Trận Narva (1700)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Narva
Một phần của Đại chiến Bắc Âu
Narva 1700.png
"Carl Gustaf Rehnskiöld vid Narva" by David von Krafft
.
Thời gian ngày 19 tháng 11 năm 1700 (Lịch Julius)
ngày 20 tháng 11 năm 1700 (Swedish calendar)
ngày 30 tháng 11 năm 1700 (Lịch Gregorius)
Địa điểm Narva, Đế quốc Thụy Điển
(nay là Estonia)
Kết quả Decisive Swedish victory[1][2]
Tham chiến
Naval Ensign of Sweden.svg Đế quốc Thụy Điển Flag of Russia.svg Nước Nga Sa hoàng
Chỉ huy
Karl XII của Thụy Điển[3]
Carl Gustav Rehnskiöld[3]
Otto Vellingk[3]
Charles Eugène de Croÿ[3]
Avtonom Golovin[3]
Ivan Trubetskoy[3]
Adam Veyde[3]
Boris Petrovich Sheremetev[3]
Prince Alexander of Imereti (1674–1711)[3]
Lực lượng
Narva garrison:
1,800 men,
297 artillery pieces
Relief force:
10,500 men,
37 cannons[a]
37,000 men,
195 artillery pieces[b]
Tổn thất
667 killed,
1,247 wounded[c]
more than 9,000 killed,
20,000 captured[d]
.

Trận Narva là một trong những trận đánh lớn trong Đại chiến Bắc Âu. Trong trận đánh quân Thuỵ Điển đã có một thắng lợi quyết định trước quân Nga. Sau khi đánh bại Đan Mạch, vua Thuỵ Điển Karl XII quyết định mở một chiến dịch ở Estonia khi thấy Narva bị quân Nga vây hãm. Trước đó, Sa hoàng Pyotr phải trở về Nga nên đã để tướng Charles Eugene de Croy thay vị trí của ông trong một thời gian. Charles XII nghĩ ngay rằng quân Nga được chiến đấu với đội quân gấp trên 3 lần quân Thuỵ Điển sẽ sinh ra chủ quan. Với lợi thế này ông dự định sẽ tấn công nhanh cho quân Nga không kịp trở tay. Carolus quyết định thực hiện chiến thuật bằng cách cho quân Thuỵ Điển tấn công ngay khi đến Narva mà không chuẩn bị phòng thủ hay lập doanh trại trước. Quân Nga bị hoàn toàn bất ngờ, tan rã hàng ngũ trốn chạy. Khoảng một lượng lớn quân bị giết và bắt giữ một cách vô vọng. Croy nằm trong số bị bắt và quân Thuỵ Điển đã thắng. Nhưng đấy cũng là bước dẫn Karl đến chỗ diệt vong vì sau đó Karl càng kiêu ngạo hơn và xem thường Pyotr. Đó làm cho Karl tự chuốc lấy thất bại cho đến Cuộc vây hãm Fredriksten năm 1718.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kerala J. Snyder (2002), p.137
  2. ^ Magnus Stenbock Count and Spy
  3. ^ a ă â b c d đ e ê Jeremy Black (1996), p.111
  4. ^ Christer Kuvaja (2008), p.139
  5. ^ Lars-Eric Höglund, Åke Sallnäs, Alexander Vespalov (2011). Great Northern War 1700 - 1721, II.
  6. ^ Generalstaben (1918-1919). Karl XII på slagfältet.
  7. ^ Tacitus.nu, Örjan Martinsson. Russian force.
  8. ^ a ă â b Boris Grigorjev & Aleksandr Bespalov (2012). Kampen mot övermakten. Baltikums fall 1700-1710. pp. 38 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Boris” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Boris” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Boris” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  9. ^ a ă Ullgren (2008), p.57
  10. ^ Ericson (2003), p.257
  11. ^ Cathal J. Nolan (2008). Wars of the Age of Louis XIV, 1650-1715. pp. 313
  12. ^ Hughes, Lindsey. Russia in the Age of Peter the Great. — New Haven: Yale University Press, 1998. pp. 30.
  13. ^ Olle Larsson, Stormaktens sista krig (2009) Lund, Historiska Media. pp. 99

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]