Húc Liệt Ngột chào đời khoảng năm 1217, là con trai thứ ba của hoàng tử Mông Cổ Đà Lôi và bà vợ chính thất Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni.[2] Ông có hai người anh trai ruột là Mông Kha (s.1209) và Hốt Tất Liệt (s.1215), cùng một người em trai út là A Lý Bất Ca. Không tồn tại ghi chép chi tiết nào về thời ấu thơ hoặc niên thiếu của Húc Liệt Ngột, ngoại trừ một giai thoại được kể lại trong cuốn Jami' al-tawarikh của sử gia Ba Tư Rashid al-Din: cậu bé Húc Liệt Ngột khi mới 8 tuổi và anh trai Hốt Tất Liệt 10 tuổi mừng rỡ khoe khoang thành tích săn bắn với ông nội Thành Cát Tư Hãn sau khi vị này trở về từ cuộc thảo phạt Khwazarm.[3]
Một khi đủ tuổi, Húc Liệt Ngột cưới Quý Do của thị Oirat làm chính thất.[a] Ông có với bà một người con trai tên Jumghur và một người con gái tên Buluqan Aqa. Sau cái chết yểu mệnh của Quý Do,[b] Húc Liệt Ngột lấy Qutui của thị Hoằng Cát Lạt và em gái chung nửa dòng máu với vợ cũ là Öljei làm vợ.[5]
Cùng với những người anh em ruột, Húc Liệt Ngột tham dự kurultai năm 1251 bên sông Kherlen và ủng hộ việc anh trai cả Mông Kha nối ngôi khả hãnQuý Do sau khi vị này đột ngột băng hà vài năm trước đó.[6]
Trong những năm 1252–53, Khả hãn Mông Kha khởi động một loạt các chiến dịch quân sự – chính sách vốn bị đình hoãn dưới thời Quý Do – nhằm củng cố những vùng lãnh thổ chưa hoàn toàn sáp nhập vào Đại Mông Cổ, đồng thời khẳng định uy quyền ngai vị của bản thân sau một loạt lục đục hậu cung với các chi họ Sát Hợp Đài và Oa Khoát Đài.[7] Húc Liệt Ngột, với tư cách là em trai ruột của Khả hãn, được phong tước ilkhan (n.đ.'thân vương, phó cấp của Khả hãn') và cử đi bình định Trung Đông. Sứ mệnh của ông là triệt hạ các thành trì Nizāriyya của hội Assassin trên dãy núi Alborz và Quhistan. Ngoài ra, ông cũng được lệnh thu phục khalipal-Musta'sim của nhà Abbas tại Baghdad, cũng như các dân tộc Lur và Kurd ở Shahrazūr.
Bởi Mông Kha đã biên chế phần lớn thân binh của chi họ mình tại quê nhà cho cuộc xâm lược Nam Tống quy mô hơn, Húc Liệt Ngột chỉ được phép dùng không quá 1/5 lính bản bộ và phải tận dụng quân sĩ nằm ngoài quyền cai quản của chi họ – tức từ gia hộ của anh em bên chi họ Oa Khoát Đài, Sát Hợp Đài và Truật Xích. Một số sử gia như Thomas T. Allsen không để ý đến điều này mà cho rằng: ngoài những nhiệm vụ đã nêu bên trên, mục đích của Húc Liệt Ngột còn là kiến tạo cơ sở cát cứ của chi họ Đà Lôi tại Iran, nhằm lấn lướt lợi ích của các chi họ Thành Cát Tư khác trong tương lai gần. Song, như sử gia Micheal Hope đã chỉ ra, quá nửa lực lượng của Húc Liệt Ngột có lòng trung thành mập mờ với ông nói riêng và chi họ Đà Lôi nói chung, và bản thân ông cũng đã được lệnh trở về Mông Cổ một khi chiến dịch kết thúc.[8]
Ngoài binh lính Mông Cổ, Húc Liệt Ngột tuyển mộ đinh tráng người Khiết Đan, Mãn Châu, Đột Quyết vào đoàn viễn chinh. Bên cạnh đó, một "vạn hộ" công binh người Hán có tài nghệ chế tạo máy lăng đá, máy bắn tên, hỏa khí, cũng được trọng dụng để chuẩn bị đánh công kiên ở Trung Đông.[9] Nhằm đảm bảo có đủ đồng cỏ cho gia súc gặm, các tamma (n.đ.'quân trấn nhậm') Mông Cổ ở biên giới phía tây được lệnh di dời: noyan Baiǰu đóng tại Azerbaijan, tuy bất mãn, vẫn phải chấp hành dời quân sang Tiểu Á để nhường chỗ cho quân kỵ của Húc Liệt Ngột. Tướng Ket-Buqa được lệnh cầm 12.000 tiền quân tiến vào Iran trước.[10]
