lược của người Illyria dưới sự lãnh đạo bởi Sirras của Lynkestis, ông ta đã có thể mở rộng ảnh hưởng của Macedonia vào Thessaly bằng việc gửi hỗ trợ về mặt quân sự cho các đồng minh của mình.[39]Mặc dù ông vẫn giữ lại Aigai là một trung tâm về tôn giáo và nghi lễ, Archelaos I đã dời kinh đô của vương quốc về Pella, mà sau này được xác định vị trí bởi một hồ nước và một con sông nối nó với biển Aegea.[40] Ông đã nâng cao chất lượng đồng tiền của Macedonia bằng cách đúc những đồng tiền xu với một hàm lượng bạc cao hơn cũng như ban hành loại tiền xu bằng đồng riêng biệt.[41] Triều đình hoàng gia của ông đã thu hút sự có mặt của những học giả nổi tiếng như là nhà soạn kịch người Athen Euripides.[42]Khi Archelaos I bị ám sát, vương quốc rơi vào sự hỗn loạn, trong một giai đoạn kéo dài từ năm 399 tới năm 393 TCN mà gồm triều đại của bốn vị vua khác nhau: Orestes, con trai của Archelaos I; Aeropos II,người chú, nhiếp chính, và là người đã sát hại Orestes; Pausanias, con trai của Aeropos II; và Amyntas II, ông ta đã cưới người con gái út của Archelaos I.[43] Chúng ta biết rất ít về thời kỳ hỗn loạn này; nó kết thúc khi Amyntas III (393-370 TCN), con trai của Arrhidaeos và cháu nội của Amyntas I, giết chết Pausanias và giành lấy ngai vàng của Macedonia.[44]

Một đồng stater bạc thuộc về Amyntas III của Macedon (393-370 TCN)

Amyntas III đã buộc phải bỏ trốn khỏi vương quốc của mình vào năm 393 hoặc 383 TCN (dựa theo các nguồn khác nhau), do một cuộc xâm lược ồ ạt của bộ tộc Dardani người Illyria dưới sự lãnh đạo của Bardylis.[note 4]Kẻ tiếm vị Argaeos đã cai trị khi ông vắng mặt, nhưng cuối cùng Amyntas III đã quay trở về vương quốc của mình với sự trợ giúp từ các đồng minh Thessaly[45] Amyntas III cũng suýt chút nữa bị lật đổ bởi quân đội của thành phố Olynthos ở Chalcidice, nhưng với sự trợ giúp từ Teleutias, em trai của vị vua Sparta Agesilaos II, người Macedonia đã buộc Olynthos phải đầu hàng và giải tán liên minh Chalcidice của họ vào năm 379 TCN.[46]

Alexandros II (370-368 TCN), con trai của Eurydice I và Amyntas III, đã kế vị cha của mình và ngay lập tức xâm lược Thessaly để gây chiến chống lại tagus (lãnh đạo quân sự tối cao của người Thessaly) Alexandros của Pherae, chiếm được thành phố Larissa.[47] Người Thessaly, không muốn cả Alexandros II lẫn Alexandros của Pherae cai trị họ, đã kêu gọi sự trợ giúp từ Pelopidas của Thebes; ông ta đã thành công trong việc chiếm lại Larissa và tiếp nhận các con tin thuộc tầng lớp quý tộc bao gồm người em trai của Alexandros II và cũng là vị vua tương lai Philippos II (359–336 TCN) theo hiệp định hòa bình được thu xếp với Macedonia .[48] Khi Alexandros bị ám sát bởi người anh rể Ptolemaios của Aloros, người sau đó đóng vai trò như là một nhiếp chính độc đoán cho Perdiccas III (368-359 TCN), em trai của Alexandros II, ông ta cuối cùng đã xử tử Ptolemaios khi đạt đến tuổi trưởng thành vào năm 365 TCN.[49] Khoảng thời gian còn lại của triều đại Perdiccas III được đánh dấu bởi sự ổn định về chính trị và sự hồi phục kinh tế.[50] Tuy nhiên, một cuộc xâm lược của người Athen dưới sự lãnh đạo của Timotheus, con trai của Conon, đã thành công trong việc chiếm được Methone và Pydna, và một cuộc xâm lược của người Illyria dưới sự lãnh đạo của Bardylis đã khiến cho Perdiccas III cùng với 4,000 binh sĩ Macedonia bỏ mạng trên chiến trường.[51]

