Nhà Achaemenes

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đế quốc Achaemenes
Khshassa[1]
550 TCN–330 TCN
 


Kỳ hiệu của Cyrus Đại đế

Cương thổ Đế quốc Achaemenes điểm cực thịnh,
dưới triều Darius I Đại đế (522 TCN tới 486 TCN)
Thủ đô Babylon[2] (chính đô), Pasargadae, Ecbatana, Susa, Persepolis
Ngôn ngữ Tiếng Ba Tư cổ[a]
Tiếng Aram hoàng gia[b]
Babylon[3]
Media
Hy Lạp cổ[4]
Elam[5]
Sumer[c]
Tôn giáo Bái hoả giáo, Tôn giáo Babylon[6]
Chính quyền Quân chủ
Vua của các vị vua
 •  559–529 TCN Cyrus Đại đế
 •  336–330 TCN Darius III
Giai đoạn lịch sử Cổ đại
 •  Khởi nghĩa Ba Tư 550 TCN
 •  Chinh phục Lydia 547 TCN
 •  Chinh phục Babylon 539 TCN
 •  Xâm lược Ai Cập 525 TCN
 •  Chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư 499–449 TCN
 •  Xâm lược Ai Cập lần thứ hai 343 TCN
 •  Bị Macedonia đô hộ 330 TCN
Diện tích
 •  500 TCN[7][8] 5.500.000 km² (2.123.562 sq mi)
Dân số
 •  500 TCN (ước tính) [9] 17 đến 35 triệu 
Tiền tệ Daric, siglos
Tiền thân
Kế tục
Đế quốc Media
Đế quốc Tân Babylon
Lydia
Vương triều thứ Hai mươi sáu của Ai Cập
Vương quốc Gandhara
Sogdia
Massagetae
Đế quốc Macedonia
Vương triều thứ Hai mươi tám của Ai Cập
a. ^ Ngôn ngữ bản địa.
b. ^ Ngôn ngữ chính thứclingua franca.[10]
c. ^ Ngôn ngữ trong thi ca ở Babylon.

Đế quốc Achaemenes (tiếng Ba Tư: Hakhamanishian) (690 TCN – 328 TCN), hay Đế quốc Ba Tư thứ nhất, là triều đại đầu tiên của người Ba Tư (nay là Iran) được biết đến trong lịch sử. Vương triều này còn được biết với cái tên là Nhà Achaemenid. Là một thiên tài quân sự kiệt xuất, Hoàng đế Cyrus Đại Đế đã lật đổ "thiên tử" của Đế quốc Media và sáng lập ra Đế quốc Ba Tư.[11] Với những cuộc chinh phạt thắng lợi và chính sách khoan dung của mình, ông đã thiết lập một "đế quốc thế giới" bao gồm nhiều dân tộc có truyền thống khác nhau.[12] Đế quốc Ba Tư của nhà Achaemenes còn được gọi là Đế quốc Media-Ba Tư.[13]

Hoàng đế Darius Đại Đế - một vị vua có tài tổ chức và quân sự - đã tiến hành cải tổ Đế quốc, và là vị vua châu Á đầu tiên tiến hành chinh phạt châu Âu.[11] Hoàng đế Xerxes Đại Đế kéo đại quân đánh vào phương Tây, giành nhiều chiến thắng vang dội nhưng sau đó bại trận rút quân.[14][15] Kể từ sau khi Hoàng đế Cyrus Đại Đế chinh phạt Đế quốc Babylon (538 TCN), các vị vua nhà Achaemenes xưng hiệu "Vua của các vị vua".[16] Đế quốc Ba Tư kéo dài từ năm 550 TCN cho đến khi quân Macedonia của vua Alexandros Đại Đế đánh bại Hoàng đế Darius III[17], rồi chinh phạt luôn cả Đế quốc vào năm 328 TCN. Trong suốt thời gian đó, Đế quốc Ba Tư là đế quốc hùng mạnh nhất và rộng lớn nhất trong thế giới cổ đại.[18]

Đế quốc Achaemenes là Đế quốc thế giới đầu tiên trong lịch sử, với 200 tồn tại dưới thời trị vì của các vị Hoàng đế.[19] Là một dân tộc sùng đạo, người Ba Tư thiết kế và xây nên nhiều thành phố nguy nga tráng lệ. Trong lịch sử Trung Đông, Đế quốc của họ là Đế quốc đầu tiên thống nhất cả khu vực này thành một Nhà nước có tổ chức.[20] Dưới triều vua Xerxes Đại Đế, có biết bao nhiêu dân tộc sinh sống trong Đế quốc này.[21]

Thời vương quốc (690 TCN - 551 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Achaemenes nước Ba Tư, thuộc tộc người Aryan.[22] Vị vua đầu tiên được biết đến của triều đại này có tên là Hakhamanish, khởi đầu huyền thoại. Tên ông bị các sử gia Cổ Hy Lạp đọc trại và Hy Lạp hóa thành Achaemenes, vì thế triều đại này có tên nhà Achaemenes trong tiếng Anh. Bi văn của Hoàng đế Darius Đại Đế có ghi nhận về gia phả của Hoàng gia Achaemenes, và: "Tất cả chúng ta đều là hậu duệ của vua Achaemenes. Hoàng gia ta từ lâu đã danh giá. Hoàng gia ta từ lâu đã xưng đế xưng vương".[23][24] Một "huyền thoại về người sáng lập" cho thấy vua Achaemenes được một con đại bàng nuôi nấng.[25] Nhưng Hoàng đế Cyrus Đại Đế không ghi nhận về ông trong phần gia phả trên Trụ Cyrus, và ông có thể là thần thoại.[26] Song, Hoàng đế Xerxes Đại Đế sau này có đề cập đến ông.[27] Xứ của ông có tên là Parsumash, nay ở miền tây nam Iran, tỉnh Pars. Ông không hùng mạnh lắm, nên phải chịu làm chư hầu của xứ Elam gần bên.

