Đế quốc Akkad

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đế quốc Akkad
Sumer|
 

 
Vương quốc Mari thứ hai|
khoảng 2334 TCN — khoảng 2154 TCN Sumer (Triều đại Guti)|
 
Vương quốc Mari thứ Ba|
Bản đồ Đế quốc Akkad (nâu)
Thủ đô Akkad
Ngôn ngữ Tiếng Akkad
Tôn giáo Tôn giáo Sumer
Chính quyền Quân chủ
Vua
 •  2334–2279 TCN Sargon (đầu tiên)
 •  2170–2154 TCN Shu-turul (cuối cùng)
Giai đoạn lịch sử Thời đại đồ đồng
 •  Thành lập khoảng 2334 TCN
 •  Sargon chinh phục toàn Akkad khoảng 2340 TCN — khoảng 2284 TCN
 •  Bãi bỏ khoảng 2154 TCN
Diện tích
 •  2334 TCN[1] 800.000 km² (308.882 sq mi)
Hiện nay là một phần của
Bản đồ Iraq cho thấy những vị trí quan trọng mà Đế quốc Akkad từng chiếm giữ

Đế quốc Akkad /əˈkdiən/[2]là đế quốc nói tiếng Semit cổ đại đầu tiên của Mesopotamia, trung tâm của nó nằm ở thành phố Akkad /ˈækæd/[3] ở khu vực Mesopotamia cổ đại và vùng đất xung quanh nó, cũng được gọi là Akkad trong Kinh thánh. Đế quốc này đã thống nhất người Akkad và những cư dân nói tiếng Sumer khác nằm dưới sự cai trị của một vị vua chung. Đế quốc Akkad còn mở rộng ảnh hưởng của nó ra khắp toàn bộ khu vực Mesopotamia, Cận ĐôngAnatolia, và tiến hành những cuộc viễn chinh quân sự xa về phía Nam tới tận DilmunMagan (ngày nay là BahrainOman) ở bán đảo Ả rập[4].

Vào thiên niên kỷ thứ 3 TCN, giữa người Sumer và Akkad đã có một sự giao thoa văn hoá rất mật thiết bao gồm cả việc sử dụng song ngữ một cách phổ biến.[5] Tiếng Akkad đã dần dần thay thế tiếng Sumer như là một ngôn ngữ nói trong khoảng thời gian từ giữa thiên niên kỷ thứ 3 cho đến thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên (niên đại chính xác hiện vẫn đang được tranh luận)[6]

Đế quốc Akkad đạt đến giai đoạn đỉnh cao của nó là vào khoảng thời gian từ thế kỷ 24 cho đến thế kỷ 22 trước Công nguyên, sau những cuộc chinh phạt của vị vua sáng lập nên nó là Sargon của Akkad[7]. Dưới triều đại của Sargon và những vị vua kế vị ông, các quốc gia láng giếng bị họ chinh phục như ElamGuti đã phải sử dụng tiếng Akkad trong một thời gian ngắn. Đôi khi, Akkad được coi là đế quốc đầu tiên trong lịch sử, mặc dù ý nghĩa của thuật ngữ này không chính xác, và còn có nhiều người cho rằng nó đáng lý phải thuộc về người Sumer trước đó[8][9].

Sau khi đế quốc Akkad sụp đổ, người dân Mesopotamia cuối cùng cũng được thống nhất lại thành hai cường quốc nói tiếng Akkad: Assyria ở phía Bắc, và một vài thế kỷ sau là Babylonia ở phía Nam.

Lịch sử nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh thánh đề cập đến Akkad trong sách Sáng thế 10:10 và nói rằng vương quốc của Nimrod khởi nguồn từ vùng đất của Akkad. Tên tuổi thực sự của Nimrod vẫn chưa được xác định rõ, nhưng một số người đã so sánh ông ta với vị anh hùng truyền thuyết Gilgamesh, người đã sáng lập ra thành phố Uruk[10][11] . Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã thu thập được khoảng 7.000 văn bản có từ thời kỳ Akkad, chúng viết bằng cả tiếng SumerAkkad. Rất nhiều văn bản trong số này thuộc về các quốc gia kế tục của AssyriaBabylonia và cũng đã đề cập tới đế quốc Akkad[11].