Sự trỗi dậy của Macedonia[sửa | sửa mã nguồn]

trái, một bức tượng bán thân thuộc về Philippos II của Macedon (359-336 TCN) từ Thời kỳ Hy Lạp hóa, nằm tại Ny Carlsberg Glyptotek. Phải, một bức tượng bán thân khác của Philip II, một bản sao La Mã có niên đại thế kỷ thứ 1 SCN của tác phẩm gốc, ngày nay nằm tại bảo tàng Vatican.
Bản đồ của vương quốc Macedon tại thời điểm Philip II qua đời vào năm 336 TCN (xanh nhạt), với lãnh thổ ban đầu tồn tại từ năm 431 TCN (đường màu đỏ), và các quốc gia phụ thuộc (vàng)

Philippos II lên ngôi vua khi ông mới 24 tuổi vào năm 359 TCN.[52] Bằng biện pháp ngoại giao khéo léo, ông đã có thể thuyết phục người Thrace dưới sự cai trị của Berisades ngừng ủng hộ cho Pausanias, một kẻ tranh giành ngai vàng, và đối với người Athen là ngừng sự ủng hộ cho một kẻ tiếm vị khác.[53] Ông đã thực hiện được những việc này bằng cách hối lộ người Thrace và đồng minh người Paeonia của họ và thiết lập một hiệp ước với Athens mà trong đó từ bỏ yêu sách của ông đối với Amphipolis.[54] Ông cũng đã có thể giảng hòa với người Illyria mà đã đe dọa biên giới của ông.[55]

Philippos II đã dành hoàn toàn những năm đầu tiên của mình để thay đổi quân đội Macedonia. Một sự cải cách về tổ chức, trang bị, và huấn luyện của nó, bao gồm cả việc giới thiệu đội hình phalanx Macedonia được trang bị với những cây giáo dài (tức là sarissa), mà đã chứng tỏ sự thành công ngay lập tức khi được thử nghiệm chống lại các kẻ thù người Illyria và Paeonia của ông.[56] Những ghi chép lẫn lộn trong các nguồn cổ đại đã dẫn tới việc các học giả ngày nay tranh cãi về việc những vị tiên vương của Philippos II đã đóng góp đáng kể như thế nào cho những cải cách này và sự phát triển của những ý tưởng của ông đã chịu sự ảnh hưởng từ những năm tháng tuổi trẻ khi đang bị giam cầm ở Thebes như là một con tin chính trị trong thời kỳ quyền bá chủ của Thebes, đặc biệt là sau cuộc gặp với vị tướng Epaminondas.[57]

Người Macedonia, giống như những người Hy Lạp khác, thực hiện chế độ một vợ một chồng theo truyền thống, nhưng Philippos II thực hiện chế độ đa thê và cưới 7 người vợ với chỉ duy nhất một người mà không có liên quan tới sự trung thành của các quý tộc thần dân của ông hoặc là các đồng minh mới.[note 5] Cuộc hôn nhân đầu tiên của ông là với Phila của Elimeia thuộc tầng lớp quý tộc ở Thượng Macedonia cũng như là công chúa người Illyria Audata để đảm bảo một liên minh hôn nhân.[58] Để thiết lập liên minh với Larissa ở Thessaly, ông đã kết hôn với một nữ quý tộc người Thessaly tên là Philinna vào năm 358 TCN, bà đã sinh cho ông một người con trai là Philippos III Arrhidaeos (323-317 TCN).[59] Vào năm 357 TCN, ông đã kết hôn với Olympias để đảm bảo một liên minh với Arybbas, Vua của Epirusngười Molossia. Cuộc hôn nhân này sẽ sinh ra một người con trai mà sẽ cai trị với tên gọi là Alexandros III (được biết đến nhiều hơn với tên gọi là Alexandros Đại đế) và tuyên bố là hậu duệ của Achilles huyền thoại thông qua huyết thống triều đại của mình từ Epirus.[60] Chúng ta không rõ liệu rằng các vị vua của nhà Achaemenes Ba Tư có ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ đa thê của Philippos II hay không, mặc dù vậy vị tiên vương Amyntas III của ông đã có ba người con trai với một người vợ hai có thể tên là Gygaea: Archelauos, Arrhidaeos, và Menelaos.[61] Philippos II đã xử tử Archelaos vào năm 359 TCN, trong khi hai người em cùng cha khác mẹ với Philippos II bỏ chạy tới Olynthos, điều này sẽ đóng vai trò như là một casus belli cho cuộc chiến tranh Olynthos (349–348 TCN) chống lại liên minh Chalcidice của ông ta.[62]