Các vua Ba Tư buổi đầu có lẽ là những vị tiểu vương cai trị như những vị thủ lĩnh bộ lạc.[28] Vua Achaemenes qua đời năm 681 TCN. Con là vua Cishpish (Hy Lạp hóa thành, và thường được sách Anh Pháp viết là Teispes) nối ngôi. Vào năm 655 TCN, Teispes chiếm được nước lân bang là Parsua. Sau đó ông chia vương quốc của mình ra làm hai: xứ Parsua cho con trưởng là Ariaramnes, xứ Parsumash cho con thứ là Cyrus I. Hai vua này lên ngôi năm 652 TCN, Cyrus I làm chư hầu của anh. Một tu sĩ có tiên đoán với vua Cyrus I về việc con cháu ông sẽ lên làm vua của cả thế giới, và điều này sẽ trở thành hiện thực với Hoàng đế Cyrus Đại Đế về sau.[29]

Xứ Parsumash cũng có tên gọi là xứ Anshan. Trong Trụ Cyrus của Hoàng đế Cyrus Đại Đế, các vua Teispes, Cyrus I và Cambyses I đều được gọi là "Đức Vua xứ Anshan".[30] Tài liệu của Đế quốc Tân Assyria có ghi lại năm 647 TCN có sứ giả của vua Anshan là Cyrus I vào chầu. Vua Ariaramnes truyền ngôi cho con là vua Arsames.[24] Vua Arsames là cha của quan Tổng trấn Hystaspes, và là ông nội của Hoàng đế Darius I sau này.[24] Có lẽ cựu vương Arsames và quan Tổng trấn Hystaspes còn sống khi Darius I lên ngôi Hoàng đế Ba Tư vào năm 521 TCN.[31]

Vào năm 625 TCN, một dân tộc Aryan ở phía bắc Ba Tư là người Media thoát được ách đô hộ của người Scythia, giành lại toàn bộ đất nước.[32] Dưới triều vua Cyaxares, Đế quốc Media trở nên hùng cường.[33] Dần dần, các xứ Elam, Parsua và Anshan đều thành thuộc quốc của Đế quốc Media. Vua xứ Anshan là Cambyses I hẳn là có tài ngoại giao,[34] và ông được vua nước Media là Astyages gả con gái là công chúa Mandane cho. Mandane sinh được một người con kỳ tài là vua Cyrus Đại đế trong tương lai. Do được báo mộng là Hoàng tử Cyrus sẽ cướp ngôi vua nước Media, vua Astyages đã truyền lệnh cho giết ông, nhưng một vị thống soái là Harpagus đã cứu ông.[35] Đây là một huyền thoại về vị vua sáng lập Ba Tư, được Herodotos ghi nhận.[36]

Thế nhưng, theo nhà sử học Ctesias thì vua Cyrus II không phải là cháu ngoại của vua Astyages, cũng không phải là một thành viên của Hoàng gia Achaemenes, nhưng có xuất thân bình dân, thuộc về bộ lạc của người Mardioi. Theo đó, khi mẹ ông là Argoste có mang, bà mộng thấy con mình sẽ làm "tai to mặt lớn" ở châu Á. Sinh ra, Cyrus vào cung hầu hạ vua Astyages. Ông dần dần được nhà vua sủng ái, nhưng sau này ông khởi nghĩa lật đổ nhà vua, và lên ngôi vua nước Ba Tư và Media. Ghi nhận của Ctesias khó có thể tin được, vì nhà sử học Herodotos và tư liệu bằng chữ tượng hình Ba Tư đều ghi nhận ông thuộc dòng dõi nhà Achaamenes - Vương triều đang trị vì bộ lạc của người Ba Tư ở Pasargadae.[37]

Thời đế quốc (551 TCN - 328 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 559 TCN vua Cyrus II, tức Cyrus Đại Đế, lên ngôi vua ở Anshan, làm chư hầu của Đế quốc Media.[38] Do thống soái Harpagus cứu vớt đứa bé Cyrus năm xưa, ông chịu hình phạt nặng.[36] Vì vậy, vào năm 554 TCN, ông liên quân với vua Cyrus Đại Đế trong việc tiến hành khởi nghĩa, nhằm lật đổ Quốc vương Astyages. Theo nhiều nhà sử học, vua Cyrus Đại Đế gặp nhiều khó khăn trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, thậm chí có khi Quân đội Ba Tư bị đánh tan tác và nhiều binh sĩ đào ngũ theo quân Media, nhưng rốt cuộc thì quân Media đại bại.[39] Vào năm 551 TCN, Hoàng đế Cyrus Đại đế chiếm được Đế quốc Media, lật đổ ông ngoại và khai sinh một chế độ quân chủ lâu đời, một Đế quốc Ba Tư hùng mạnh - còn gọi là Đế quốc Media-Ba Tư.[40][41][42] Người Ba Tư đã thay người Media làm bá chủ của châu Á,[39] và kinh đô Ecbatana của Media đã rời vào tay Hoàng đế Cyrus Đại Đế.[43] Ông đã biến xứ Media thành một tỉnh của Đế quốc Ba Tư và đóng đô tại thành Pasargadae.[12][44] Và ngân khố Hoàng gia của vua Astyages bị mang về Ba Tư.[38] Pasargadae tức là ngôi nhà của toàn dân Ba Tư, nằm ở phía Nam dãy núi Zagros và sau này sẽ trở nên danh tiếng là nơi an táng vị vua khai quốc Ba Tư.[45] Kinh đô Pasargadae - nơi ông đánh bại vua Astyages - trở thành biểu tượng của triều đại ông, giúp ông nâng cao tiếng tăm của mình.[46] Ông không đối xử xấu với cựu vương Astyages, và cưới con gái của ông ta là Amytis, theo Ctesias ông hạ lệnh cho giết chồng cũ của bà là Spitamas.[47] Là một vị vua xuất sắc, ông hợp nhất hai tộc người Media và Ba Tư, rồi xây dựng một lực lượng Quân đội hùng mạnh.[48] Dường như tộc người Media có một vị vua bù nhìn là Cyaxares II - tức vua Darius - trong thời gian này.[42]

Hoàng đế Cyrus Đại Đế phong Harpagus làm tướng.[49] Ông luôn luôn mở mang bờ cõi, phía tây đến ranh giới Ai Cậpchâu Phi và eo biển Hellespont ở bán đảo Thổ Nhĩ Kỳ. Chiến thắng của ông trước vua Astyages và sự phát triển lớn mạnh của Ba Tư làm vua Kroisos xứ Lydia - vốn nổi tiếng về giàu có và sức mạnh quân sự - lo sợ. Thế là ông đánh bại Vương quốc Lydia ở miền Tây Tiểu Á, chiếm kinh thành Sardis và biến xứ này thành một tỉnh của Đế quốc Ba Tư[12][50], buộc các thành bang Hy Lạp láng giềng phải thần phục.[51] Những vùng đất khác của Tiểu Á cũng rời vào tay vua Ba Tư.[52] Theo Herodotos, sau khi chinh phạt nước Lydia, ông cử vua Kroisos làm quân sư của mình, nhưng trong sử cũ của Ctesias thì kẻ thù trở thành đồng minh thân cận của ông là vua người Saka Armoges.[18][53] Ông cũng tiến quân vào vùng Lưỡng Hà và chiếm luôn cả Đế quốc Babylon hùng mạnh vào năm 538 TCN.[12][18][51][54] Do vua Babylon trái lòng dân, nhiều người Babylon đã hỗ trợ vua Ba Tư chiếm được kinh thành Babylon.[52] Phía đông bắc, ông bành trướng Ba Tư đến sông Syr-Daria ở Trung Á. Trong cuộc chinh phạt vùng Trung Á mà không rõ là diễn ra trước hoặc sau cuộc chinh phạt xứ Babylon, ông chinh phạt được tất cả mọi dân tộc mà không hề có ngoại lệ, theo nhà sử học Herodotus thời Hy Lạp cổ đại.[55] Theo "biên niên sử Nabonidus" thì ông còn giết được vua của một nước nào đó.[56]

