Đế quốc Thụy Điển

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Konungariket Sverige
Vương quốc Thụy Điển

1561–1721  

Quốc kỳ Quốc huy
Cờ Huy hiệu Hoàng gia
Vị trí của Đế quốc Thụy Điển
Đế quốc Thụy Điển vào thời cực thịnh năm 1658. Các lãnh thổ hải ngoại không được chỉ ra ở đây.
Thủ đô Stockholm
Ngôn ngữ Tiếng Thụy Điển, Tiếng Phần Lan, Tiếng Na Uy, Tiếng Estonia, Sami, Đức, Livonia, Latvia, Đan Mạch
Tôn giáo Giáo hội Luther
(Chính Thống giáo Đông phương được công nhận là tôn giáo thiểu số)
Chính thể Quân chủ lập hiến
De jure
Phong kiến tập quyền
De facto từ năm 1680
Vua
 - 1611–1632 Gustav II Adolf
 - 1632–1654 Kristina
 - 1654–1660 Karl X Gustav
 - 1660–1697 Karl XI
 - 1697–1718 Karl XII
Đại Pháp quan
 - 1612–1654 Axel Oxenstierna
 - 1654–1656 Erik Oxenstierna
 - 1660–1686 Magnus Gabriel De la Gardie
Lập pháp Riksdag of the Estates
Thời đại lịch sử Châu Âu cận đại
 - Khởi đầu năm 1561
 - Giải thể 1721
Dân số
 - Thế kỷ 17 ước tính 2.500.000 
Tiền tệ Riksdaler, Mark (cho đến 1664), Carolin (từ 1664)
Hiện nay là một phần của  Đan Mạch
 Estonia
 Phần Lan
 Đức

 Latvia
 Lithuania
 Na Uy
 Ba Lan
 Nga
 Thụy Điển
 Åland Islands

Thuật ngữ Đế quốc Thụy Điển dùng để chỉ tới Vương quốc Thụy Điển từ năm 1561 (sau khi chinh phục Estonia) cho tới 1721 (khi Thụy Điển chính thức nhượng lại lãnh thổ rộng lớn ở phía đông Phần Lan cho cường quốc đang nổi lên là Nga). Trong thời gian này, Thụy Điển là một trong những liệt cường ở châu Âu.[1] Tại Thụy Điển, giai đoạn này được gọi là Stormaktstiden, có nghĩa là "Kỷ nguyên Đế quốc".[1] Khởi đầu vào năm 1611 (khi Gustav Adolf lên ngôi) và kết thúc vào năm 1718 (sau cái chết của Karl XII và kết thúc của cuộc Đại chiến Bắc Âu). Để gia tăng quyền lực chính trị, đáng chú ý nhất là bằng cách trở thành một trong số hai cường quốc bảo lãnh cho Hòa ước Westfalen, đã được gộp vào với việc gia tăng lãnh thổ cho phép thực hiện đầy đủ khái niệm dominium maris baltici. Ngày khởi đầu và kết thúc của thời kỳ này không được thống nhất giữa các nhà sử học.

Sau cái chết của Gustav Adolf năm 1632, đế quốc bị điều khiển bởi một nhóm quý tộc có danh vọng, nổi bật nhất là nhà Oxenstierna, làm gia sư cho vị nhiếp chính nhỏ tuổi. Quyền lợi của họ tương phản với chính sách đồng nhất, nghĩa là họ phát huy truyền thống bình đẳng trong tình thế bất động sản ruộng đất Thụy Điển được nhà vua và tầng lớp nông dân ủng hộ. Vùng lãnh thổ thổ mua lại được trong giai đoạn này de facto với luật lệ quý phái, chế độ nông nô đã được bãi bỏ, và cũng là một xu hướng thiết lập bất động sản thích hợp hơn ở Thụy Điển. Cuộc đảo chính 1680 đặt dấu chấm hết cho những nỗ lực của giới quý tộc và bắt họ trả lại những gì đã lấy của nhà vua. Tuy nhiên, chế độ nông nô vẫn còn có hiệu lực ở các vùng đất chiếm được từ Thánh chế La MãEstonia, nơi mà là kết quả của chính sách thống nhất bị cản trở bởi các điều ước quốc tế mà họ đã thu được.

Sau khi dành chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Ba mươi năm khốc liệt, stormaktstiden đã đạt đến đỉnh cao trong cuộc chiến tranh Bắc Âu lần thứ hai, khi đối thủ chính là Đan Mạch đã bị vô hiệu hóa bởi Hòa ước Roskilde năm 1658. Tuy nhiên, để có thể duy trì sự cường thịnh của đế chế trong quá trình tiếp theo của cuộc chiến này cũng như trong cuộc chiến tranh Scanian sau đó là nhờ sự hỗ trợ của đồng minh thân cận nhất là Pháp. Karl XI của Thụy Điển đã củng cố lại đế quốc và đảm bảo một thời kỳ hòa bình trước khi [2], SachsenĐan Mạch liên minh với nhau để tấn công người kế nhiệm ông, tức Karl XII. Sau khi quân đội Thụy Điển giành được những chiến công vang dội vào thời kỳ đầu của cuộc chiến, Karl VII tiếp tục duy trì được đế chế, nhưng đây lại là lần cuối cùng, dựa trên Hòa ước Travendal (1700)Hiệp ước Altranstädt (1706). Trận Poltava (1709) đã khiến cho "Kỷ nguyên Đế quốc" của Thụy Điển kết thúc một cách đột ngột.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1611, sau khi vua cha qua đời, Gustav II Adolf lên ngôi lúc 17 tuổi, bắt đầu thời kỳ Thụy Điển vươn lên trở thành cường quốc. Ông tham chiến trong nhiều cuộc chiến tranh thời đó.[3] Vào năm 1700, ba nước láng giềng là Đan Mạch, Ba LanNga mở đầu cuộc Đại chiến Bắc Âu (1700-1721) chống lại Thụy Điển. Vua Karl XII của Thụy Điển lần lượt đánh tan tác quân Đan Mạch, quân Nga và cả quân Ba Lan.[4] Nhưng vào năm 1709, một vị vua lớn trong lịch sử NgaPyotr Đại Đế đánh tan tác quân Thụy Điển bị trong trận Poltava (1709).[5] Vua Karl XII chết vào năm 1718, và rồi Thụy Điển không còn là cường quốc nữa, mất đất về tay Đế quốc NgaVương quốc Phổ.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Ba mươi năm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Frost 2000, tr. 133–134
  2. ^ Nga
  3. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 23
  4. ^ Byron J. Nordstrom, The history of Sweden, trang 48
  5. ^ Gregory L. Freeze, Russia: a history, Oxford University Press, 2002, trang 102. ISBN 0-19-860511-0.