Trong khi Athens đang bận rộn với cuộc Chiến tranh Đồng Minh (357–355 TCN), Philippos II đã tái chiếm lại Amphipolis từ tay họ vào năm 357 TCN và trong năm tiếp theo là Pydna và Potidaea, thành phố này đã được ông trao lại cho liên minh Chalcidice như đã hứa trong một hiệp ước.[63] Vào năm 356 TCN, ông đã chiếm Crenides, tái thành lập nó lại với tên gọi là Philippi, trong khi vị tướng Parmenion của ông đánh bại vị vua Illyria tên là Grabos của người Grabaei.[64] Trong cuộc vây hãm Methone vào năm 355–354 TCN, Philippos II mất mắt phải của mình từ một vết thương do tên bắn, nhưng ông đã thành công trong việc chiếm thành phố và đối xử với cư dân của nó một cách thân mật, không giống với người Potidaea, đã bị bắt làm nô lệ.[note 6]

Philippos II và Macedonia sau đó đã tham gia vào Cuộc chiến tranh Thần Thánh (356–346 TCN). Nó bắt đầu khi Phocis chiếm giữ và cướp phá ngôi đền thờ Apollo tại Delphi thay vì nộp các khoản tiền phạt phải trả, điều này khiến cho Đại nghị liên minh tuyên chiến với Phocis và một cuộc nội chiến đã nổ ra giữa các thành viên của liên minh Thessaly hoặc là đứng về phía Phocis hoặc Thebes.[65] Chiến dịch ban đầu của Philippos II là chống lại Pherae ở Thessaly vào năm 353 TCN theo lời yêu cầu của Larissa đã kết thúc bằng hai thất bại tai hại trước vị tướng người Phocis là Onomarchos.[note 7] Philippos II sau đó đánh bại Onomarchos vào năm 352 TCN tại Trận cánh đồng Crocus, điều này đã dẫn đến việc Philippos II được bầu làm nhà lãnh đạo (archon) của liên minh Thessaly, cho phép ông có được một ghế trong hội đồng Đại nghị liên minh, và còn cho phép một cuộc hôn nhân liên minh với Pherae thông qua việc cưới Nicesipolis, cháu gái vị bạo chúa Jason của Pherae.[66]

Sau chiến dịch chống lại vị vua người Thrace Cersobleptes, vào năm 349 TCN, Philippos II đã bắt đầu cuộc chiến tranh chống lại liên minh Chalcidice, mà đã được tái lập vào năm 375 TCN sau một thời gian bị giải tán.[67] Bất chấp sự can thiệp của người Athen dưới quyền Charidemos,[68] Olynthos đã bị Philippos II chiếm vào năm 348 TCN, và cư dân của nó đa bán làm nô lệ, bao gồm cả một số công dân Athen.[69] Người Athen, đặc biệt là bằng một loạt bài diễn văn của Demosthenes mà được biết đến với tên gọi là Olynthiacs, đã không thành công trong việc thuyết phục các đồng minh của họ phản công và vào năm 346 TCN, họ đã ký kết một hiệp ước hòa bình với Macedonia được biết đến với tên gọi Nền hòa bình của Philocrates.[70] Hiệp ước này quy định rằng Athens sẽ từ bỏ yêu sách đối với các vùng lãnh thổ ven biển của Macedonia, khu vực Chalcidice, và Amphipolis đổi lại bằng việc giải phóng những người Athen bị bắt làm nô lệ cũng như đảm bảo rằng Philippos II sẽ không tấn công các khu định cư của người Athen ở khu vực Thracian Chersonese.[71] Trong khi đó, Phocis và Thermopylae đã bị quân đội Macedonia chiếm đóng, và những người đã cướp bóc ngôi đền Delphi bị xử tử, Philippos II đã được trao tặng hai ghế của người Phocis trong hội đồng Đại Nghị liên minh và vị trí người chủ trì toàn bộ thế vận hội Pythia.[72] Athens ban đầu phản đối quyền thành viên của ông trong hội đồng và từ chối tham dự thế vận hội để phản đối, nhưng cuối cùng họ đã chấp nhận những điều này, có lẽ sau sự thuyết phục đáng kể của Demosthenes trong bài diễn thuyết Về Hòa bình của ông ta.[73]

Trái, một Niketerion (huy chương chiến thắng) mang hình ảnh nổi của vua Philippos II của Macedon, thế kỷ thứ 3  SCN, có thể được đúc dưới triều đại của hoàng đế La Mã Alexander Severus. Phải, tàn tích của ngôi đền Philippeion tại Olympia, Hy Lạp, được xây dựng bởi Philippos II của Macedon để kỷ niệm chiến thắng của ông tại Trận Chaeronea vào năm 338 TCN.[74]