Nhân dân Iran xem Hoàng đế Cyrus Đại Đế là người dẫn dắt, là vị vua khai quốc của họ.[57]

Ông thu phục được người Bactria.[58] Theo nhà sử học Ctesias thì sau thắng lợi này, ông còn thêm gặt hái thắng lợi trong một cuộc chinh phạt người Saka, buộc họ phải trung thành với ông.[58] Nhờ các hoạt động ngoại giao, vua của người Saka là Amorges trở thành một quân sự trung thành với ông.[53] Strabo cũng ghi nhận về việc nhà vua thoát khỏi hoang mạc Gedrosia chỉ với bảy binh sĩ, vậy có lẽ ông đã tiến hành một cuộc chiến tranh không thành công với xứ Candahar - một quốc gia sau này bị Hoàng đế Darius Đại Đế chinh phạt.[58] Không những thế, ông còn được ca ngợi là một vị Quân vương sáng suốt. Hoàng đế Cyrus Đại Đế tôn trọng mọi phong tục tập quán hay tôn giáo của các nước bị ông bành trướng.[59] Sau khi chinh phạt Đế quốc Babylon hà khắc hơn hẳn, Hoàng đế Cyrus Đại Đế truyền lệnh cho 40.000 người Do Thái bị đày trở về quê nhà Judea.[18] Một ngôi đền đã được vua Do Thái là Solomon xây dựng trên núi Moriah, và đã bị Hoàng đế Babylon là Nebuchadnezzar II - nhà chinh phạt vĩ đại nhất trên thế giới thời đó (605 TCN - 565 TCN)[60] - tàn phá, đã được nhà vua Ba Tư truyền lệnh cho tái xây dựng sau khi những người Do Thái trở về Jerusalem[61]. Không một nhà chinh phạt nào có danh tiếng tốt đẹp như ông - vị vua đầu tiên thực chính sách hữu hảo với những thần dân của Jehovah.[58] Không những thế, ông còn để lại một di sản vĩ đại là Trụ Cyrus - một bản "Tuyên ngôn Nhân quyền" trong lịch sử nhân loại.[62] Cho đến nay, người ta vẫn xem ông là người sáng lập ra Nhân quyền.[63] Dưới triều đại của ông, thành Babylon trở thành một trong bốn chốn kinh kỳ của Đế quốc Ba Tư.[64] Sau chiến thắng trong cuộc chinh phạt xứ Babylon, ông xưng làm "Đức Vua của các vị vua", "Đức Vua của bốn phương Trái Đất".[46][65]

Hoàng đế Cyrus Đại Đế trở thành một trong những nhà chinh phạt vĩ đại nhất thế giới thời cổ đại, sánh ngang với vua Nebuchadnezzar II năm xưa.[66] Ông qua đời vào năm 530 TCN, theo ghi nhận của nhà sử học Herodotus thì ông đã tiến hành chinh phạt người Massagetae, ban đầu giành chiến thắng nhưng sau đó bại trận tử vong.[67][68] Tuy nhiên, theo ghi nhận của nhà sử học Xenophon thì vua Cyrus Đại Đế lâm bệnh và qua đời bình yên tại kinh đô Pasargadae.[69][70] Nhà sử học Ctesias thì ghi nhận khác biệt với cả hai: ông bị thương trong trận đánh với người Ctesias, nhưng được ba quân mang ra khỏi trận. Sau đó, viện binh kéo đến, Quân đội Ba Tư giành chiến thắng huy hoàng trong một trận đánh đẫm máu, giết được vua của người Derbices và buộc họ phải trung thành với vị Hoàng đế Ba Tư vĩ đại.[58][71] Ông qua đời do vết thương và được an táng tại một lăng tẩm tốt đẹp.[58] Johannes Malela xứ Antioch thì bảo ông tử trận trong trận thủy chiến với người Samos, còn Lucian thì bảo ông qua đời khi 100 tuổi.[72] Trước khi qua đời, ông đã cho xây lăng tẩm.[73] Mộ chí của ông tại lăng tẩm ở kinh thành Pasargadae cho thấy ông là vị "Vua của cả châu Á". Trong suốt chiều dài lịch sử, lăng tẩm này đã từng bị phá hoại.[74] Dường như thành Susa trở thành kinh đô của Đế quốc Ba Tư sau khi ông qua đời.[75] Nhà sử học Herodotos có nhận định về sự khác biệt của ông với các vị vua kế tục,[76] theo đó ông là Pater còn vị vua kế tục ông là Despotes:[77]

Hoàng đế Cyrus Đại Đế được xem là vị vua lỗi lạc nhất của Đế quốc Ba Tư, nhưng một số vị Hoàng đế nổi bật khác lên kế tục ông.[78] Sau khi qua đời, ông truyền ngôi cho Hoàng thái tử Cambyses. Ngay từ năm 537 TCN, sau khi Hoàng đế Cyrus Đại Đế giành chiến thắng trong cuộc chinh phạt xứ Babylon, ông truyền ngôi Vua xứ Babylon cho Cambyses trong khi ông ca khúc khải hoàn trở về kinh đô Pasargadae.[46] Ngay sau khi lên nối ngôi, Hoàng đế Cambyses II tiến hành chinh phạt Ai Cập. Pharaon tiến hành liên minh với một số nước khác và xây dựng Quân đội, nhưng không thành công.[79] Vào năm 525 TCN, đất nước của các Kim Tự ThápPharaon đã rơi vào tay Quân đội Ba Tư, bắt đầu thời kỳ Ai Cập thuộc Ba Tư và thống nhất miền Trung Đông cổ đại thành một đế quốc.[78][80] Ông xưng làm Pharaon của hai miền ThượngHạ Ai Cập, vua kế tục của Vương triều Saïtic trước đây.[52] Ông còn toan tính chinh phạt bán đảo Sasis và xứ Carthage, nhưng không thành công.[81] Các vua đầu tiên của Ba Tư đều chú ý coi sóc tài chính. Cả hai vua Cyrus Đại Đế và Cambyses II đều không bao giờ quên việc này, vì họ cần phải có nguồn dự trữ lớn lao mà xây dựng Quân đội và tiến hành các cuộc viễn chinh. Sau mỗi chiến thắng, Hoàng đế Cyrus Đại Đế cũng mang ngân khố Hoàng gia của các vị vua bại trận về kinh thành Pasargadae. Có lẽ Hoàng đế Cambyses II cũng có những mệnh lệnh tương tự khi ông sống ở thành Babylon hoặc khi ông chinh phạt Ai Cập.[82] Ông bị xem là một ông vua độc ác, nghiện rượu.[83] Căng thẳng còn diễn ra giữa nhà vua và các quan đại thần, và chẳng ai hay đất nước có loạn.[84]

