Hồ Urmia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Hồ Urmia
Lake urmia 1984.jpg
Hồ Urmia từ không gian năm 1984
Địa lý
Tọa độ 37°42′B 45°19′Đ / 37,7°B 45,317°Đ / 37.700; 45.317Tọa độ: 37°42′B 45°19′Đ / 37,7°B 45,317°Đ / 37.700; 45.317
Kiểu hồ Hồ nước mặn
Nguồn thoát đi chính Bay hơi
Quốc gia lưu vực Iran
Độ dài tối đa 140 km (87 mi)
Độ rộng tối đa 55 km (34 mi)
Diện tích bề mặt 5.200 km2 (2.000 sq mi)
Độ sâu tối đa 16 m (52 ft)
Các đảo 102 (Xem Hồ Urmia)

Hồ Urmia (tiếng Ba Tư: دریاچه ارومیه‎, Daryache-ye Orumiye, tiếng Azerbaijan: Urmu gölü اورمو گؤلو, Tiếng Kurd Wermy,tiếng Armenia: Ուրմիա Լիճ, "Urmia Lich"; tên cổ đại: Hồ Matiene) là một hồ nước mặn ở tây bắc Iran gần biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ.[1][2]

Hồ nằm ở giữa các tỉnh Đông AzarbaijanTây Azerbaijan, phần tương tự phía tây nam biển Caspi. Nó là hồ nước lớn nhất Trung Đông là và hồ nước mặn lớn thứ 6 trên thế giới với diện tích bề mặt xấp xỉ 5,200 km² (2,000 mile²), chiều dài 140 km (87 mi) length, 55 km (34 mi), và độ sâu 16 m (52 ft).[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Henry, Roger (2003) Synchronized chronology: Rethinking Middle East Antiquity: A Simple Correction to Egyptian Chronology Resolves the Major Problems in Biblical and Greek Archaeology Algora Publishing, New York, p. 138, ISBN 0-87586-191-1
  2. ^ E. J. Brill's first encyclopaedia of Islam, 1913–1936, vol. 7, page 1037 citing StraboClaudius Ptolemaeus.
  3. ^ “Britanica”. Britannica.com. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]