Tháng 2 năm 1253, Húc Liệt Ngột trở về ordu của mình để sửa soạn cho cuộc viễn chinh Iran. Mùa thu năm 1254,[c] ông xuất chinh từ Karakorum.[11] Không rõ lộ trình chi tiết của đạo quân này song một số chặng dừng tiêu biểu vẫn được sử sách ghi lại. Hè năm 1255, Húc Liệt Ngột cho quân kị nghỉ ở Almalyk thuộc ulus Sát Hợp Đài; nhiếp chính Mông Cổ sở tại là Khả Đôn Orqina tiếp đón và khao quân Mông Cổ rất hậu.[12] Đoàn người rời đi vào một thời điểm không rõ, đặt chân đến Samarkand vào tháng 10, nghỉ lấy sức 40 ngày rồi tới Kish (nay là Shahrisabz).[13] Ngày 1 tháng 1 năm 1256, quân Mông Cổ vượt sông Amu Darya, tránh trú bão tuyết tại Shiburghan.[14] Theo Rashid al-Din, khi hay tin đại quân Mông Cổ kéo đến ngạn Ba Tư của Amu Darya để trừng phạt hội Assassin, các lãnh chúa của Rūm, Fars, Iraq, Azerbaijan, Arran, Shirvan và Gruzia đã lập tức cử sứ giả đến minh xác lòng trung thành với Đại Mông Cổ và tiếp tế binh lực.[15]
Tháng 5 năm 1256, Húc Liệt Ngột đoạt thành Tun tại Quhistan sau một trận vây hãm chớp nhoáng.[d] Quân Mông Cổ đi tiếp tới Tus, thu thập lương thảo và đánh chén yến tiệc, đến Bistam vào ngày 2 tháng 9, rồi Maymun Diz – trị sở đầu não của hội Assassin – vào ngày 7 tháng 11. Ba tümen Mông Cổ của ulus Truật Xích được cử sang tăng viện cho Húc Liệt Ngột.
Thoát Đa Cách Gia Cáp đôn (脫多格加哈敦), ban đầu gả cho Đăng Cát Tư (鄧吉斯), sau tái giá với con trai Đăng Cát Tư là Tô La Mễ Thất (蘇拉米什) rồi con trai Mễ Thất là Tề Tát Khắc (齊查克).
Nogachin Aghchi (奴哈真阿哈赤, Nô Cáp Chân A Cáp Xích), vốn là thị nữ của Hốt Thôi Cáp đôn.
Joshmut (尤什穆特, Vưu Thập Mục Dặc, 1234 - 1271), Tổng đốc khu vực Arran và Shirvan. Hậu duệ của ông là Suleiman Khan, một trong những người tranh giành ngôi vị Đại hãn.
Ajuja Agachi (阿朱加阿哈赤, A Chu Gia A Cáp Xích), người Khiết Đan, vốn là thị nữ của Thoát Cổ Tư Cáp đôn.
Qonqurtai (哈罕台, Cáp Hãn Đài), Tổng đốc Anatolia, bị A Lỗ Hồn xử tử.
Yeshichin Agachi (也失真阿哈赤, Dã Thất Chân A Cáp Xích), người bộ tộc Kür'lüüt, vốn là thị nữ của Hốt Thôi Cáp đôn.
Yesüder (也速達爾, Dã Tốc Đạt Nhĩ), Tổng đốc Khorasan
Không rõ tên, gả cho Dã Tiên Bốc Cáp (也仙不花)
El Agachi (額爾阿哈赤, Ngạch Nhĩ A Cáp Xích), người bộ tộc Khongirad, vốn là thị nữ của Hốt Thôi Cáp đôn.
Hulachu (忽拉出, Hốc Liệt Xu,? - 1289), bị A Lỗ Hồn xử tử.
Shiba'uchi (失白烏赤, Thất Bạch Ô Xích,? - 1282)
Irqan Agachi (爾干阿哈赤, Nhĩ Can A Cáp Xích)
Tháp La Hải Cáp đôn (塔拉海哈敦), gả cho Tháp Hải Thiết Mộc Nhi (塔海帖木兒) của bộ tộc Khongirad, con trai Công chúa Thiết Mộc Luân (帖木倫), con gái Thành Cát Tư Hãn.
Mangligach Agachi (忙里加奇阿哈赤, Mang Lý Gia Kỳ A Cáp Xích)
Hốt Đồ Luân Can Cáp đôn (忽圖倫干哈敦), gả cho Dã Tốc Bất Cáp (也速不花), tái giá với Đồ Khắc Nhĩ (圖克爾).
Không rõ họ, vốn là thị nữ của Hốt Thôi Cáp đôn.
Toqai Timur (脫海帖木兒, Thoát Hải Thiếp Mộc Nhi,? - 1289)
↑Bà này là con gái ruột của hoàng nữ Xà Xà Cán (chị ruột của Đà Lôi), tức cháu gái (gọi bằng ông ngoại) của Thành Cát Tư Hãn. Vì vậy bà là chị họ của Húc Liệt Ngột theo tôn ti gia đình.