Trong khi ông chinh chiến ở châu Phi thì có pháp sư Gaumata soán ngôi ở quê nhà, và mạo nhận mình là Smerdis - một Hoàng tử đã bị nhà vua giết chết. Thực chất, Gaumata làm phản là theo sự xúi quẩy của một tùy tùng của nhà vua, vì ông ta muốn đưa bản thân mình và gia đình mình tới quyền lực.[81] Có tài liệu nói Hoàng đế Cambyses II qua đời trong một tai nạn, có người nói ông kéo quân về dẹp loạn, nhưng nghĩ là mình sẽ thua nên tự sát.[85] Hoàng đế Gaumata tiến hành cải cách lấy lòng dân, nhưng rồi bị lật đổ.[84] Cháu nội vua Arsames xứ Parsua là Hoàng tôn Darius cùng với sáu công thần giết chết được ông vua cướp ngôi Gaumata.[85][86] Ông là thành viên của một nhánh khác của Hoàng gia Ba Tư, và là con trai của quan Tổng trấn xứ Parthia.[87] Nhưng theo Herodotos, thì cha ông - Hystaspes là quan Tổng trấn xứ Ba Tư, từng phò tá tiên đế Cyrus Đại Đế trong lần thân chinh cuối cùng của tiên đế.[88] Tiên đế cũng từng chiêm bao về sự lên nối ngôi của Hoàng đế Darius I.[25] Sau thắng lợi, ông tuyên bố với sáu công thần kia rằng, một mình ông có thể đảm đang việc nước, dù người ta không rõ ông đã trở thành người thừa kế ngai vàng của Vương triều Achaemenes chưa.[85] Ông khẳng định rằng ông là vị vua hợp pháp của Vương triều Achaemenes, và bắt tay vào công cuộc dựng nước, tiến hành cải cách sâu rộng và chia Đế quốc Ba Tư thành 23 tỉnh.[89] Lúc vị vua trẻ tuổi mới chính vị hiệu, các bậc tiên đế như Cyrus Đại Đế và Cambyses II đã mang lại cho ông một Đế quốc làm chủ toàn bộ châu Á thời đó.[87] Trong lúc này, bạo loạn xảy ra ở nhiều miền đất thuộc Đế quốc Ba Tư, chẳng hạn như các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở xứ Media và Babylon. Cuối cùng thì Quân đội Ba Tư cũng dẹp tan tất cả các cuộc phiến loạn; và, với những chiến thắng vang dội này, toàn bộ Đế quốc Ba Tư chính thức thừa nhận ngôi Hoàng đế của Darius Đại Đế.[90] Vị "Vua của các vị vua" này xưng làm "Vua của nhiều nước".[91] Nhà vua tôn thờ thần Ahura Mazda.[92]

Do thành Babylon giàu có và kiên cố, việc ông đánh tan tác cuộc phiến loạn tại đây đã cho thấy rằng, Quân đội Ba Tư có thể đánh bại được bất kỳ cuộc nổi dậy nào của các quốc gia nhỏ hơn. Điều này làm cho họ lo sợ ông - một nỗi lo sợ đưa ông đến ngôi báu.[93] Dưới triều vua Darius I, kênh đào Suez được hoàn thành sau khi ông tiến chiếm Ai Cập.[94] Với tư cách là một vị Hoàng đế xây dựng một Đế quốc, ông xây dựng những đại lộ nối liền bốn kinh đô Babylon, Susa, EctabanaPersepolis.[95] Thành Persepolis trở thành kinh đô mới của Đế quốc Ba Tư dưới triều đại của ông.[96] Hoàng đế Darius Đại Đế cũng mở mang bờ cõi, xây dựng một Đế quốc Ba Tư vô cùng rộng lớn.[97] Phía đông chiếm vùng châu thổ sông Ấn (nay, vùng này thuộc Pakistan). Phía nam chiếm nhiều vùng bán đảo Ả Rập. Phía tây nam chiếm Ethiopia, phía tây bắc chiếm miền bắc bán đảo Balkan. Sau khi chiếm được xứ Babylon,[98] ông còn băng qua sông Danube đánh người Scythia. Dù chiến dịch đánh người Scythia thất bại,[99] kết quả là Đế quốc Ba Tư - quốc gia vĩ đại nhất thời đó - có lãnh thổ rộng tới 7.500.000 km². Được xem là một vị Hoàng đế sáng suốt và tài năng[100], ông đã đưa Đế quốc này lên đến thời kỳ hoàng kim của nó.[101] Do sự quan tâm của ông đến nền thương mại và tài chính của Đế quốc, theo Herodotos, thần dân gọi ông là "thương gia".[102]

Chiến tranh với Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Sau những năm tháng chinh phạt, Đế quốc Ba Tư thái bình thịnh trị.[103] Nhưng Hoàng đế Darius Đại Đế hay tin người Ionian, với sự hỗ trợ của người Athena, phất cờ khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của Đế quốc Ba Tư. Ông phái quân đến dẹp tan cuộc khởi nghĩa của Ionian. Sau đó, ông sai sứ đến xứ Sparta bắt họ phải thần phục ông, nhưng không được chấp nhận. Do đó, ông quyết định trừng phạt họ.[104] Vào năm 490 TCN, ông phái quân tiến đánh Hy Lạp. Ông không thân chinh thống lĩnh, chỉ giao trách nhiệm cho một viên cận tướng.[105] Quân đội Ba Tư tấn công xứ Eretria và tiêu diệt được xứ này, bắt dân chúng trong thành làm nô lệ.[106] Nhưng quân đội Ba Tư đại bại tại Marathon và phải rút về. Vào năm 486 TCN, Hoàng đế Darius I, tức Darius Đại Đế qua đời, kết thúc những năm tháng trị vì thành công vang dội.[99]