Sự hiểu biết của chúng ta về đế quốc Akkad còn tiếp tục gặp trở ngại bởi thực tế đó là vị trí kinh đô Akkad của nó vẫn chưa được xác định chính xác, bất chấp rất nhiều nỗ lực [12][13]. Việc xác định chính xác niên đại của các di chỉ khảo cổ học còn bị cản trở bởi thực tế đó là không có sự khác biệt rõ ràng giữa những đồ tạo tác mà được cho là thuộc về giai đoạn Sơ kỳ triều đại trước đó, với những thứ được cho là của người Akkad. Tương tự như vậy, những chất liệu được cho là của người Akkad vẫn tiếp tục được sử dụng vào thời kỳ vương triều thứ Ba của Ur.[14]

Phần lớn những hiểu biết gần đây của chúng ta về Đế quốc Akkad đều bắt nguồn từ các cuộc khai quật ở khu vực Thượng Khabur thuộc khu vực đông bắc Syria ngày nay, khu vực này đã trở thành một phần của Assyria sau khi Akkad sụp đổ. Ví dụ, các cuộc khai quật tại Tell Mozan (Urkesh cổ đại) đã phát hiện ra một dấu niêm phong của Tar'am-Agade, một người con gái mà trước đây chưa hề được biết đến của Naram-Sin, bà có thể đã kết hôn với một endan (lãnh chúa) địa phương chưa rõ danh tính .[15] Các nhà khai quật ở gần Tell Leilan (Shekhna / Shubat-Enlil cổ đại) đã sử dụng các kết quả từ cuộc khai quật của họ để lập luận rằng sự sụp đổ của Đế quốc Akkad là do một sự khô hạn đột ngột, nó còn được gọi là sự kiện 4,2 ngàn năm[16]. Tác động của sự kiện biến đổi khí hậu này đối với khu vực Lưỡng Hà nói chung, và đặc biệt là đối với Đế chế Akkad nói riêng, vẫn đang tiếp tục được tranh luận một cách gay gắt.[17]

Thông qua việc khai quật tại địa điểm ngày nay là Tell Brak, các nhà khảo cổ học đã đưa ra giả thuyết cho rằng người Akkad đã xây dựng lại một thành phố ("Brak" hoặc "Nagar") tại địa điểm này để sử dụng như là một trung tâm hành chính. Thành phố này gồm có hai tòa nhà lớn gồm cả một khu phức hợp với đền thờ, văn phòng, sân trong và cả những lò nướng lớn.[18][19]

Niên đại[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Akkad thường được cho là có niên đại vào khoảng từ năm 2334 TCN - năm 2154 trước Công nguyên (dựa theo bảng niên biểu tầm trung của Cận Đông cổ đại), hoặc từ khoảng năm 2270 TCN - c. 2083 TCN (dựa theo bảng niên biểu ngắn của Cận Đông Cổ đại). Nó đã nối tiếp thời kỳ Tiền triều đại của Lưỡng Hà (ED) và kế tiếp sau đó là thời kỳ vương triều thứ Ba của Ur, mặc dù vậy cả hai quá trình chuyển tiếp này đều không rõ ràng. Ví dụ: Có khả năng là sự trỗi dậy của vua Sargon của Akkad đã diễn ra trùng với giai đoạn cuối của thời kỳ Tiền triều đại và những vị vua cuối cùng của Akkad đã cai trị một cách đồng thời với các vị vua Guti và song song với các vị vua ở cả hai thành phố UrukLagash. Thời kỳ Akkad lại cùng thời với: giai đoạn EB IV (ở Israel), EB IVA và EJ IV (ở Syria), và EB IIIB (ở Thổ Nhĩ Kỳ).[11][20]

Mốc thời gian của các vị vua[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Niên đại tầm trung
TCN
Niên đại ngắn
TCN
Sargon 2334–2279
Rimush 2278–2270
Manishtushu 2269–2255
Naram-Sin 2254–2218
Shar-Kali-Sharri 2217–2193
Giai đoạn đứt quãng 2192–2190
Dudu 2189–2169
Shu-turul 2168–2154