Trong vòng vài năm tiếp theo, Philippos II đã cải tổ lại chính quyền địa phương ở Thessaly, tiến hành chiến dịch chống lại vị vua Illyria là Pleuratos I, lật đổ Arybbas ở Epirus để ủng hộ người anh rể Alexandros I (thông qua cuộc hôn nhân của Philippos II với Olympias), và đánh bại Cersebleptes ở Thrace. Điều này cho phép ông mở rộng quyền kiểm soát của người Macedonia đối với Hellespont trong dự định về một cuộc xâm lược nhằm vào khu vực Anatolia của nhà Achaemenes sau này.[75]Vào năm 342 TCN, Philippos II đã chinh phục một thành phố Thrace ở khu vực ngày nay là Bulgaria và đổi tên nó là Philippopolis (ngày nay là Plovdiv).[76] Chiến tranh đã nổ ra với Athens vào năm 340 TCN trong lúc Philippos II đang tham gia vào hai cuộc vây hãm không thành công cuối cùng đối với PerinthusByzantion, tiếp theo sau đó là một chiến dịch thành công chống lại người Scythia dọc theo sông Danube và sự tham gia của Macedonia vào cuộc Chiến tranh Thần Thánh lần thứ Tư chống lại Amphissa vào năm 339 TCN.[77] Thebes đã đánh đuổi một đơn vị đồn trú người Macedonia khỏi Nicaea (gần Thermopylae), điều này dã dẫn đến việc Thebes gia nhập với Athens, Megara, Corinth, Achaea, và Euboea trong một cuộc đối đầu cuối cùng chống lại Macedonia tại Trận Chaeronea vào năm 338 TCN.[78] Sau chiến thắng của người Macedonia tại đó, Philippos II đã thiết lập một chế độ đầu xỏ ở Thebes, nhưng vẫn khoan dung đối với Athens, với hy vọng sử dụng hải quân của họ trong một kế hoạch xâm lược nhằm vào đế quốc Achaemenes.[79] Sau đó ông chịu trách nhiệm chính cho việc thành lập liên minh Corinth mà bao gồm các thành bang Hy Lạp chủ chốt ngoại trừ Sparta. Bất chấp việc vương quốc Macedonia không có mặt chính thức trong liên minh này, vào năm 337 TCN, Philippos II đã được bầu làm nhà lãnh đạo (hegemon) hội đồng của nó (synedrion) và tổng tư lệnh (strategos autokrator) của chiến dịch sắp tới nhằm xâm lược đế quốc Achaemenes.[80] Kế hoạch của Philippos là để trừng phạt người Ba Tư vì sự đau khổ gây ra cho người Hy Lạp và để giải phóng các thành bang Hy Lạp ở Tiểu Á[81] cũng có thể là nỗi sợ hãi của toàn Hy Lạp về một cuộc xâm lược Hy Lạp khác của người Ba Tư, đã góp phần vào quyết định xâm lược đế quốc Achaemenes của ông.[82] Người Ba Tư đã trợ giúp cho Perinthus và Byzantion vào năm 341–340 TCN, chiến lược của Macedonia nêu rõ là cần chiếm được Thrace và khu vực biển Aegea chống lại sự xâm lấn ngày càng tăng của nhà Achaemenes, khi mà vị vua Ba Tư Artaxerxes III tiến hành củng cố thêm sự kiểm soát của mình đối với các tổng trấn ở miền Tây Anatolia.[83] Khu vực này, mang tới sự giàu có và nhiều nguồn tài nguyên giá trị hơn khu vực Balkans, nó cũng được vị vua của Macedonia khao khát vì tiềm năng kinh tế vô hạn của nó.[84]

Khi Philippos II cưới Cleopatra Eurydice, cháu gái của vị tướng Attalos, và nói về việc sinh ra những người kế vị tiềm năng mới tại bữa tiệc cưới, điều này đã khiến cho người con trai của Philippos II là Alexandros, một người từng tham gia trận Chaeronea, và mẹ của ông ta là Olympias nổi giận.[85] Họ đã cùng bỏ về Epirus trước khi Alexandros được triệu về Pella bởi Philippos II.[85] Khi Philip II sắp xếp một cuộc hôn nhân giữa người con trai của ông là Arrhidaeos với Ada của Caria, con gái của Pixodarus, vị tổng trấn Ba Tư của Caria, Alexandros đã can thiệp và đề nghị cưới Ada thay thế. Philippos II sau đó đã hủy bỏ hoàn toàn đám cưới và lưu đày các cố vấn của Alexandros là Ptolemaios, Nearchos, và Harpalos.[86] Để hòa giải với Olympias, Philippos II đã gả con gái của họ là Cleopatra cho người em trai của Olympias (và là chú của Cleopatra) Alexandros I của Epirus, nhưng Philippos II đã bị ám sát bởi cận vệ của mình, Pausanias của Orestis, trong bữa tiệc đám cưới của họ và được kế vị bởi Alexandros vào năm 336 TCN.[87]