Con trai của ông lên thay, tức Hoàng đế Xerxes Đại đế. Ông là một vị vua - chiến binh.[107] Vị tân Hoàng đế quyết tâm tiêu diệt các thành bang Hy Lạp để báo thù cho thất bại của vua cha.[108] Không những thế, ông bị xem là đối xử ngược đãi với các tôn giáo khác, không như các bậc tiên đế Cyrus Đại Đế và Darius Đại Đế.[109] Trước khi chinh phạt Hy Lạp, ông dập tan những cuộc bạo loạn tại Babylon và Ai Cập.[110] Theo sử cũ Hy Lạp, ông đem 5 triệu người - trong đó có 1.700.000 binh sĩ từ mọi nước trong đế quốc - đi chinh tây, có thể là nhằm mục tiêu thôn tính toàn châu Âu. Sự kiện này đưa ông trở thành vị vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Ba Tư.[99] Trong công cuộc chinh phạt Hy Lạp, ông vừa gặt hái những chiến thắng vừa vấp phải những thất bại:[111] Sử cũ cho hay, các chiến thuyền của nhà vua đã làm thành một chiếc cầu nổi khổng lồ bắc qua eo biển Hellespont nối liền hai châu Âu-Á. Quân đội Ba Tư thắng ở trận Thermopylae trên bộ, giết được vua SpartaLeonidas I. Đây là một trong những trận chiến nổi tiếng nhất trong lịch sử thế giới.[112] Với sự hy sinh anh dũng của vua Leonidas I, nhân dân Hy Lạp kiên quyết trả thù cho ông.[113] Sau chiến thắng, Hoàng đế Xerxes Đại Đế đem quân đốt thành Athena,[114] nhưng thủy binh bị đại bại ở trận đánh quyết định tại Salamis năm 480 TCN. Trong trận này, ông liên quân với Nữ hoàng Artemisia I xứ Halicarnassus.[115] Sợ thất bại, ông rút thủy binh về và giao việc chinh phục Hy Lạp cho tướng Mardonius với 10.000 quân tinh nhuệ.[107][116]

Mardonius là vị thống soái hàng đầu của Đế quốc Ba Tư thời đó, là con rể của tiên đế Darius Đại Đế.[117] Thông qua Vương quốc Macedonia là đồng minh của Ba Tư, tướng Mardonius đề nghị người Athena ký kết hòa ước với Ba Tư, nhưng không thành công. Vào mùa xuân năm 479 TCN, tướng Mardonius lại chiếm được thành Athena. Người Athena phải rút lui khỏi thành phố. Quyết không đầu hàng Ba Tư, họ cầu cứu người Sparta và nhận được sự giúp đỡ. Trong trận Plataea (479 TCN), tướng Mardonius tử trận, Quân đội Ba Tư thất bại. Họ phải rút chạy về nước. Đối với Hoàng đế Xerxes Đại Đế, cuộc chinh phạt Hy Lạp thất bại nhưng không gây hậu quả gì cho lắm trên Đế quốc Ba Tư, và ông vẫn tiếp tục ngự trị Đế quốc (nhưng đối với nhân dân Hy Lạp, đó là thời điểm chủ nghĩa dân tộc của họ ra đời, với chiến thắng của nền văn minh Hy Lạp trước "rợ" Ba Tư xâm lược).[116] Nhà vua cũng xây thêm cung điện tại tân đô Persepolis, và hoàn tất phần lớn công cuộc xây dựng tân đô do vua cha Darius Đại Đế khởi xướng.[96] Các nhà sử học người Hy Lạp phá vỡ danh tiếng của ông - vị vua đã thực hiện một cuộc chinh phạt quy mô lớn vào Hy Lạp - sau chiến bại của ông vì trụy lạc, độc đoán; tuy nhiên, người phương Đông xem ông là một vị Hoàng đế đức độ, anh minh, thượng võ và nhìn xa trông rộng.[118]

Ông cũng là một nhà cải cách tôn giáo tài ba.[119] Kinh đô Persepolis do ông và vua cha Darius Đại Đế dày công xây cất đã trở thành một thành phố tuyệt vời trong thế giới cổ đại.[120] Trong khi nhà vua nhấn mạnh ông là người Aryan, thần Ahura Mazda trở thành "Vị thần của dân tộc Aryan".[121] Các công trình tại kinh đô hoành tráng này cũng thể hiện lòng thương dân hết mực của vị "Vua của các vị vua" tài ba - Xerxes Đại Đế đối với toàn dân Ba Tư. Ông là một trong những vị vua vĩ đại cuối cùng của Vương triều Achaemenes.[122] Triều đại của ông kết thúc không được bình yên. Vào năm 465 TCN, tân Vizia Artabanus giết chết ông, và Hoàng tử Artaxerxes lên nối ngôi, tức là Hoàng đế Artaxerxes I. Do Vizia Artabanus tấu lên vua rằng con trưởng của Hoàng đế Xerxes Đại Đế là Hoàng tử Darius đã ám sát vua cha, ông truyền lệnh cho xử tử hoàng huynh Darius.[118] Nhưng không lâu sau đó, Hoàng đế Artaxerxes I hiểu ra và báo thù cho vua cha qua việc trừ khử Vizia Artabanus. Ông tiêu diệt được Vizia Artabanus trong một trận đấu tay đôi tại Hoàng cung. Ông cũng trừ khử luôn cả tên hoạn quan Aspamitres - một trong những kẻ ám sát tiên đế Xerxes Đại Đế.[118] Hoàng đế Artaxerxes I cũng là một trong những vị vua vĩ đại cuối cùng của Vương triều Achaemenes. Sau khi ông mất, nhiều vị Hoàng đế yếu kém hơn lên nối nghiệp ông.[123] Hoàng đế Xerxes II kế ngôi, là đứa con hợp pháp duy nhất của tiên đế Artaxerxes I. Nhưng tiên đế Artaxerxes I có nhiều đưa con bất hợp pháp đầy tham vọng.[124] Ít lâu sau khi lên ngôi, Hoàng đế Xerxes II bị ám sát trong Hoàng cung, lúc đang say rượu.[125] Trong những kẻ ám sát ông có tên hoạn quan Pharnacyas, và điều này cho thấy các quan Thái giám Triều đình Ba Tư hồi đó thường tham gia những vụ mưu phản, chẳng hạn như trước đó có Aspamithres làm phản Hoàng đế Xerxes I.[126] Em khác mẹ của ông là Hoàng đế Sogdianus lên thay, nhưng cũng bị người em khác mẹ là Hoàng đế Darius II chiếm ngôi.[127] Đất nước suy yếu, uy quyền của các vua bị thu hẹp.[100]