↑Rashid al-Din khẳng định Húc Liệt Ngột vẫn còn ở bên cạnh vợ khi bà đột ngột qua đời tại Mông Cổ, tức là trước thời điểm ông xuất hành đi đánh Trung Đông. Sử gia Bar Hebraeus (1226–1286) thì lại ngụ ý rằng Khả đôn Quý Do mất vào thời điểm nào đó sau năm 1253.[4]
↑Hầu hết các sử phẩm về sau cho rằng năm xuất chinh là 1253 song theo sử gia Jason Smith Jr. (2006) thì đây nhiều khả năng là sai lầm dựa trên ghi chép của Rashid al-Din.
↑Các sử liệu của Rashid al-Din và Juvayni đều cho rằng ngày đoạt thành Tun là Rabi I theo Lịch Hồi giáo, tức ngày 29 tháng 3 theo Dương lịch.
Allsen, Thomas T. (1987). Mongol Imperialism: The Policies of the Grand Qan Mongke in China, Russia, and the Islamic Lands, 1251-1259[Chủ nghĩa đế quốc Mông Cổ: Chính sách của Đại hãn Mông Kha tại Trung Quốc, Nga, và các vùng đất Hồi giáo, 1251-1259] (bằng tiếng Anh). Berkeley, Los Angeles & London: Nhà xuất bản Đại học California. ISBN0-520-05527-6.
Biran, Michal (2016). "The Islamisation of Hülegü: Imaginary Conversion in the Ilkhanate" [Sự Hồi hóa của Húc Liệt Ngột: Cuộc cải đạo tưởng tượng ở Hãn quốc Y Nhi]. Journal of the Royal Asiatic Society[Tạp chí của Hội Á châu Hoàng gia] (bằng tiếng Anh). 26 (1–2). Nhà xuất bản Đại học Cambridge: 79–88. doi:10.1017/S1356186315000723. JSTOR24756041.
Broadbridge, Anne F. (2016). "Marriage, Family and Politics: The Ilkhanid-Oirat Connection" [Hôn nhân, Gia đình và Chính trị: Mối liên hệ Y Nhi - Oirat]. Journal of the Royal Asiatic Society[Tạp chí của Hội Á châu Hoàng gia] (bằng tiếng Anh). 26 (1–2). Nhà xuất bản Đại học Cambridge: 121–135. doi:10.1017/S1356186315000681. JSTOR24756044.
De Nicola, Bruno (2017). Women in Mongol Iran: The Khatuns, 1206-1335[Phụ nữ ở Iran thuộc Mông Cổ: Các Khả đôn, 1206-1335] (bằng tiếng Anh). Edinburgh: Nhà xuất bản Đại học Edinburgh. ISBN978-1-4744-1549-1.
Hope, Michael (2017). "Some Remarks about the Use of the Term 'īlkhān' in the Historical Sources and Modern Historiography" [Một số ghi chú về danh hiệu 'īlkhān' trong các nguồn sử liệu và sử biên học hiện đại]. Central Asiatic Journal (bằng tiếng Anh). 60 (1–2). Harrassowitz Verlag: 273–299. doi:10.13173/centasiaj.60.1-2.0273. JSTOR10.13173/centasiaj.60.1-2.0273.
Kamola, Stefan; Morgan, David O. (2023). "The Ilkhante, 1260–1335" [Hãn quốc Y Nhi, 1260–1335]. Trong Biran, Michal; Kim, Hodong (biên tập). The Cambridge History of the Mongol Empire[Lịch sử Cambridge về Đế quốc Mông Cổ] (bằng tiếng Anh). Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr.181–242. ISBN978-1-3163-3742-4.
Moradi, Amin (2024). "The Tomb and treasury of Hülegü Khan" [Lăng mộ và kho bạc của Húc Liệt Ngột Hãn]. Asian Archaeology[Khảo cổ học Á châu] (bằng tiếng Anh). 8 (1). Springer Nature: 21–35. doi:10.1007/s41826-024-00082-y. ISSN2520-8098.
Pubblici, Lorenzo (2022). Mongol Caucasia: Invasions, Conquest, and Government of a Frontier Region in Thirteenth-Century Eurasia (1204-1295)[Kavkaz thuộc Mông Cổ: Xâm lược, Chinh phạt, và Chính phủ của khu vực biên thùy Á-Âu thế kỷ thứ 13 (1204-1295)] (bằng tiếng Anh). Hà Lan: Brill. ISBN978-9-0045-0355-7.
Komaroff, Linda, biên tập (2006). Beyond the Legacy of Genghis Khan[Hơn cả di sản của Thành Cát Tư Hãn] (bằng tiếng Anh). Hà Lan: Brill. ISBN978-90-04-15083-6.
Smith Jr., John Masson. "Hülegü Moves West: High Living and Heartbreak on the Road to Baghdad" [Húc Liệt Ngột tây tiến: Sống sang và nỗi đau trên con đường tới Baghdad]. Trong Komaroff (2006), tr.111–134.
Saliba, George. "Horoscopes and Planetary Theory: Ilkhanid Patronage of Astronomers" [Kính vạn hoa và thuyết hành tinh: Sự bảo trợ các thiên văn gia ở Hãn quốc Y Nhi]. Trong Komaroff (2006), tr.357–368.