Đế chế[sửa | sửa mã nguồn]

Trái, Tượng bán thân của Alexandros Đại đế của nhà điêu khắc Athen Leochares, 330 TCN, bảo tàng Acropolis, Athens. Phải, Tượng bán thân của Alexandros Đại đế, một phiên bản La Mã thuộc kỷ nguyên đế quốc (thế kỷ 1 hoặc 2 SCN) của bức tượng đồng gốc được tạo ra bởi nhà điêu khắc Hy Lạp Lysippos, Louvre, Paris.
Đế quốc của Alexandros và lộ trình của ông

Các học giả ngày nay đã tranh luận về vai trò có thể của Alexandros III "Đại đế" và người mẹ của ông là Olympias trong vụ ám sát Philippos II, lưu ý từ lựa chọn của Philippos trong việc loại bỏ Alexandros khỏi kế hoạch xâm chiếm châu Á của ông ta, thay vào đó lựa chọn ông giữ vai trò là nhiếp chính của Hy Lạp và phó hegemon của Liên minh Corinth, và tiềm năng của việc sinh ra một người kế vị nam khác giữa Philippos II và người vợ mới của ông ta, Cleopatra Eurydice.[note 8] Alexandros III (336-323 TCN) đã lập tức được tuyên bố làm vua vởi một hội đồng của quân đội và các quý tộc hàng đầu, đứng đầu trong số họ là Antipater và Parmenion.[88] Vào thời điểm kết thúc triều đại và sự nghiệp quân sự của mình vào năm 323 TCN, Alexandros sẽ cai trị một đế quốc bao gồm khu vực lục địa Hy Lạp, Tiểu Á, Cận Đông, Ai Cập cổ đại, Mesopotamia, Persia, và phần lớn khu vực TrungNam Á (tức khu vực Pakistan ngày nay).[89]Một trong những việc làm đầu tiên của ông đó là chôn cất cha của mình tại Aigai.[90] Các thành viên của liên minh Corinth đã nổi dậy khi nghe tin về cái chết của Philippos II, nhưng sớm bị dẹp yên bằng vũ lực bên cạnh việc ngoại giao thuyết phục, đã bầu chọn Alexandros là hegemon của liên minh để thực hiện kế hoạch xâm lược Ba Tư.[91]

Vào năm 335 TCN, Alexandros đã tiến đánh bộ lạc người Thrace Triballi ở khu vực dãy núi Haemus và dọc theo sông Danube, buộc họ phải đầu hàng trên đảo Peuce.[92] Ngay sau đó, vị vua người Illyria Cleitos của người Dardani đã đe dọa tấn công Macedonia, nhưng Alexandros đã nắm thế chủ động và vây hãm người Dardani tại Pelion (ngày nay thuộc Albania).[93]

Kỉ nguyên Hy lạp hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm:Triều đại Antipatros

Antipater và con trai ông Cassander đã giành quyền kiểm soát Macedonia, nhưng nó đã rơi vào một cuộc nội chiến trong suốt một thời gian dài sau cái chết của Cassander năm 297 TCN. Nó đã nằm dưới sự cai trị của Demetrios I (294-288 BC) trong một thời gian nhưng lại dính vào cuộc nội chiến.

Con trai của Demetrios, Antigonus II (277-239 BC), đã đánh bại một cuộc xâm lược của người Galatia, và giành lại vị trí của gia đình tại Macedonia, ông đã thành công khôi phục trật tự và thịnh vượng ở đó, mặc dù ông bị mất quyền kiểm soát nhiều thành phố Hy Lạp. Ông thành lập một chế độ quân chủ ổn định dưới triều đại Antigonos. Antigonos III (239-221 TCN) đã nắm lại quyền kiểm soát bằng cách tái lập lại quyền lực của Macedonia trên toàn khu vực.

Chiến tranh với Rome[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: chiến tranh Macedonia

Dưới thời Philippos V của Macedonia (221-179 TCN) và con trai ông Perseus của Macedonia (179-168 TCN), vương quốc đụng độ với thế lực đang lên là Cộng hoà La Mã. Trong thế kỷ thứ 2 và 1 trước Công nguyên, Macedonia đã tham gia một loạt các cuộc chiến tranh với Rome. Hai thất bại nặng nề nhất dẫn đến sự kết thúc của vương quốc là vào năm 197 TCN khi La Mã đánh bại Philippos V, và năm 168 TCN khi La Mã đánh bại Perseus. Thất bại toàn diện này dẫn đến kết thúc của Macedonia, sự biến mất triều đại Antigonid và sự tan rã vương quốc Macedonia. Andriscos thành công trong một thời gian ngắn khi tái lập chế độ quân chủ năm 149 trước Công nguyên nhưng đã nhanh chóng thất bại vào năm sau và La Mã tổ chức cai trị trực tiếp và biến Macedonia thành tỉnh Macedonia của La Mã.