Hoàng đế Darius II kết hôn với người em gái cùng cha khác mẹ của ông là Parysatis, và sinh ra Hoàng đế Artaxerxes II tương lai.[128] Vào năm 401 TCN, người Hy Lạp và người Ba Tư lại giao chiến với nhau. Một người lính thành Athena là Xenophon tham chiến trong nhóm lính đánh thuê người Hy Lạp của Hoàng tử Cyrus Trẻ khi vị Hoàng tử này khởi loạn chống lại vua anh Artaxerxes II, sau khi vua cha Darius II qua đời[129]. Trong trận đánh với Hoàng đế Artaxerxes II, Hoàng tử Cyrus Trẻ bị giết.[130] Sau đó, Xenophon rút lui và sau này ông có viết về cuộc đời của Hoàng đế Cyrus Đại Đế.[131] Kể từ thời vua Cyrus II, các vua Ba Tư thường xưng những Đế hiệu phức tạp như "Đức Vua vĩ đại, Đức Vua của Ba Tư, Đức Vua của các vùng đất", v.v... và Vương hiệu đơn giản "Vua" có lẽ không thực sự ám chỉ vị Hoàng đế ngự trị Đế quốc. Ví dụ, Xenophon và Cicero gọi Cyrus Trẻ là Vua dù ông chỉ là quan Tổng đốc xứ Tiểu Á.[28]

Trong thời kỳ suy yếu của Đế quốc Ba Tư, những vùng đất xa như Trung Á cũng mất ít nhiều. Có giai đoạn họ bị mất Ai Cập (404 TCN - 343 TCN), nhưng tựu trung lãnh thổ vẫn còn khá rộng lớn. Tuy nhiên sức mạnh quân sự của Đế quốc Ba Tư suy giảm, và nền kinh tế đất nước cũng sa sút.[100]

Sự sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Achaemenid Empire during the wars of Alexander.
The Battle of Issus, between Alexander the Great on horseback to the left, and Darius III in the chariot to the right, represented in a Pompeii mosaic dated 1st century BCE – National Museum of Archaeology in Napoli.

Hoàng đế Artaxerxes III (Ochus) là vị vua kiệt xuất cuối cùng của Đế quốc Ba Tư. Ông tiến hành củng cố Đế quốc Ba Tư hùng mạnh, đồng thời thâu tóm thêm nhiều quyền uy về tay nhà vua.[132] Trong các năm 343 TCN - 341 TCN, ông tái chinh phạt toàn bộ xứ Ai Cập, và đày ải Pharaon Nectanebo II của Vương triều thứ 30 mới được người Ai Cập thành lập.[133] Sau một triều đại lâu dài (358 TCN - 338 TCN), ông bị tên hoạn quan Bagoas ám sát. Hoàng đế Arses lên nối ngôi, cũng bị tên hoạn quan Bagoas ám sát vào năm 336 TCN, dường như tên hoạn quan này có sự hỗ trợ của tân Hoàng đế Darius III.[132]

Người Ba Tư thiết lập Vương triều thứ 31 trên đất Ai Cập, và trị vì khắt khe. Nhân dân Ai Cập phất cờ khởi nghĩa, và người ta biết rằng một cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ do Pharaon Khababsh lãnh đạo.[133] Trong lúc nước Ba Tư suy yếu, một vị chỉ huy quân sự xuất sắc đã tiến hành chinh phạt Đế quốc này vào năm 334 TCN[100] - vua xứ MacedoniaAlexandros Đại đế thống lĩnh liên quân Macedonia và các thành bang Hy Lạp vượt biển Hellespont tiến đánh Ba Tư. Ông vốn rất ngưỡng mộ người chiến binh Xenophon và Hoàng đế Cyrus Đại Đế - vị vua thống nhất hai dân tộc Media và Ba Tư. Với một lực lượng Quân đội tinh nhuệ, ông quyết định theo chân Hoàng đế Cyrus Đại Đế trong việc xây dựng một Đế quốc thống trị thế giới.[130] Vua Alexandros Đại Đế đánh trận đầu với Quân đội Ba Tư tại Granicus, và giành thắng lợi.[134] Vào năm 333 TCN, ông tiếp tục đánh tan tác Quân đội Ba Tư do Hoàng đế Darius III thân chinh thống lĩnh tại trận Issus năm 333 TCN, sau đó ông chiếm được thành phố Týros. Vua Alexandros Đại Đế cũng kéo quân vào Ai Cập vào năm 332 TCN. Sau đó, Hoàng đế Darius III một lần nữa bị đánh bại trong trận Gaugamela (Arbela) vào năm 331 TCN[135]. Trong cơn ly loạn, Darius III bị em họ là Bessus giết năm 330 TCN, cùng năm đó vua Alexandros Đại Đế đốt cháy kinh thành Persepolis. Bessus, tức vua Artaxerxes V cầm cự đến năm 328 TCN thì toàn bộ Đế quốc Ba Tư bị mất về tay vua Alexandros Đại đế. Bessus bị bắt sống.[135] Tuy đã đánh bại Hoàng đế Darius III, vua Alexandros Đại Đế mong muốn xây cho ông một lăng tẩm tráng lệ tại kinh thành Persepolis.[111]

Nhiều sử gia cho rằng năm 330 TCN đã là thời điểm cáo chung của nhà Achaemenes sau khi vua Alexandros Đại đế chiếm được 4 kinh đô của Ba Tư lúc ấy là Pasargadae, Persepolis, SusaEcbatane. Từ nay, thời kỳ xưng hùng xưng bá của Đế quốc Ba Tư chấm dứt.[100] Song, vào năm 324 TCN, ông và một vạn quân Macedonia cưới các cô gái Ba Tư làm vợ.[135] Vào năm 323 TCN, ông qua đời tại thành Babylon.[136]

Mặc dù có được thành công khi chinh phục toàn bộ đế quốc Ba Tư, Alexandros Đại đế, dù sao cũng không thể mang đến một sự thay thế ổn định [137] Sau khi ông qua đời, đế chế của Alexander bị tan rã và được kế tục bởi một vài đế chế vài nhỏ hơn, quan trọng nhất là đế quốc Seleukos, được cai trị bởi các vị tướng của Alexandros và con cháu của họ. Họ lần lượt sẽ được kế tục bởi đế chế Parthia.

Istakhr, một trong các vương quốc chư hầu của Đế chế Parthia, sẽ bị lật đổ bởi Papak, một giáo sĩ của một ngôi đền ở đó. Con trai của Papak, Ardašir I, người đã đặt tên mình để tưởng nhớ đến Artaxerxes II, sẽ nổi loạn chống lại người Parthia, cuối cùng đánh bại họ và thiết lập đế chế Sassanid hay nó được biết đến với tên Đế quốc Ba Tư thứ hai.

Chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

The Behistun Inscription tells the story of Darius the Great's conquests, with the names of twenty-three satrapys subject to him.
Behistun Inscription, column 1 (DB I 1–15)

Cyrus Đại đế đã sáng lập đế quốc như là một nhà nước đa tiểu quốc, được quản lý bởi bốn kinh đô: Pasargadae, Babylon, SusaEkbatana. Nhà Achaemenid đã cho phép một số khu vực nhất định có được quyền tự chủ dưới hình thức của hệ thống satrapy (tỉnh). Một satrap (phó vương) là vị vua chư hầu, người quản lý khu vực, một đốc quân giám sát việc tuyển quân và đảm bảo trật tự và một thư lại để giúp việc công văn giấy tờ. Viên thư lại và đốc quân này bẩm báo trực tiếp cho phó vương cũng như chính phủ trung ương. Vào những lúc khác nhau, có từ 20 đến 30 tỉnh.[138]

Cyrus Đại đế đã tạo ra một đội quân có tổ chức bao gồm đội quân Bất Tử, bao gồm 10.000 chiến binh[139] Cyrus cũng hình thành nên một hệ thống bưu chính sáng tạo trên khắp đế quốc, dựa trên một số trạm chuyển tiếp gọi là Chapar Khaneh.[140]

Darius Đại đế đã dời đô từ Pasargadae tới Persepolis,[141] ông cũng đã cách mạng hóa nền kinh tế bằng cách đánh giá nó dựa trên một tiền xu bằng bạc và vàng và giới thiệu một hệ thống thuế quy định và bền vững mà thực sự phù hợp với mỗi satrapy, dựa trên năng suất thu hoạch ước chừng cũng như tiềm lực kinh tế của mỗi vùng. Ví dụ, Babylon phải chịu sự cống nạp nhiều nhất- 1000 talent bạc, bốn tháng cung cấp lương thực cho quân đội.

Các vị vua[sửa | sửa mã nguồn]