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thời Sargon của Akkad[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Taagepera, Rein (1978). “Size and duration of empires growth-decline curves, 3000 to 600 B.C.”. Social Science Research 7: 180–195. doi:10.1016/0049-089X(78)90010-8. 
  2. ^ Akkadian URUAkkad KI, Hittite KUR A.GA.DÈ.KI "land of Akkad"; Biblical Hebrew אַכַּד Akkad)
  3. ^ Sumerian: Agade
  4. ^ Mish, Frederick C., Editor in Chief. "Akkad" Webster’s Ninth New Collegiate Dictionary. ninth ed. Springfield, MA: Merriam-Webster 1985. ISBN 0-87779-508-8).
  5. ^ Deutscher, Guy (2007). Syntactic Change in Akkadian: The Evolution of Sentential Complementation. Oxford University Press US. tr. 20–21. ISBN 978-0-19-953222-3. 
  6. ^ Woods, C. (2006). “Bilingualism, Scribal Learning, and the Death of Sumerian” (PDF). S.L. Sanders (ed) Margins of Writing, Origins of Culture: 91–120. Chicago. 
  7. ^ Zettler (2003), p. 20. "Brinkman's chronology places Sargon's accession at 2334, his successors, Naram-Suen and Sharkalisharri, under whom the dynasty presumably collapsed, at 2254–2218 and 2217–2193, respectively, and the Third Dynasty of Ur at 2112–2004. however, Brinkman noted that if Hallo's 40 year Gutian interregnum is correct then the Dynasty of Akkade would have to be dated 2293–2113. The middle chronology, however, is under attack, with various scholars arguing strongly in favor of a low(er) chronology and for various reasons. Without going into detail, Boese has placed Sargon's accession at shortly after 2250 (1982), Gasche, Armstrong, Cole and Gurzadyan at 2200 (1998) and Reade at 2180 (2001), with the Third Dynasty of Ur moved according."
  8. ^ F Leo Oppenhiem - Ancient Mesopotamia
  9. ^ Liverani (1993), p. 3. "The factual criticism is that empires existed even before Akkad: or more properly that the term and concept of 'empire' has been recently applied (on not worse grounds than in the case of Akkad) to other older cases, from the Uruk of the late-Uruk period to the Ebla of the royal archives, to the very state formations of the Sumerian south in the period called in fact 'proto-imperial'. In no case is the Akkad empire an absolute novelty [...] 'Akkad the first empire' istherefore subject to criticism not only as for the adjective 'first' but especially as for the noun 'empire'.
  10. ^ Dalley, Stephanie (1997). The Legacy of Mesopotamia. New York: Oxford University Press. tr. 116. ISBN 9780198149460. 
  11. ^ a ă â Schrakamp, Ingo (2013). “Sargon of Akkad and his dynasty”. Trong Bagnall, Roger S. The Encyclopedia of Ancient History. Chicago: Blackwell. tr. 6045–6047. doi:10.1002/9781444338386.wbeah24182. 
  12. ^ Wall-Romana, Christophe (1990). “An Areal Location of Agade”. Journal of Near Eastern Studies 49 (3): 205–245. JSTOR 546244. doi:10.1086/373442. 
  13. ^ Weiss, Harvey (1975), “Kish, Akkad and Agade”, Journal of the American Oriental Society 95 (3): 434–453, JSTOR 599355, doi:10.2307/599355 
  14. ^ McMahon, Augusta (2006). The Early Dynastic to Akkadian Transition. The Area WF Sounding at Nippur (PDF). Chicago: Oriental Institute. ISBN 1-885923-38-4. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015. 
  15. ^ Buccellati, Giorgio; Kelly-Buccellati, Marilyn (2002). “Tar’am-Agade, Daughter of Naram-Sin, at Urkesh” (PDF). Trong Al-Gailani Werr, Lamia. Of Pots and Plans. Papers on the Archaeology and History of Mesopotamia and Syria presented to David Oates in Honour of his 75th Birthday. London: Nabu. tr. 11–31. ISBN 1897750625. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015. 
  16. ^ Weiss, H và đồng nghiệp (1993). “The Genesis and Collapse of Third Millennium North Mesopotamian Civilization”. Science 261 (5124): 995–1004. Bibcode:1993Sci...261..995W. PMID 17739617. doi:10.1126/science.261.5124.995. 
  17. ^ Wiener, Malcolm H. (2014). “The Interaction of Climate Change and Agency in the Collapse of Civilizations ca. 2300–2000 BC”. Radiocarbon 56 (4): S1–S16. doi:10.2458/azu_rc.56.18325.  Đã bỏ qua tham số không rõ |citeseerx= (trợ giúp)
  18. ^ J. Oates (2004), pp. 5–8. "Following the destruction of the city sometime in the twenty-third century BC, Nagar was rebuilt by officials of the Akkadian Dynasty as a major centre of their provincial administration, a fact clearly attested in the cuneiform documents from this site."
  19. ^ David Oates & Joan Oates, "Akkadian Buildings at Tell Brak"; Iraq 59, 1989.
  20. ^ Pruß, Alexander (2004), “Remarks on the Chronological Periods”, trong Lebeau, Marc; Sauvage, Martin, Atlas of Preclassical Upper Mesopotamia, Subartu 13, tr. 7–21, ISBN 2503991203 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]