Thể chế[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức chính trị của vương quốc Macedonia là một kim tự tháp ba cấp độ: trên đỉnh, nhà vua và nhà nước, ở chân, là các tổ chức dân sự (các thành phố và éthnē), và giữa là các quận, huyện.

Vua[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà vua (Βασιλεύς, Basileús) đứng đầu chính quyền trung ương: ông ta lãnh đạo đất nước từ thủ đô của mình, Pella. Ông đã được giúp đỡ trong việc tiến hành công việc của mình bởi các thư ký Hoàng gia (βασιλικὸς γραμματεύς, basilikós grammateús) bởi Hội đồng. Danh hiệu "vua" (basileús) có thể đã không chính thức được sử dụng bởi các nhiếp chính của Macedonia cho đến thời Alexandros Đại đế

Nhà vua chỉ huy của quân đội, là người đứng đầu tôn giáo Macedonia, và là người quyết định các vấn đề ngoại giao. Ngoài ra, ông ta là người duy nhất có thể quyết định các hòa ước, và cho đến thời Philippos V, đúc tiền xu.

Số lượng bầy tôi đã được hạn chế: vua cai trị vương quốc của mình chủ yếu là một cách gián tiếp, hỗ trợ ông chủ yếu thông qua các quan tòa địa phương, các epistates, những người mà ông liên tục giữ liên lạc.

Kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Kế vị ngai vàng ở Macedon theo chế độ cha truyền, nam, patrilineal và nói chung là tôn trọng nguyên tắc do thế tập.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Engels 2010, tr. 89; Borza 1995, tr. 114; Eugene N. Borza writes that the "highlanders" or "Makedones" of the mountainous regions of western Macedonia are derived from northwest Greek stock; they were akin both to those who at an earlier time may have migrated south to become the historical "Dorians".
  2. ^ Lewis & Boardman 1994, tr. 723–724, see also Hatzopoulos 1996, tr. 105–108 for the Macedonian expulsion of original inhabitants such as the Phrygians.
  3. ^ Olbrycht 2010, tr. 342–343; Sprawski 2010, tr. 131, 134; Errington 1990, tr. 8–9.
    Errington is skeptical that at this point Amyntas I of Macedon offered any submission as a vassal at all, at most a token one. He also mentions how the Macedonian king pursued his own course of action, such as inviting the exiled Athenian tyrant Hippias to take refuge at Anthemous in 506 BC.
  4. ^ Roisman 2010, tr. 158–159; see also Errington 1990, tr. 30 for further details; the Greek historian Diodorus Siculus provided a seemingly conflicting account about Illyrian invasions occurring in 393 BC and 383 BC, which may have been representative of a single invasion led by Bardylis of the Dardani.
  5. ^ Müller 2010, tr. 169–170, 179.
    Müller is skeptical about the claims of Plutarch and Athenaeus that Philip II of Macedon married Cleopatra Eurydice of Macedon, a younger woman, purely out of love or due to his own midlife crisis. Cleopatra was the daughter of the general Attalus, who along with his father-in-law Parmenion were given command posts in Asia Minor (modern Turkey) soon after this wedding. Müller also suspects that this marriage was one of political convenience meant to ensure the loyalty of an influential Macedonian noble house.
  6. ^ Müller 2010, tr. 171–172; Buckler 1989, tr. 63, 176–181; Cawkwell 1978, tr. 185–187.
    Cawkwell contrarily provides the date of this siege as 354–353 BC.
  7. ^ Müller 2010, tr. 172–173; Cawkwell 1978, tr. 60, 185; Hornblower 2002, tr. 272; Buckler 1989, tr. 63–64, 176–181.
    Conversely, Buckler provides the date of this initial campaign as 354 BC, while affirming that the second Thessalian campaign ending in the Battle of Crocus Field occurred in 353 BC.
  8. ^ Gilley & Worthington 2010, tr. 189–190; Müller 2010, tr. 183.
    Without implicating Alexander III of Macedon as a potential suspect in the plot to assassinate Philip II of Macedon, N. G. L. Hammond and F. W. Walbank discuss possible Macedonian as well as foreign suspects, such as Demosthenes and Darius III: Hammond & Walbank 2001, tr. 8–12.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hatzopoulos 1996, tr. 105–106; Roisman 2010, tr. 156.
  2. ^ Engels 2010, tr. 92; Roisman 2010, tr. 156.
  3. ^ a ă â Sprawski 2010, tr. 135–138; Olbrycht 2010, tr. 342–345.
  4. ^ Hornblower 2008, tr. 55–58.
  5. ^ Austin 2006, tr. 1–4.
  6. ^ “Macedonia”. Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica Online. 23 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017. .
  7. ^ Adams 2010, tr. 215.
  8. ^ a ă Liddell and Scott 1940.
  9. ^ Beekes 2010, tr. 894.
  10. ^ King 2010, tr. 376; Sprawski 2010, tr. 127; Errington 1990, tr. 2–3.
  11. ^ King 2010, tr. 376; Errington 1990, tr. 3, 251.
  12. ^ Badian 1982, tr. 34; Sprawski 2010, tr. 142.
  13. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên king 2010 376
  14. ^ Errington 1990, tr. 2.
  15. ^ Thomas 2010, tr. 67–68, 74–78.
  16. ^ Anson 2010, tr. 5–6.
  17. ^ Darius I, DNa inscription, Line 29
  18. ^ Adams 2010, tr. 343–344
  19. ^ Olbrycht 2010, tr. 344; Sprawski 2010, tr. 135–137; Errington 1990, tr. 9–10.
  20. ^ Olbrycht 2010, tr. 343–344; Sprawski 2010, tr. 137; Errington 1990, tr. 10.
  21. ^ King 2010, tr. 376; Olbrycht 2010, tr. 344–345; Sprawski 2010, tr. 138–139.
  22. ^ Sprawski 2010, tr. 139–140.
  23. ^ Olbrycht 2010, tr. 345; Sprawski 2010, tr. 139–141; see also Errington 1990, tr. 11–12 for further details.
  24. ^ Sprawski 2010, tr. 141–143; Errington 1990, tr. 9, 11–12.
  25. ^ Roisman 2010, tr. 145–147.
  26. ^ Roisman 2010, tr. 146–147; Müller 2010, tr. 171; Cawkwell 1978, tr. 72; see also Errington 1990, tr. 13–14 for further details.
  27. ^ a ă â Roisman 2010, tr. 146–147.
  28. ^ Roisman 2010, tr. 146–147; see also Errington 1990, tr. 18 for further details.
  29. ^ Roisman 2010, tr. 147–148; Errington 1990, tr. 19–20.
  30. ^ Roisman 2010, tr. 149–150; Errington 1990, tr. 20.
  31. ^ Roisman 2010, tr. 150–152; Errington 1990, tr. 21–22.
  32. ^ Roisman 2010, tr. 152; Errington 1990, tr. 22.