Các vua nhà Achaemenes
Tên Ba Tư Tên Latinh hoá Trị vì Chú thích
Hakhamanish Achaemenes (690 TCN - 681 TCN)
Cishpish Teispes (681 TCN - 652 TCN)
Ariyaramna Ariaramnes (652 TCN - ???) (Xứ Parsua)
Kourosh I Cyrus I (652 TCN - 600 TCN) (Xứ Anshan)
Arshama Arsames (595 TCN - 555 TCN) (Xứ Parsua)
Kambujiya I Cambyses I (652 TCN - 600 TCN) (Xứ Anshan)
Kourosh II e Bozorg Cyrus II (559 TCN - 530 TCN) (Cyrus Đại đế)
Kambujiya II Cambyses II (530 TCN - 521 TCN)
Bardiya giả Smerdis giả (521 TCN, 7 tháng) (soán ngôi)
Darayavaush I e Bozorg Darius I the Great (522 TCN - 485 TCN) (Darius Đại đế)
Khsayarsha I e Bozorg Xerxes I the Great (485 TCN - 465 TCN) (Xerxes Đại đế)
Artaxshaca I Artaxerxes I (465 TCN - 424 TCN)
Khsayarsha II Xerxes II (425 TCN, 45 ngày)
Sogdianus Sogdianus (425 TCN, 6 tháng)
Darayavaush II Darius II (425 TCN - 405 TCN)
Artaxshaca II Artaxerxes II (405 TCN - 362 TCN)
Artaxshaca III Artaxerxes III (362 TCN - 340 TCN)
Artaxshaca IV Arshaka Artaxerxes IV Arses (340 TCN - 337 TCN)
Darayavaush III Darius III (337 TCN - 330 TCN)
Artaxshaca V Artaxerxes V Bessus (330 TCN - 328 TCN)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Daryaee, edited by Touraj; A. Shapour Shahbazi (2012). The Oxford handbook of Iranian history. Oxford: Oxford University Press. tr. 131. ISBN 978-0-19-973215-9. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2016. Although the Persians and Medes shared domination and others were placed in important positions, the Achaemenids did not -- could not -- provide a name for their multinational state. Nevertheless, they referred to it as Khshassa, "the Empire". 
  2. ^ Yarshater, Ehsan (1993). The Cambridge History of Iran, Volume 3. Cambridge University Press. tr. 482. ISBN 978-0-521-20092-9. Of the four residences of the Achaemenids named by HerodotusEcbatana, Pasargadae or Persepolis, SusaBabylon — the last [situated in Iraq] was maintained as their most important capital, the fixed winter quarters, the central office of bureaucracy, exchanged only in the heat of summer for some cool spot in the highlands. Under the Seleucids and the Parthians the site of the Mesopotamian capital moved a little to the north on the Tigris — to SeleuciaCtesiphon. It is indeed symbolic that these new foundations were built from the bricks of ancient Babylon, just as later Baghdad, a little further upstream, was built out of the ruins of the Sassanian double city of Seleucia-Ctesiphon. 
  3. ^ Harald Kittel; Juliane House; Brigitte Schultze; Juliane House; Brigitte Schultze (2007). Traduction: encyclopédie internationale de la recherche sur la traduction. Walter de Gruyter. tr. 1194–5. ISBN 978-3-11-017145-7. 
  4. ^ Greek and Iranian, E. Tucker, A History of Ancient Greek: From the Beginnings to Late Antiquity, ed. Anastasios-Phoivos Christidēs, Maria Arapopoulou, Maria Chritē, (Cambridge University Press, 2001), 780.
  5. ^ Windfuhr, Gernot. “IRAN vii. NON-IRANIAN LANGUAGES (1) Overview – Encyclopaedia Iranica”. www.iranicaonline.org (bằng tiếng Anh). Encyclopedia Iranica. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2017. Elamite as one of the official languages of the Achaemenid court was still widely spoken in the southwest. 
  6. ^ Boiy, T. (2004). Late Achaemenid and Hellenistic Babylon. Peeters Publishers. tr. 101. ISBN 978-90-429-1449-0. 
  7. ^ Turchin, Peter; Adams, Jonathan M.; Hall, Thomas D (tháng 12 năm 2006). “East-West Orientation of Historical Empires”. Journal of world-systems research 12 (2): 223. ISSN 1076-156X. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016. 
  8. ^ Taagepera, Rein (1979). “Size and Duration of Empires: Growth-Decline Curves, 600 B.C. to 600 A.D.”. Social Science History 3 (3/4): 121. doi:10.2307/1170959. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016. 
  9. ^ Morris, Ian; Scheidel, Walter (2009). The Dynamics of Ancient Empires: State Power from Assyria to Byzantium. Oxford University Press. tr. 77. ISBN 978-0-19-975834-0. 
  10. ^ Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, (I.B. Tauris Ltd, 2007), 119.
  11. ^ a ă George Willis Botsford, An Ancient History for Beginners, trang 32
  12. ^ a ă â b Jackson J. Spielvogel, Western Civilization: To 1715, các trang 47-49.
  13. ^ John B. Calkin, Historical Geography of Bible Lands, trang 150
  14. ^ Insight, Thomas Goltz, Insight Guide: Turkey, trang 13
  15. ^ Siamak Akhavan, The Universal Sign, trang 171
  16. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 78
  17. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 92
  18. ^ a ă â b Cyrus the Great - Heritage History
  19. ^ M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, trang XI
  20. ^ Dennis Abrams, Xerxes, trang 18
  21. ^ Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang 60
  22. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 28
  23. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 16
  24. ^ a ă â Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 110
  25. ^ a ă Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 111
  26. ^ Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang 258
  27. ^ Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang 241
  28. ^ a ă M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, trang 9
  29. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 83
  30. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 91
  31. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 519
  32. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 25
  33. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 880
  34. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 47
  35. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 27
  36. ^ a ă Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 31
  37. ^ M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, trang 12
  38. ^ a ă Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang 1
  39. ^ a ă Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 32
  40. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 94
  41. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 81
  42. ^ a ă David Mather Masson, Ancient history [by D.M. Masson]., trang 147
  43. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 33
  44. ^ Ian Shaw, Robert Jameson, A dictionary of archaeology, trang 464
  45. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 16
  46. ^ a ă â Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 82
  47. ^ M. A. Dandamaev, A political history of the Achaemenid empire, trang 16
  48. ^ J. Poolos, Darius the Great, các trang 24-25.
  49. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 38
  50. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 34
  51. ^ a ă Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 102
  52. ^ a ă â Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang 2
  53. ^ a ă Vivienne J. Gray, Xenophon, các trang 446-447.
  54. ^ Tomyris - Heritage History
  55. ^ Cambridge Ancient History IV Chapter 3c. p. 170. The quote is from the Greek historian Herodotus
  56. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 34
  57. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 23
  58. ^ a ă â b c d John McClintock, James Strong, Cyclopaedia of biblical, theological, and ecclesiastical literature, Tập 2, trang 637
  59. ^ Rüdiger Schmitt (i. The name).
  60. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 62
  61. ^ Carolyn M. Prince, The Revelation Unlocked, trang 41
  62. ^ William Weir, 50 Military Leaders Who Changed the World, trang 27
  63. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 47
  64. ^ Jane Browne, Early civilization, trang 38
  65. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 79
  66. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 58
  67. ^ Vivienne J. Gray, Xenophon, trang 444
  68. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 85
  69. ^ Diodorus (Siculus.), Edwin Murphy, The antiquities of Asia: a translation with notes of book II of the Library of history, of Diodorus Siculus, trang 58
  70. ^ Henri Daniel-Rops, Sacred history, trang 310
  71. ^ Vivienne J. Gray, Xenophon, các trang 447-484.
  72. ^ James Ussher, The Annals of the World, trang 119
  73. ^ Josef Wiesehöfer, Cyrus the Great, trang 82
  74. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 20
  75. ^ Aedeen Cremin, Archaeologica: The World's Most Significant Sites and Cultural Treasures, trang 227
  76. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 50
  77. ^ Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang 63
  78. ^ a ă Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 86
  79. ^ J. Poolos, Darius teh Great, trang 16
  80. ^ Michael H. Hart, The 100: a ranking of the most influential persons in history, trang 436
  81. ^ a ă J. Poolos, Darius the Great, trang 15
  82. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 67
  83. ^ J. Poolos, Darius the Great, trang 27
  84. ^ a ă Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang 3
  85. ^ a ă â J. Poolos, Darius the Great, trang 30
  86. ^ J. Poolos, Darius the Great, trang 118
  87. ^ a ă J. Poolos, Darius the Great, trang 32
  88. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 112
  89. ^ J. Poolos, Darius the Great, trang 33
  90. ^ J. Poolos, Darius the Great, các trang 34-36.
  91. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 178
  92. ^ J. Poolos, Darius the Great, trang 62
  93. ^ J. Poolos, Darius the Great, trang 80
  94. ^ J. Poolos, Darius the Great, trang 79
  95. ^ Rena L. Crosby, The geography of Bible lands, trang 77
  96. ^ a ă Jon L. Berquist, Approaching Yehud: new approaches to the study of the Persian period, trang 88
  97. ^ Alison Behnke, The Conquests of Alexander the Great, trang 60
  98. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 140
  99. ^ a ă â Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 90
  100. ^ a ă â b c J. Poolos, Darius the Great, trang 109
  101. ^ Ongsotto, Et Al, Asian History Module-based Learning Ii' 2002 Ed, trang 81
  102. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 409
  103. ^ Dennis Abrams, Xerxes, trang 31
  104. ^ Dennis Abrams, Xerxes, trang 33
  105. ^ Samuel Willard Crompton, Alexander the Great, trang 33
  106. ^ Dennis Abrams, Xerxes, trang 34
  107. ^ a ă V. Gilbert Beers, The Victor Journey Through the Bible, trang 178
  108. ^ Samuel Willard Crompton, Alexander the Great, trang 34
  109. ^ Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang 42
  110. ^ Dennis Abrams, Xerxes, trang 13
  111. ^ a ă Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 91
  112. ^ Dennis Abrams, Xerxes, trang 79
  113. ^ Dennis Abrams, Xerxes, trang 89
  114. ^ Samuel Willard Crompton, Alexander the Great, trang 36
  115. ^ Dennis Abrams, Xerxes, trang 102
  116. ^ a ă Nigel Guy Wilson, Encyclopedia of ancient Greece, trang 555
  117. ^ Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang 69
  118. ^ a ă â Peter Roberts, Ancient history, Sách 2, trang 90
  119. ^ Dennis Abrams, Xerxes, trang 126
  120. ^ Dennis Abrams, Xerxes, trang 30
  121. ^ Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang XI
  122. ^ Peter Roberts, Ancient history, Sách 2, trang 91
  123. ^ David Down, The Archaeology Book
  124. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 588
  125. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 253
  126. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 268
  127. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 772
  128. ^ Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang 37
  129. ^ Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, trang 30
  130. ^ a ă Samuel Willard Crompton, Alexander the Great, trang 37
  131. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 46
  132. ^ a ă Arrian, James S. Romm, Alexander the Great: selections from Arrian, Diodorus, Plutarch, and Quintus Curtius, trang 175
  133. ^ a ă Grolier Incorporated, The Encyclopedia Americana: International Edition, Tập 1;Tập 8, trang 30
  134. ^ Samuel Willard Crompton, Alexander the Great, trang 39
  135. ^ a ă â Samuel Willard Crompton, Alexander the Great, trang 100
  136. ^ Samuel Willard Crompton, Alexander the Great, trang 101
  137. ^ Freeman 1999: p. 188
  138. ^ Engineering an Empire – The Persians. Broadcast of The History Channel, narrated by Peter Weller
  139. ^ Pierre Briant (2006). From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire. Eisenbrauns. tr. 261. ISBN 978-1-57506-120-7. 
  140. ^ Herodotus, Herodotus, trans. A.D. Godley, vol. 4, book 8, verse 98, pp. 96–97 (1924).
  141. ^ “YouTube”. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]