  33. ^ Roisman 2010, tr. 152–153; Errington 1990, tr. 22–23.
  34. ^ Roisman 2010, tr. 153; Errington 1990, tr. 22–23.
  35. ^ Roisman 2010, tr. 153–154; see also Errington 1990, tr. 23 for further details.
  36. ^ Roisman 2010, tr. 154; see also Errington 1990, tr. 23 for further details.
  37. ^ Roisman 2010, tr. 154; Errington 1990, tr. 23–24.
  38. ^ Roisman 2010, tr. 154–155; Errington 1990, tr. 24.
  39. ^ Roisman 2010, tr. 155–156.
  40. ^ Roisman 2010, tr. 156; Errington 1990, tr. 26.
  41. ^ Roisman 2010, tr. 156–157.
  42. ^ Roisman 2010, tr. 156–157; Errington 1990, tr. 26.
  43. ^ Roisman 2010, tr. 157–158; Errington 1990, tr. 28–29.
  44. ^ Roisman 2010, tr. 158; Errington 1990, tr. 28–29.
  45. ^ Roisman 2010, tr. 159; see also Errington 1990, tr. 30 for further details.
  46. ^ Roisman 2010, tr. 159–160; Errington 1990, tr. 32–33.
  47. ^ Roisman 2010, tr. 161; Errington 1990, tr. 34–35.
  48. ^ Roisman 2010, tr. 161–162; Errington 1990, tr. 35–36.
  49. ^ Roisman 2010, tr. 162–163; Errington 1990, tr. 36.
  50. ^ Roisman 2010, tr. 162–163.
  51. ^ Roisman 2010, tr. 163–164; Errington 1990, tr. 37.
  52. ^ Müller 2010, tr. 166–167; Buckley 1996, tr. 467–472.
  53. ^ Müller 2010, tr. 167–168; Buckley 1996, tr. 467–472.
  54. ^ Müller 2010, tr. 167–168; Buckley 1996, tr. 467–472; Errington 1990, tr. 38.
  55. ^ Müller 2010, tr. 167.
  56. ^ Müller 2010, tr. 168.
  57. ^ Müller 2010, tr. 168–169.
  58. ^ Müller 2010, tr. 169.
  59. ^ Müller 2010, tr. 170; Buckler 1989, tr. 62.
  60. ^ Müller 2010, tr. 170–171; Gilley & Worthington 2010, tr. 187.
  61. ^ Müller 2010, tr. 167, 169; Roisman 2010, tr. 161.
  62. ^ Müller 2010, tr. 169, 173–174; Cawkwell 1978, tr. 84; Errington 1990, tr. 38–39.
  63. ^ Müller 2010, tr. 171; Buckley 1996, tr. 470–472; Cawkwell 1978, tr. 74–75.
  64. ^ Müller 2010, tr. 172; Hornblower 2002, tr. 272; Cawkwell 1978, tr. 42; Buckley 1996, tr. 470–472.
  65. ^ Müller 2010, tr. 171–172; Buckler 1989, tr. 8, 20–22, 26–29.
  66. ^ Müller 2010, tr. 173; Cawkwell 1978, tr. 62, 66–68; Buckler 1989, tr. 74–75, 78–80; Worthington 2008, tr. 61–63.
  67. ^ Müller 2010, tr. 173; Cawkwell 1978, tr. 44; Schwahn 1931, col. 1193–1194.
  68. ^ Cawkwell 1978, tr. 86.
  69. ^ Müller 2010, tr. 173–174; Cawkwell 1978, tr. 85–86; Buckley 1996, tr. 474–475.
  70. ^ Müller 2010, tr. 173–174; Worthington 2008, tr. 75–78; Cawkwell 1978, tr. 96–98.
  71. ^ Müller 2010, tr. 174; Cawkwell 1978, tr. 98–101.
  72. ^ Müller 2010, tr. 174–175; Cawkwell 1978, tr. 95, 104, 107–108; Hornblower 2002, tr. 275–277; Buckley 1996, tr. 478–479.
  73. ^ Müller 2010, tr. 175.
  74. ^ Errington 1990, tr. 227.
  75. ^ Müller 2010, tr. 175–176; Cawkwell 1978, tr. 114–117; Hornblower 2002, tr. 277; Buckley 1996, tr. 482; Errington 1990, tr. 44.
  76. ^ Mollov & Georgiev 2015, tr. 76.
  77. ^ Müller 2010, tr. 176; Cawkwell 1978, tr. 136–142; Errington 1990, tr. 82–83.
  78. ^ Müller 2010, tr. 176–177; Cawkwell 1978, tr. 143–148.
  79. ^ Müller 2010, tr. 177; Cawkwell 1978, tr. 167–168.
  80. ^ Müller 2010, tr. 177–179; Cawkwell 1978, tr. 167–171; see also Hammond & Walbank 2001, tr. 16 for further details.
  81. ^ Davis Hanson, Victor (2010). Makers of Ancient Strategy: From the Persian Wars to the Fall of Rome. Princeton University Press. tr. 119. ISBN 0691137900. Afterwards he [Alexander] revived his father's League of Corinth, and with it his plan for a pan-Hellenic invasion of Asia to punish the Persians for the suffering of the Greeks, especially the Athenians, in the Greco-Persian Wars and to liberate the Greek cities of Asia Minor. 
  82. ^ Olbrycht 2010, tr. 348, 351
  83. ^ Olbrycht 2010, tr. 347–349
  84. ^ Olbrycht 2010, tr. 351
  85. ^ a ă Müller 2010, tr. 179–180; Cawkwell 1978, tr. 170.
  86. ^ Müller 2010, tr. 180–181; see also Hammond & Walbank 2001, tr. 14 for further details.
  87. ^ Müller 2010, tr. 181–182; Errington 1990, tr. 44; Gilley & Worthington 2010, tr. 186; see Hammond & Walbank 2001, tr. 3–5 for details of the arrests and judicial trials of other suspects in the conspiracy to assassinate Philip II of Macedon.
  88. ^ Gilley & Worthington 2010, tr. 190; Müller 2010, tr. 183; Renault 2001, tr. 61–62; Fox 1980, tr. 72; see also Hammond & Walbank 2001, tr. 3–5 for further details.
  89. ^ Gilley & Worthington 2010, tr. 186.
  90. ^ Gilley & Worthington 2010, tr. 190.
  91. ^ Gilley & Worthington 2010, tr. 190–191; see also Hammond & Walbank 2001, tr. 15–16 for further details.
  92. ^ Gilley & Worthington 2010, tr. 191; Hammond & Walbank 2001, tr. 34–38.
  93. ^ Gilley & Worthington 2010, tr. 191; Hammond & Walbank 2001, tr. 40–47.

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Online

Print

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]